Mỗi nhóm chất trong nguyên liệu tự nhiên có
tính chất lý hóa khác nhau. Do đó, người ta sử
dụng các dung môi có độ phân cực và một số
tính chất khác nhau để thu nhận được các
nhóm chất mong muốn. Các hợp chất không
phân cực hoặc phân cực yếu như lipid,
chlorophyll, sterol thường được phân tách
trong dung môi n-hexane. Nhóm hợp chất
polyphenol và các hợp chất flavonoid thường
được chiết trong dung môi ethyl acetate. Các
hợp chất tan trong nước như các protein hòa
tan và các hợp chất polysaccharide thường
được chiết trong dung môi butanol 7. Như
vậy, các hợp chất có khả năng ức chế -
glucosidase từ loài rong lục H. macroloba có
thể thuộc nhóm polyphenol, flavonoid
Yoshie và cộng sự (2002) đã chỉ ra
polyphenol và các hợp chất polyphenol chiếm
khoảng 3% trọng lượng khô của loài rong lục
H. macroloba thu tại vùng biển Nhật Bản
14. Một số hợp chất polyphenol có hàm
lượng đáng kể cũng đã được xác định có
trong loài rong này bao gồm: pigallocatechin,
acid caffeic, myricetin, morin, catechol và
hesperidin. Bên cạnh phân đoạn ethyl acetate,
phân đoạn n-hexane cũng cho hoạt tính ức
chế α-glucosidase khá mạnh với giá trị IC50 là
2,79 mg/ml. Như vậy, một số chất ức chế
enzyme này có trong loài rong lục H.
macroloba có thể thuộc nhóm có độ phân cực
thấp. Một số acid béo có khả năng kháng
bệnh đái tháo đường đã được tìm thấy trong
các loài rong biển khác nhau 15
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoạt tính ức chế α-Glucosidase của ba loài rong lục thu tại vùng biển Khánh Hòa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 305
HOẠT TÍNH ỨC CHẾ α-GLUCOSIDASE CỦA BA LOÀI RONG LỤC THU
TẠI VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA
Nguyễn Thế Hân1*, Nguyễn Thị Kim Hằng2,3, Vũ Lệ Quyên1, Ngô Thị Hoài Dương3
1Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang,
2Trường THPT Lê Hồng Phong, Huyện Di Linh, Lâm Đồng
3Viện Công nghệ Sinh học và Môi Trường, Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Một trong những cách hiệu quả để kiểm soát bệnh đái tháo đường type 2 là ức chế hoạt động của
α-glucosidase. Nghiên cứu này đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase của 3 loài rong lục
(Halimeda macroloba, Ulva reticulata và Ulva lactuca) thu mẫu tại vùng biển Khánh Hòa và kết
quả nghiên cứu cho thấy, hoạt tính ức chế α-glucosidase (giá trị IC50) của 3 loài H. macroloba, U.
reticulata và U. lactuca lần lượt là 3,98; 4,76 và 5,21 mg/ml. Ảnh hưởng của thời gian chiết và
nhiệt độ chiết đến hoạt tính ức chế α-glucosidase của loài rong lục H. macroloba được nghiên cứu
thích hợp tương ứng ở 60 phút chiết và 60C. Trong các phân đoạn dung môi chiết, phân đoạn
ethyl acetate có hoạt tính ức chế α-glucosidase cao nhất (giá trị IC50 là 2,45 mg/ml), tiếp theo là n-
hexane, butanol và nước với giá trị IC50 lần lượt là 2,79; 4,11 và 4,91 mg/ml. Kết quả nghiên cứu
định tính cho thấy phân đoạn ethyl acetate của loài rong lục H. macroloba có mặt của các nhóm
chất phenolic, flavonoid và terpenoid.
Từ khóa: Chất ức chế α-glucosidase; điều kiện chiết; Halimeda macroloba; Ulva reticulata; Ulva
lactuca
Ngày nhận bài: 01/3/2020; Ngày hoàn thiện: 09/7/2020; Ngày đăng: 10/7/2020
α-GLUCOSIDASE INHIBITORY ACTIVITY OF THREE GREEN SEAWEEDS
COLLECTED IN THE COAST OF KHANH HOA PROVINCE
Nguyen The Han1*, Nguyen Thi Kim Hang2,3, Vu Le Quyen1, Ngo Thi Hoai Duong3
1Faculty of Food Technology, Nha Trang University
2Le Hong Phong High School, Di Linh District, Lam Dong Province
3Insitute of Biotechnology and Environment, Nha Trang University
ABSTRACT
One of the effective therapeutic approaches in the management of type 2 diabetes is inhibition
of α-glucosidase. This study investigated α-glucosidase inhibitory activity of three green seaweeds
(Halimeda macroloba, Ulva reticulate and Ulva lactuca) and the results indicated that the
inhibitory effect (IC50 values) of H. macroloba, U. reticulata and U. lactuca and were 3.98, 4.76
and 5.21 mg/ml, respectively. The suitable extraction time and extraction temperature for
extracting high activity α-glucosidase inhibitors from green seaweed H. macroloba were found to
be 60 min and 60 C, respectively. Among the extract fractions, ethyl acetate showed the highest
α-glucosidase inhibitory activity (IC50 value of 2.45 mg/ml), followed by n-hexane, butanol and
water with IC50 values of 2.79, 4.11 and 4.91 mg/ml, respectively. Phytochemical screening
showed phenolic, flavonoids and terpenoid were present in the ethyl acetate fraction of green
seaweed H. macroloba.
Keywords: α-Glucosidase inhibitor; extraction condition; Halimeda macroloba; Ulva reticulata;
Ulva lactuca
Received: 01/3/2020; Revised: 09/7/2020; Published: 10/7/2020
* Corresponding author. Email: hannt@ntu.edu.vn
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 306
1. Giới thiệu
Đái tháo đường là một bệnh nội tiết do rối
loạn chuyển hóa carbohydrate khi hormone
insulin của tuyến tụy bị thiếu hoặc giảm tác
động trong cơ thể. Người mắc bệnh đái tháo
đường có hàm lượng đường trong máu cao
trong một thời gian dài. Một trong những
cách tiếp cận để giảm lượng đường huyết là
làm chậm sự hấp thu glucose thông qua ức
chế α-glucosidase 1. Một số thuốc đã được
sử dụng để điều trị bệnh đái tháo đường thông
qua cách tiếp cận này bao gồm: acarbose,
voglibose và miglitol. Tuy nhiên, sử dụng
những loại thuốc này gây ra sự lo ngại đối với
người bệnh bởi một số tác dụng phụ của
chúng 2. Để hạn chế tác dụng phụ trong việc
sử dụng thuốc và đa dạng hóa nguồn nguyên
liệu trong ngăn ngừa và điều trị bệnh đái tháo
đường, nhiều nguồn nguyên liệu tự nhiên đã
được nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính ức chế
α-glucosidase in vitro và kháng bệnh đái tháo
đường in vivo.
Rong biển đã được chứng minh là nguồn
nguyên liệu giàu các hợp chất có hoạt tính ức
chế α-glucosidase. Việt Nam có nguồn
nguyên liệu rong biển phong phú và đa dạng,
tuy nhiên việc sử dụng rong biển ở Việt Nam
chưa thực sự hiệu quả. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là chưa khai
thác được những thành phần có giá trị y dược
quý từ nguồn nguyên liệu rong biển. Một số
nghiên cứu đã bước đầu đánh giá hoạt tính
sinh học của rong biển thu mẫu tại vùng biển
Việt Nam như: hoạt tính chống oxy hóa, hoạt
tính kháng khuẩn, hoạt tính kháng tế bào ung
thư 3-5. Tuy nhiên, những nghiên cứu về
hoạt tính ức chế α-glucosidase của rong biển
thu hoạch tại Việt Nam, đặc biệt là rong lục
còn rất hạn chế 6.
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hoạt
tính ức chế α-glucosidase của 3 loài rong lục
(Halimeda macroloba, Ulva reticulata và
Ulva lactuca) thu hoạch tại vùng biển Khánh
Hòa. Định tính một số thành phần có hoạt tính
sinh học trong loài rong tiềm năng cũng được
nghiên cứu.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng 3 loài rong lục (H.
macroloba, U. reticulata và U. Lactuca) thu
mẫu tại các khu vực biển Bãi Tiên, Hòn Chồng
và Sông Lô (Nha Trang, Khánh Hòa) trong
khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 năm
2018. Các mẫu rong được định danh bằng
phương pháp hình thái học bởi ThS. Đỗ Anh
Duy (Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng).
α-Glucosidase thu từ nấm men Saccharomyces
cerevisiae (loại 1, ≥10 unit/mg) và cơ chất p-
nitrophenyl-α-D-glucopyranosid được cung
cấp bởi công ty Sigma-Aldrich (Hoa Kỳ). Các
dung môi: methanol, n-hexane, ethyl acetate,
butanol, DMSO được cung cấp bởi công ty
Merck (Đức).
2.2. Sàng lọc hoạt tính ức chế α-glucosidase
của các loài rong lục
Để sàng lọc hoạt tính ức chế α-glucosidase
của các loài rong lục, quá trình chiết được
thực hiện như sau: 10 g rong lục khô được
chiết trong methanol 100%, tỷ lệ nguyên
liệu/dung môi chiết (NL/DM) (w/v) là: 1/20,
nhiệt độ chiết là: 60°C trong 60 phút 7. Sau
quá trình chiết, hỗn hợp được lọc bằng giấy
lọc Whatman No.40. Dịch chiết được cô quay
chân không ở nhiệt độ 60C để loại hết dung
môi chiết và sử dụng để đánh giá hoạt tính ức
chế α-glucosidase.
2.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian
chiết đến hoạt tính ức chế α-glucosidase
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ chiết, các
điều kiện chiết khác được giữ cố định bao gồm:
dung môi chiết là: methanol 100%, tỷ lệ nguyên
liệu/dung môi chiết (NL/DM, w/v) là: 1/20 và
thời gian chiết là: 60 phút ở các nhiệt độ chiết
nghiên cứu là: 50; 60; 70; 80; 90 và 100°C.
Để nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết,
các điều kiện chiết khác được giữ cố định bao
gồm: dung môi chiết là: methanol 100%, tỷ lệ
nguyên liệu/dung môi chiết (NL/DM, w/v) là:
1/20 và nhiệt độ chiết được lựa chọn từ thí
nghiệm trước ở các thời gian chiết nghiên cứu
là: 15; 30; 45; 60; 75 và 90 phút.
Trong tất cả các thí nghiệm về điều kiện chiết,
5 g rong lục H. macroloba được chiết với
methanol 100% ở các điều kiện chiết thí
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 307
nghiệm. Sau quá trình chiết, hỗn hợp được lọc
bằng giấy lọc Whatman No.40 để thu dịch
chiết. Dịch chiết được cô quay chân không ở
nhiệt độ ≤60°C để loại hết dung môi chiết và
sử dụng để đánh giá hoạt tính ức chế α-
glucosidase.
2.4. Tách phân đoạn
Rong khô (50 g) được chiết trong điều kiện
chiết thích hợp đã được xác định. Tiếp theo,
tiến hành loại dung môi của dịch chiết bằng
thiết bị cô quay chân không. Dịch chiết sau
khi loại hết dung môi methanol được tách
phân đoạn sử dụng các dung môi có độ phân
cực tăng dần bao gồm: n-hexane, ethyl
acetate, butanol và nước. Dịch chiết sau khi
đuổi dung môi được hòa vào 200 ml nước cất.
Hỗn hợp sau đó đổ vào bình tách lỏng - lỏng
(separatory funnel). Tiếp theo, một lượng 200
ml dung môi n-hexane được cho vào bình
tách, lắc mạnh hỗn hợp dung môi trong thời
gian 1 phút và để đứng yên trên giá đỡ trong
khoảng thời gian 30 phút. Sau đó, thu phân
đoạn dịch chiết n-hexane bằng cách mở van
đáy của thiết bị tách lỏng - lỏng. Tiếp tục cho
một lượng thể tích 200 ml vào bình tách lỏng
- lỏng và lặp lại các thao tác như trên. Quá
trình thu phân đoạn dung môi n-hexane được
tiến hành đến khi quan sát phân đoạn dung
môi này không màu. Phân đoạn dịch chiết n-
hexane thu được bằng cách trộn lại sau các
lần tách phân đoạn. Quá trình tách phân đoạn
đối với dung môi ethyl acetate và butanol được
tiến hành tương tự với n-hexane. Cuối cùng thu
được các phân đoạn dung môi chiết: n-hexane,
ethyl acetate, butanol và nước. Các phân đoạn
dịch chiết được đuổi hết dung môi bằng thiết bị
cô quay chân không. Phân đoạn dung môi thu
được sau khi loại hết dung môi được xác định
khả năng ức chế α-glucosidase.
2.5. Định tính một số thành phần trong dịch chiết
Dịch chiết và phân đoạn ethyl acetate của
rong H. Macrobola được định tính một số
nhóm chất bao gồm: phenolic, flavonoid,
terpenoid, carotenoid, saponin và tannin.
Trong mỗi thí nghiệm, cho 0,5 ml dịch
chiết/phân đoạn dịch chiết vào ống nghiệm
chứa 1,5 ml thuốc thử. Tiếp theo, quan sát
màu của dung dịch để nhận biết các nhóm
chất 8.
2.6. Xác định hoạt tính ức chế enzyme
Hoạt tính ức chế α-glucosidase được xác định
theo phương pháp của Kim và cộng sự (2008)
7. Cho 0,1 ml mẫu ở các nồng độ khác nhau
từ 1 – 10 mg/ml (hòa tan trong dung môi
dimethyl sulfoside – DMSO) vào hỗn hợp
gồm 0,1 ml dung dịch enzyme (0,25 U/ml) và
2,2 ml đệm phosphate (0,01 M; pH 7,0). Hỗn
hợp được lắc đều và ủ ở 37°C trong 5 phút.
Tiếp theo bổ sung 0,1 ml dung dịch cơ chất
chất p-nitrophenyl-α-D-glucopyranosid (3
mM) vào hỗn hợp để thực hiện quá trình phản
ứng. Hỗn hợp được giữ ở nhiệt độ 37°C trong
30 phút. Mẫu trắng bao gồm tất cả các thành
phần giống như mẫu thí nghiệm ngoại trừ 0,1
ml dung dịch enzyme được thay bằng 0,1 ml
dung môi DMSO. Để kết thúc phản ứng, cho
1,5 ml dung dịch Na2CO3 (0,1 M) vào hỗn
hợp và đo độ hấp thụ quang học ở bước sóng
405 nm. Hoạt tính ức chế α-glucosidase được
tính theo công thức:
Hoạt tính ức chế α-glucosidase (%) = [(A0 –
A1)/A0]×100; trong đó:
A1: Độ hấp thụ quang của mẫu thí nghiệm
A0: Độ hấp thụ quang của mẫu trắng
Giá trị IC50 (mg/ml) là nồng độ dịch chiết
hoặc phân đoạn dịch chiết cho hoạt tính ức
chế enzyme 50% (giá trị IC50 càng thấp, hoạt
tính ức chế enzyme càng cao). Giá trị này
được tính dựa vào sự tương quan giữa nồng
độ dịch chiết hoặc phân đoạn dịch chiết với
hoạt tính ức chế α-glucosidase (%).
2.7. Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các thí nghiệm được thực hiện 2 lần
độc lập. Kết quả của thí nghiệm được biểu
diễn bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn.
Giá trị trung bình được phân tích ANOVA
theo phép thử Ducan (p<0,05 chỉ ra sự khác
nhau có ý nghĩa thống kê sử dụng phần mềm
SPSS phiên bản 16,0).
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Sàng lọc hoạt tính ức chế -glucosidase
của các loài rong lục
Hoạt tính ức chế -glucosidase của 3 loài
rong lục (H. macroloba, U. reticulata và U.
lactuca) thu mẫu tại vùng biển Khánh Hòa
được thể hiện ở hình 1.
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 308
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết của
rong lục H. macroloba có giá trị IC50 thấp
nhất trong các loài rong nghiên cứu (3,98
mg/ml). Giá trị này thấp hơn có ý nghĩa thống
kê (p<0,05) so với loài U. reticulata (4,76
mg/ml) và U. lactuca (5,22 mg/ml). Một số
nghiên cứu trên các đối tượng rong tương tự ở
các vùng biển khác nhau trên thế giới đã được
thực hiện. Theo kết quả nghiên cứu của
Kumar và cộng sự (2012), giá trị IC50 của
dịch chiết từ loài rong lục U. lactuca thu
hoạch tại vùng biển Ấn Độ là 0,05 mg/ml; giá
trị này thấp hơn rất nhiều so với loài rong này
thu mẫu ở vùng biển Khánh Hòa (5,22
mg/ml) 9. Theo Chin và cộng sự (2014), giá
trị IC50 của loài rong lục H. macroloba ở vùng
biển Malaysia là 6,39 mg/ml; giá trị này cao
hơn so với loài rong lục H. macroloba ở vùng
biển Khánh Hòa trong nghiên cứu này (3,98
mg/ml) 10. Như vậy, hoạt tính ức chế α-
glucosidase của các loài rong lục sử dụng
trong nghiên cứu thu mẫu tại Khánh Hòa khác
rất nhiều so với các loài rong này thu hoạch
tại các vùng biển khác trên thế giới. Sự khác
nhau này có thể do thành phần các chất thứ
cấp có trong các loài rong biển. Ngoài ra,
thành phần các chất thứ cấp của các loài rong
nói chung còn phụ thuộc vào các yếu tố sau
thu hoạch (mùa vụ thu hoạch, phương pháp
thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch, độ
trưởng thành của rong thu hoạch) và các yếu
tố công nghệ (phương pháp chiết tách, điều
kiện chiết tách).
Như vậy, rong H. macroloba có khả năng ức
chế -glucosidase cao nhất trong các loài
rong nghiên cứu và loài rong này được lựa
chọn cho những nghiên cứu tiếp theo: xác
định điều kiện chiết thích hợp và đánh giá
hoạt tính của các phân đoạn dung môi chiết từ
loài rong này.
3.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến hoạt
tính ức chế -glucosidase
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ
chiết đến hoạt tính ức chế -glucosidase của
dịch chiết từ loài rong lục H. macroloba được
trình bày ở hình 2.
Hình 1. Hoạt tính ức chế -glucosidase (giá trị IC50) của ba loài rong U. reticulata, H. macroloba và U.
lactuca. Các chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa các mẫu rong lục
Kết quả thể hiện rõ xu hướng nhiệt độ chiết
ảnh hưởng đáng kể đến hoạt tính ức chế α-
glucosidase của loài rong lục H. macroloba.
Cụ thể, dịch chiết thu ở nhiệt độ 60 và 70C
có hoạt tính ức chế enzyme cao nhất và không
có sự khác biệt giữa hai nhiệt độ chiết này
(p0,05). Giá trị IC50 tăng dần theo chiều tăng
của nhiệt độ từ 60 đến 100C; dịch chiết thu ở
nhiệt độ chiết 50; 60; 70; 80; 90 và 100C có
hoạt tính ức chế α-glucosidase (giá trị IC50)
lần lượt là 4,16; 2,82; 3,15; 5,04; 5,58 và 6,71
mg/ml. Dựa vào kết quả nghiên cứu này, nhiệt
độ chiết 60C được lựa chọn cho những nghiên
cứu tiếp theo.
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 309
Như vậy, hoạt tính ức chế α-glucosidase của
dịch chiết từ loài rong lục H. macroloba chỉ
tăng trong khoảng nhiệt độ từ 50 đến 70C.
Khi tiếp tục tăng nhiệt độ chiết lên đến 100C
thì hoạt tính ức chế enzyme giảm xuống. Kết
quả nghiên cứu này có thể được giải thích
như sau: Theo lý thuyết của quá trình trích ly,
khi tăng nhiệt độ trong một khoảng nhất định
sẽ làm tăng hiệu suất của các hợp chất có
trong nguyên liệu. Hệ số khuếch tán và khả
năng hòa tan của chất tan sẽ tăng khi nhiệt độ
chiết tăng 11. Ngoài ra, khi nhiệt độ tăng sẽ
làm phá vỡ lớp màng cellulose, tạo điều kiện
cho các chất tách chiết ra khỏi nguyên liệu.
Một yếu tố khác, nhiệt độ tăng thì độ nhớt của
dung môi giảm, do đó sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chiết xuất, tốc độ phản ứng
giữa các thành phần hóa học trong nguyên
liệu với dung môi tăng làm tăng tốc độ
khuếch tán các chất tan trong tế bào nguyên
liệu ra môi trường ngoài, tốc độ hòa tan các
chất sẽ tăng. Như vậy, khi tăng nhiệt độ chiết
trong khoảng từ 50 đến 70C làm tăng khả
năng chiết các chất có hoạt tính ức chế α-
glucosidase. Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng nhiệt
độ chiết, hoạt tính ức chế α-glucosidase của
dịch chiết từ loài rong lục giảm dần. Kết quả
này là do: khi tiếp tục tăng nhiệt độ chiết lên
trên 70C xuất hiện sự cân bằng giữa nồng độ
chất tan bên trong với bên ngoài tế bào, dẫn
đến hiệu suất chiết các chất hòa tan trong
dung môi không tiếp tục tăng theo chiều tăng
của nhiệt độ. Đồng thời, khi chiết ở nhiệt độ
cao, một số hợp chất sinh học có thể bị phá
hủy hoặc thay đổi tính chất, dẫn đến giảm
hoạt tính sinh học do tính không bền nhiệt của
chúng 12.
3.3. Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hoạt
tính ức chế -glucosidase
Bên cạnh nhiệt độ chiết, thời gian cũng là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chiết các
hợp chất sinh học. Do vậy, trong nghiên cứu
này ảnh hưởng của thời gian chiết (15 - 90 phút)
đến hoạt tính ức chế -glucosidase của dịch
chiết từ loài rong lục H. macroloba được đánh
giá và thể hiện ở hình 3. Giá trị IC50 của dịch
chiết thu nhận sau các thời gian chiết 15, 30,
45, 60, 75 và 90 phút lần lượt là 9,41; 6,77;
5,21; 4,20; 2,99 và 3,01 mg/ml. Kết quả này
thể hiện rõ xu hướng ảnh hưởng của thời gian
chiết đến hoạt tính ức chế enzyme của dịch
chiết; giá trị IC50 giảm dần theo chiều tăng của
thời gian chiết trong khoảng từ 15 đến 75 phút,
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p0,05) giữa thời gian chiết 75 và 90 phút.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, 75 phút
được xác định là thời gian chiết thích hợp để
thu nhận dịch chiết có hoạt tính ức chế α-
glucosidase từ loài rong lục H. macroloba.
Hình 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến hoạt tính ức chế α-glucosidase (giá trị IC50) của dịch chiết từ
loài rong lục H. macroloba. Các chữ cái trên cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa các
nhiệt độ chiết
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 310
Bản chất của quá trình trích ly là sự khuếch tán, thẩm thấu và thẩm tích 13. Do đó, khi thời gian
chiết tăng lên thì hàm lượng các chất trong nguyên liệu khuếch tán ra càng nhiều; thời gian đầu
của quá trình chiết, sự chênh lệch lớn giữa nồng độ các chất bên trong và bên ngoài tế bào lớn
nên quá trình khuếch tán diễn ra nhanh. Do đó, khi tăng thời gian chiết thì hàm lượng các chất tan
trong dung môi được tách ra càng nhiều. Tuy nhiên, đến một thời điểm chiết nhất định, quá trình
khuếch tán đạt trạng thái cân bằng. Khi đó, nếu tiếp tục tăng thời gian chiết, hiệu quả chiết các
chất có hoạt tính sinh học sẽ không tiếp tục tăng. Ngoài ra, khi kéo dài thời gian chiết, trong điều
kiện nhiệt độ cao và có mặt của oxy không khí, một số hợp chất sinh học không bền nhiệt
và/hoặc bị oxy hóa có thể bị phá hủy hoặc thay đổi cấu trúc.
Hình 3. Ảnh hưởng của thời gian chiết đến hoạt tính ức chế -glucosidase (giá trị IC50) của dịch chiết từ
loài rong lục H. macroloba. Các chữ cái trên cột chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa
các thời gian chiết
3.4. Hoạt tính ức chế -glucosidase của các
phân đoạn dung môi chiết
Các hợp chất có hoạt tính sinh học có khả
năng hòa tan và độ phân cực khác nhau. Dựa
vào tính chất này, các dung môi có độ phân
cực khác nhau thường được sử dụng để tách
sơ bộ các nhóm chất trong dịch chiết thô.
Trong nghiên cứu này, loài rong lục H.
macroloba được chiết với methanol 100% ở
điều kiện chiết thích hợp đã được xác định.
Dịch chiết thô sau đó được tách phân đoạn
theo phương pháp chiết lỏng - lỏng lần lượt
qua các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-
hexane, ethyl acetate, butanol và nước.
Hoạt tính ức chế α-glucosidase của các phân
đoạn dịch chiết được thể hiện ở hình 4. Phân
đoạn dung môi chiết ethyl acetate có hoạt tính
ức chế -glucosidase cao nhất (p0,05) (giá
trị IC50 là 2,45 mg/ml), tiếp theo là n-hexane
(giá trị IC50 là 2,79 mg/ml), butanol (giá trị
IC50 là 4,11 mg/ml) và nước (giá trị IC50 là
4,91 mg/ml).
Mỗi nhóm chất trong nguyên liệu tự nhiên có
tính chất lý hóa khác nhau. Do đó, người ta sử
dụng các dung môi có độ phân cực và một số
tính chất khác nhau để thu nhận được các
nhóm chất mong muốn. Các hợp chất không
phân cực hoặc phân cực yếu như lipid,
chlorophyll, sterol thường được phân tách
trong dung môi n-hexane. Nhóm hợp chất
polyphenol và các hợp chất flavonoid thường
được chiết trong dung môi ethyl acetate. Các
hợp chất tan trong nước như các protein hòa
tan và các hợp chất polysaccharide thường
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 311
được chiết trong dung môi butanol 7. Như
vậy, các hợp chất có khả năng ức chế -
glucosidase từ loài rong lục H. macroloba có
thể thuộc nhóm polyphenol, flavonoid
Yoshie và cộng sự (2002) đã chỉ ra
polyphenol và các hợp chất polyphenol chiếm
khoảng 3% trọng lượng khô của loài rong lục
H. macroloba thu tại vùng biển Nhật Bản
14. Một số hợp chất polyphenol có hàm
lượng đáng kể cũng đã được xác định có
trong loài rong này bao gồm: pigallocatechin,
acid caffeic, myricetin, morin, catechol và
hesperidin. Bên cạnh phân đoạn ethyl acetate,
phân đoạn n-hexane cũng cho hoạt tính ức
chế α-glucosidase khá mạnh với giá trị IC50 là
2,79 mg/ml. Như vậy, một số chất ức chế
enzyme này có trong loài rong lục H.
macroloba có thể thuộc nhóm có độ phân cực
thấp. Một số acid béo có khả năng kháng
bệnh đái tháo đường đã được tìm thấy trong
các loài rong biển khác nhau 15.
3.5. Nhận biết một số nhóm chất có trong
dịch chiết từ loài rong lục H. macroloba
Kết quả định tính một số thành phần phổ biến
(phenolic, flavonoid, carotenoid, terpenoid,
tannin, saponin) có trong dịch chiết và phân
đoạn dịch chiết từ loài rong lục H. macroloba
được thể hiện ở bảng 1. Dịch chiết loài rong
lục H. macroloba có chứa alkaloid, phenolic,
flavonoid, carotenoid, terpenoid, saponin và
không chứa tannin. Trong khi đó, phân đoạn
dịch chiết ethyl acetate chỉ có sự xuất hiện
của ba nhóm chất: phenolic, flavonoid,
terpenoid. Kết quả nghiên cứu này phù hợp
với một số nghiên cứu trước đây trên các loài
rong lục. Trong thành phần dịch chiết của loài
rong lục U. lactuca thu hoạch tại vùng biển
Ai Cập có chứa alkaloid, phenolic, flavonoid,
carotenoid, terpenoid, saponin nhưng không
chứa tannin 16. Thành phần các nhóm chất
có trong rong biển phụ thuộc vào điều kiện
tách chiết và tác động bởi các yếu tố môi
trường sống của các loài rong 17. Sự xuất
hiện của các nhóm chất phenolic, flavonoid,
terpenoid trong phân đoạn dịch chiết ethyl
acetate phù hợp với giải thích về quá trình
tách chiết các phân đoạn đã được đề cập ở các
phần trên. Những nhóm chất này có thể là
thành phần chính đóng góp vào hoạt tính ức
chế α-glucosidase của phân đoạn này.
Hình 4. Hoạt tính ức chế -glucosidase (giá trị
IC50) của các phân đoạn dịch chiết từ loài rong
lục H. macroloba. Các chữ cái khác nhau trên cột
chỉ ra sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
giữa các phân đoạn dung môi chiết
4. Kết luận
Dịch chiết của ba loài rong lục thu hoạch tại
vùng biển Khánh Hòa (H. macroloba, U.
reticulata và U. lactuca) đều có hoạt tính ức
chế α-glucosidase, trong đó loài H.
macroloba có hoạt tính ức chế cao nhất (giá
trị IC50 là 3,98 mg/ml). Nhiệt độ và thời gian
chiết thích hợp để thu nhận dịch chiết có hoạt
tính ức chế α-glucosidase cao từ loài rong lục
H. macroloba là 60C và 75 phút. Phân đoạn
dịch chiết ethyl acetate có hoạt tính ức chế α-
glucosidase cao nhất trong các phân đoạn
dung môi chiết (giá trị IC50 là 2,45 mg/ml).
Phân đoạn dịch chiết này có mặt của các
nhóm chất: phenolic, flavonoid và terpenoid.
Bảng 1. Định tính một số nhóm chất có trong dịch chiết và phân đoạn dịch chiết của loài rong lục H. macroloba
Nhóm chất Dịch chiết methanol Phân đoạn dịch chiết ethyl acetate
Alkaloid + -
Phenolic + +
Flavonoid + +
Terpenoid + +
Carotenoid + -
Tannin - -
Saponin + -
Dấu “-”: không xuất hiện, dấu “+”: có xuất hiện
Nguyễn Thế Hân và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 305 - 312
Email: jst@tnu.edu.vn 312
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát
triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 106-NN.05-
2016.73.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
1. S. R. Joshi, E. Standl, N. Tong, P. Shah, S.
Kalra, and R. Rathod, “Therapeutic potential
of α-glucosidase inhibitors in type 2 diabetes
mellitus: an evidence-based review,” Expert
Opinion on Pharmacotherapy, vol. 16, no. 13,
pp. 1959-1981, 2015.
2. H. Sugihara et al., “Comparison of three α-
glucosidase inhibitors for glycemic control
and bodyweight reduction in Japanese
patients with obese type 2 diabetes,” Journal
of Diabetes investigation, vol. 5, no. 2, pp.
206-212, 2014.
3. D. X. Cuong, V. N. Boi, and T. T. T. Van,
“Effect of storage time on phlorotannin
content and antioxidant activity of six
Sargassum species from Nhatrang Bay,
Vietnam,” Journal of Applied Phycology, vol.
28, no. 1, pp. 567-572, 2016.
4. T. V. A. Tran, V. M. Nguyen, D. H. Tran, L.
T. T. Nguyen, T. H. T. Do, T. L. T. Nguyen,
Q. N. Tran, A. D. Do, S. M. Kim, and T. H.
Nguyen, “Isolation and evaluation of
antimicrobial and anticancer activities of
brominated sesquiterpenes from Vietnamese
red alga Laurencia intermedia Yamada,”
Bioscience Research, vol. 17, no. 1, pp. 459-
466, 2020.
5. T. T. V. Tran, H. B. Truong, N. H. V. Tran, T.
M. T. Quach, T. N. Nguyen, M. L. Bui, Y.
Yoshiaki, and T. T. T. Thanh, “Structure,
conformation in aqueous solution and
antimicrobial activity of ulvan extracted from
green seaweed Ulva reticulata,” Natural
Product Research, vol. 32, no. 19, pp. 2291-
2296, 2018.
6. T. H. Nguyen, T. K. N. Nguyen, and V. M.
Nguyen, “Evaluation of α-glucosidase
inhibitory activity of some selected seaweed
extracts,” Journal of Fisheries Science and
Technology, vol. 1, pp. 24-33, 2018.
7. K. Y. Kim, K. A. Nam, H. Kurihara, and S.
M. Kim, “Potent α-glucosidase inhibitors
purified from the red alga Grateloupia
elliptica,” Phytochemistry, vol. 69, no. 16, pp.
2820-2825, 2008.
8. M. Yadav, S. Chatterji, S. K. Gupta, and G.
Watal, “Preliminary phytochemical screening
of six medicinal plants used in traditional
medicine,” International Journal of
Pharmacy and Pharmaceutical Sciences,
vol. 6, no. 5, pp. 539-542, 2014.
9. S. Kumar, S. Sudha, M. Diagnosis, and D.
Laboratory, “Evaluation of α-glucosidase and
α-amylase inhibitory properties of selectef
seaweed from Gulf of Mannar,” International
Research Journal of Pharmacy, vol. 3, no. 8,
pp. 128-130, 2012.
10. Y. X. Chin, P. E. Lim, C. A. Maggs, S. M.
Phang, Y. Sharifuddin, and B. D. Green,
“Anti-diabetic potential of selected Malaysian
seaweeds,” Journal of Applied Phycology,
vol. 27, no. 5, pp. 2137-2148, 2014.
11. G. Spigno, L. Tramelli, and D.M. Faveri,
“Effects of extraction time, temperature and
solvent on concentration and antioxidant
activity of phenolics,” Journal of Food
Engineering, vol. 8, no. 1, pp. 200-208, 2007.
12. K. Chew et al., “Effect of ethanol
concentration, extraction time and extraction
temperature on the recovery of phenolic
compounds and antioxidant capacity of
Centella asiatica extracts,” International
Food Research Journal, vol. 18, no. 2, pp.
571-578, 2011.
13. N. J. Simpson, “Solid-phase extraction:
principles, techniques, and applications,”
CRC Press Book, 2000.
14. Y. Yoshie, W. Wang, Y. Hsieh, and T.
Suzuki, “Compositional difference of
phenolic compounds between two seaweeds,
Halimeda spp,” Journal of Tokyo University
of Fisheries, vol. 88, pp. 21-24, 2002.
15. H. Pereira et al., “Polyunsaturated fatty acids
of marine macroalgae: Potential for
nutritional and pharmaceutical applications,”
Marine Drugs, vol. 10, pp. 1920-1935, 2012.
16. D. F. A. Elmegeed, D. A. Ghareeb, M.
Elsayed, and M. El-Saadani, “Phytochemical
constituents and bioscreening activities of
green algae Ulva lactuca,” International
Journal of Agricultural Policy and Research,
vol. 2, no. 11, pp. 373-378, 2014.
17. M. Janarthanan, and M. S. Kumar,
“Qualitative and quantitative analysis of
phytochemical studies on selected seaweeds
Acanthopora spicifera and Sargassum
wightii,” International Journal of
Engineering Research and Development, vol.
7, no. 3, pp. 11-15, 2013.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hoat_tinh_uc_che_glucosidase_cua_ba_loai_rong_luc_thu_tai_vu.pdf