Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm: Thực trạng và kiến nghị

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc tế Mặc dù Việt Nam đã có những bước tiến về hoàn thiện cơ sở pháp lý của quốc gia cho hoạt động hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm, hệ thống quy phạm pháp luật về dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự vẫn còn một số điểm chưa thống nhất. Ví dụ: quy định về căn cứ từ chối bắt buộc và tuy nghi đối với dẫn độ trong Bộ luật TTHS và Luật Tương trợ tư pháp; quy định về hành vi bị cấm trong các Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống mua bán người và Luật Phòng, chống rửa tiền với hành vi khách quan của tội phạm trong BLHS. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần tiếp tục rà soát để khắc phục những điểm chưa đồng bộ giữa các văn bản để tạo ra một cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm. Ngoài ra, đối với nội dung hợp tác về tội phạm hóa, Việt Nam vẫn chưa nội luật hóa chính xác và đầy đủ các hành vi nguy hiểm mà một số điều ước quốc tế yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hóa. Ví dụ, hành vi tham gia tổ chức tội phạm trong Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, hành vi tra tấn về tinh thần trong Công ước chống tra tấn năm 1984 hoặc một số hành vi khủng bố trong các Công ước về chống khủng bố. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục rà soát và nội luật hóa đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia về vấn đề tội phạm hóa

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 19/01/2022 | Lượt xem: 129 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm: Thực trạng và kiến nghị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÒNG NGỪA VÀ ĐẤU TRANH VỚI TỘI PHẠM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm ở các khía cạnh: (i) mục đích của sự hợp tác, (ii) cơ sở pháp lý của sự hợp tác, (iii) nội dung hợp tác. Đồng thời, bài viết đưa ra một số kiến nghị về việc tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm để ngăn ngừa và trấn áp tội phạm hiệu quả hơn. Nguyễn Thị Phương Hoa* * PGS. TS. Phó Trưởng Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Abstract This article provides analysis of the international cooperation in prevention and fights against the criminals in the following aspects: (i) purpose of cooperation, (ii) legal ground of cooperation, (iii) contents of cooperation. Also, the article provides recommendations on the continuation of international cooperation in prevention and fights to suppress the criminals more effectively. Thông tin bài viết: Từ khóa: Tội phạm, hợp tác quốc tế, dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự Lịch sử bài viết: Nhận bài : 19/08/2019 Biên tập : 24/08/2019 Duyệt bài : 28/08/2019 Article Infomation: Keywords: criminals; international cooperation; extradition of criminal; mutual legal assistance in criminal Article History: Received : 19 Aug. 2019 Edited : 24 Aug. 2019 Approved : 28 Aug. 2019 1. Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm Mục đích của sự hợp tác Mục đích của sự hợp tác chi phối rất sâu sắc nội dung và hoạt động hợp tác cụ thể, vì thế xác định đúng mục đích hợp tác quốc tế trong cuộc chiến với tội phạm rất quan trọng. Một mục đích rất rõ ràng và được chấp nhận rộng rãi trong hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm là trấn áp, xử lý tội phạm. Nhiều điều ước quốc tế về đấu tranh với tội phạm đã nêu rõ vấn đề này trong lời mở đầu hoặc điều khoản quy định về mục đích của Điều ước. Với mục đích như vậy, nội dung của sự hợp tác thường bao gồm các vấn đề: xác định các hành vi mà các quốc gia thành viên cần phải coi là tội phạm (tội phạm hóa), xác lập và thực hiện quyền tài phán, dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự và tịch thu tài sản do phạm tội mà có. Mục đích thứ hai trong hợp tác quốc tế về đấu tranh với tội phạm cũng rất quan trọng là phòng ngừa tội phạm. Ngăn ngừa trước để tội phạm không xảy ra là sự kiểm NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 16 Số 20(396) T10/2019 soát chủ động đối với tội phạm. Vì vậy, phòng ngừa tội phạm cũng là một mục đích quan trọng của sự hợp tác. Để đạt đến mục đích này, nội dung hợp tác thường bao gồm các vấn đề: trao đổi thông tin, nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật, áp dụng một số biện pháp phòng ngừa. Trong thời gian qua, Việt Nam đã hợp tác với các nước về cả hai mục đích đã nêu. Điều này có thể thấy rõ trong các khía cạnh sau đây. Thứ nhất, đối với hợp tác đa phương, nội dung các điều ước quốc tế đấu tranh với tội phạm thường được thiết kế để đạt đến cả hai mục đích trên. Khi gia nhập các điều ước này, Việt Nam đều tham gia cả các nội dung liên quan đến xử lý tội phạm và phòng ngừa1. Thứ hai, đối với hợp tác song phương, Việt Nam đã ký kết với một số nước các Hiệp định song phương về phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: Hiệp định giữa Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán năm 2009. Như vậy, Việt Nam đã xác định đúng đắn mục đích của hợp tác quốc tế trong cuộc đấu tranh với tội phạm. Cơ sở pháp lý của sự hợp tác Đánh giá đúng vai trò quan trọng của cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc tế trong cuộc đấu tranh với tội phạm, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã khẳng định: “chủ động hội nhập quốc tế”, “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng 1 Ví dụ, xem Các công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy năm 1961, 1971 và 1988; Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn năm 1984; Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003. 2 Xem Tiểu Mục 2.2 Phần I, Mục và 6 Phần II Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. 3 Ở những chỗ cần thiết, tác giả sẽ đề cập đến các điều ước không chuyên biệt đấu tranh với tội phạm nhưng có nhiều nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”, “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế”.2 Trên tinh thần của Nghị quyết, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế và hoàn thiện khung pháp lý quốc gia để thực hiện hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm. Ký kết các điều ước quốc tế Các quy phạm pháp luật quốc tế về hợp tác trong phòng ngừa và trấn áp tội phạm không chỉ hiện diện trong các điều ước chuyên biệt đấu tranh với tội phạm như: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 Quy phạm pháp luật quốc tế đấu tranh với tội phạm còn hiện diện trong các điều ước quốc tế điều chỉnh các vấn đề khác nhưng chứa đựng một số quy định về các hành vi bị cấm và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong phòng, chống tội phạm. Ví dụ, Điều 27 Điều ước quốc tế về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), Điều 3 Công ước Geneva về Cải thiện điều kiện của người bị thương, bị bệnh, bị tai nạn trong lực lượng hải quân năm 1949 (Geneva Convention II). Từ những phân tích nêu trên, có thể nói rằng, Việt Nam đã chủ động tham gia và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế chuyên biệt đấu tranh với tội phạm cũng như những điều ước về các vấn đề chung nhưng trong đó có chứa đựng quy định về đấu tranh với tội phạm. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung vào các điều ước quốc tế chuyên biệt đấu tranh với tội phạm3. Những điều ước này có thể phân loại thành ba nhóm sau: các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu, các điều ước quốc tế NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 17Số 20(396) T10/2019 đa phương khu vực và các điều ước quốc tế song phương4. Về các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu đấu tranh với tội phạm, Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quan trọng gồm: - Các điều ước đấu tranh với tội phạm diệt chủng, tội phạm liên quan đến nô lệ, tội phạm chiến tranh, tội phạm liên quan đến bắt giữ con tin, có thể kể đến là: Điều ước về nô lệ năm 1926, Điều ước chống diệt chủng năm 1948, Các điều ước Geneva năm 1949 về hành vi bị cấm trong chiến tranh (liên quan đến tội phạm chiến tranh) và các Nghị định thư bổ sung, Điều ước quốc tế chống bắt giữ con tin năm 1979; - Điều ước về phòng ngừa và chống các tội phạm chống lại những người được bảo vệ quốc tế, bao gồm những người đại diện ngoại giao năm 1973; - Điều ước đấu tranh với tra tấn và các hành vi đối xử vô nhân đạo: Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hành vi đối xử vô nhân đạo năm 1984; - Các điều ước đấu tranh với tội phạm khủng bố: trong lĩnh vực này hiện có 19 văn kiện bao gồm điều ước và các nghị định thư bổ sung (trong đó 3 văn kiện gồm 1 điều ước và 2 nghị định thư chưa phát sinh hiệu lực), Việt Nam đã tham gia 12 điều ước trong số 16 điều ước đã có hiệu lực;5 - Các điều ước đấu tranh với tội phạm về ma túy; - Điều ước đấu tranh với tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000; - Điều ước quốc tế về đấu tranh với tội phạm tham nhũng: Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003. Về các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu, Việt Nam là thành viên của các 4 Thuật ngữ điều ước quốc tế được định nghĩa tại khoản 1 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016. 5 Xem [truy cập 14/6/2019] điều ước quốc tế của ASEAN, bao gồm một số điều ước quan trọng như: - Điều ước quốc tế của ASEAN về chống khủng bố năm 2007; - Điều ước quốc tế của ASEAN về tương trợ tư pháp hình sự năm 2004; - Điều ước của ASEAN về chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2015. Về các điều ước quốc tế song phương, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ, bao gồm cả các đối tác truyền thống như: Nga, Belarusia, Ucraina, Trung Hoa, Cu-ba, Mông Cổ, Ba Lan, Hungari, Lào, Campuchia, Indonesia, Philippines, Triều Tiên... và các đối tác mới trong và ngoài khu vực như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ban Nha, Úc, Angeria. Hoàn thiện khung pháp lý quốc gia Bên cạnh việc ký kết các điều ước quốc tế, Việt Nam cũng thực hiện các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, cụ thể: Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung và hoàn thiện nhiều quy định làm kim chỉ nam cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm. Ví dụ, khoản 2 Điều 17 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.” Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định các quyền tư pháp hình sự. Thứ hai, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định tương đối đầy đủ về các hình thức và nội dung hợp tác trong đấu tranh với tội phạm gồm: dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 18 Số 20(396) T10/2019 Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật TTHS) và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm. BLHS năm 2015 đã tội phạm hóa nhiều loại hành vi nguy hiểm mà các điều ước quốc tế yêu cầu quốc gia thành viên phải xác lập là tội phạm làm tiền đề cho hoạt động hợp tác. Bộ luật TTHS năm 2015 quy định quyền, nghĩa vụ; trình tự, thủ tục và thẩm quyền của các cơ quan và tổ chức, cá nhân trong hoạt động hợp tác đấu tranh với tội phạm. Nội dung hợp tác Như trên đã nêu, nội dung hợp tác phản ánh mục đích của sự hợp tác và ngược lại, mục đích của sự hợp tác chi phối sâu sắc nội dung hợp tác. Khảo sát các văn bản pháp luật liên quan đến hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm cho thấy, Việt Nam đã hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực cụ thể sau: - Hợp tác về tội phạm hóa: Tiền đề đầu tiên để các quốc gia phối hợp với nhau trong cuộc đấu tranh với tội phạm là hoạt động tội phạm hóa, có nghĩa là: các quốc gia thành viên phải cùng thống nhất xác định những hành vi nguy hiểm nhất định là tội phạm. Một quốc gia (quốc gia được yêu cầu) không thể dẫn độ người phạm tội hoặc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự cho quốc gia khác (quốc gia yêu cầu) khi hành vi liên quan không được nước sở tại coi là tội phạm. Đây chính là nguyên tắc tội phạm kép (double criminality) trong hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm. Chính vì vậy, để hợp tác với các nước trong cuộc đấu tranh với tội phạm, Việt Nam đã quy định nhiều loại hành vi nguy hiểm mà các điều ước quốc tế yêu cầu các nước thành viên phải xác lập là tội phạm và nội luật hóa các điều ước quốc tế là một trong những định hướng sửa đổi, hoàn thiện BLHS. - Hợp tác về dẫn độ: Thực tiễn cho thấy người phạm tội có thể thực hiện tội phạm trên lãnh thổ của nhiều quốc gia hoặc ẩn náu trên lãnh thổ của quốc gia khác với nơi thực hiện tội phạm, vì vậy các nước cần hợp tác với nhau để dẫn độ người phạm tội phục vụ cho hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hợp tác dẫn độ rất quan trọng đối với việc bảo đảm người phạm tội phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm họ đã thực hiện cho dù họ ẩn náu ở nơi nào trên thế giới. Nhiều điều ước quốc tế áp dụng mô hình “truy cứu hoặc dẫn độ” (prosecute or extradite) đối với các nước thành viên. Việt Nam đã tham gia hợp tác dẫn độ trong nhiều năm qua. - Hợp tác tương trợ tư pháp về hình sự: Để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, Nhà nước cần có chứng cứ về hành vi phạm tội của họ và theo quy định về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. Nhà nước cần cung cấp cho họ những thông tin liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì lẽ ấy, hợp tác tương trợ tư pháp về hình sự rất quan trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Việt Nam đã hợp tác tích cực trong vấn đề này. - Hợp tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù: Vì lý do nhân đạo, các nước đã hợp tác với nhau trong việc chuyển giao phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trở về quê hương của họ để tiếp tục chấp hành án. Trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và hiệp định song phương, Việt Nam đã hợp tác về vấn đề này. - Hợp tác kiểm soát tội phạm (phòng ngừa tội phạm): Kiểm soát tội phạm có ý nghĩa trong phòng ngừa sớm tội phạm. Nội dung hợp tác này được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế chuyên biệt đấu tranh với tội phạm. Việt Nam đã tích cực hợp tác trong lĩnh vực này và thể hiện rõ ở việc phê chuẩn tất cả các điều khoản về áp dụng các biện pháp phòng ngừa sớm nhằm kiểm soát tội phạm của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 19Số 20(396) T10/2019 - Hợp tác hỗ trợ thông tin, kỹ thuật: Nội dung hợp tác này vừa có ý nghĩa đối với phòng ngừa và vừa có ý nghĩa đối với hoạt động trấn áp tội phạm. Khảo sát các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cho thấy, Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác trong lĩnh vực này. - Hợp tác thành lập các tổ chức quốc tế đấu tranh với tội phạm: Trong cuộc đấu tranh với tội phạm, bên cạnh năng lực của từng quốc gia thành viên; các quốc gia còn thỏa thuận với nhau thành lập những tổ chức quốc tế nhất định để thực hiện việc kiểm soát, đấu tranh với tội phạm. Có thể kể đến một số tổ chức như: Ủy ban kiểm soát ma túy (International Narcotics Control Board), các Tòa án hình sự quốc tế6. Việt Nam đã hợp tác trong một chừng mực nhất định về vấn đề này, ví dụ như việc thành lập Ủy ban kiểm soát ma túy theo Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy và chất hướng thần năm 1988. 2. Tiếp tục đổi mới hợp tác quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm Tăng cường tham gia các điều ước quốc tế Như trên đã phân tích, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế đấu tranh với tội phạm. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa tham gia một số điều ước quốc tế quan trọng như: Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome năm 1998, Công ước 1991 về đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết, Công ước 2005 về trừng trị hành vi khủng bố bằng hạt nhân, 6 Ví dụ: Xem Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy và chất hướng thần năm 1988, Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome năm 1988. 7 Xem https://treaties.un.org/pages/ViewDetails.aspx?src=IND&mtdsg_no=IV-9&chapter=4&lang=en#EndDec về bảo lưu của Việt Nam đối với hợp tác dẫn độ theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác1984. 8 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-18&chapter=6&clang=_en#EndDec [truy cập ngày 8/6/2018]. 9 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-16&chapter=6&clang=_en#EndDec [truy cập ngày 8/6/2018]. 10 https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=VI-19&chapter=6&clang=_en#18 [truy cập ngày 8/6/2018]. Nghị định thư 2005 bổ sung Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải, Nghị định 2005 bổ sung về trừng trị hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa. Trong thời gian tới, Việt Nam cần rà soát để tăng cường ký kết, tham gia các điều ước đấu tranh với tội phạm. Tăng cường hợp tác về dẫn độ Khảo sát một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã trở thành thành viên, chúng tôi nhận thấy có sự khác nhau trong hợp tác về dẫn độ. Ở một số điều ước, Việt Nam hợp tác về dẫn độ, nhưng ở một số điều ước khác lại bảo lưu điều khoản về dẫn độ hoặc đưa ra những giới hạn nhất định trong sự hợp tác7. Có thể lấy ví dụ: Việt Nam bảo lưu các điều khoản hợp tác về dẫn độ trong các Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy, đưa ra giới hạn khi tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (năm 1984). Vào năm 1997, khi phê chuẩn các Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát chất ma túy, Việt Nam bảo lưu điều khoản về dẫn độ. Cụ thể, đối với Công ước của Liên hợp quốc về thống nhất kiểm soát chất ma túy năm 1961, Việt Nam bảo lưu điểm b khoản 2 Điều 368. Đối với Công ước về kiểm soát các chất hướng thần năm 1971, Việt Nam bảo lưu điểm b khoản 2 Điều 229. Đối với Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp chất ma túy, Việt Nam bảo lưu Điều 610. NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 20 Số 20(396) T10/2019 Việt Nam cần gỡ bỏ các điều khoản bảo lưu này với những lý do sau: Thứ nhất, so sánh nền tảng pháp lý của Việt Nam đối với hoạt động dẫn độ vào năm 1997 và hiện nay, có thể nhận thấy một sự phát triển vượt bậc. Trong khi Bộ luật TTHS năm 1988 chưa quy định về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, Bộ luật TTHS năm 2003 đã có Chương XXXVII về Dẫn độ và chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án. Luật Tương trợ tư pháp về hình sự năm 2008 đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho Việt Nam trong việc hợp tác với các nước về tư pháp hình sự, trong đó có hoạt động dẫn độ người phạm tội. Bộ luật TTHS năm 2015 bổ sung Phần thứ VIII về Hợp tác quốc tế, trong đó bao hàm những quy định về dẫn độ. Như vậy, có thể thấy rằng, cho đến nay, Việt Nam đã có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hợp tác quốc tế trong dẫn độ để đấu tranh hiệu quả với tội phạm nói chung, tội phạm ma túy nói riêng. Thứ hai, đối với nhiều Công ước quốc tế khác như: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn mà Việt Nam phê chuẩn gần đây đều không bảo lưu điều khoản về dẫn độ. Do vậy, việc bảo lưu về dẫn độ riêng đối với các Công ước của LHQ về kiểm soát chất ma túy dẫn đến tình trạng thiếu nhất quán và đồng bộ. Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khu vực và sự phát triển của khoa học công nghệ, người phạm tội không gói gọn việc thực hiện tội phạm trong biên giới của một quốc gia, mà khai thác chính những đặc điểm của tình hình mới để thực hiện tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là tội phạm về ma túy. Theo các báo cáo của UNODC về tình hình tội phạm về ma túy thì Việt Nam vừa là nước trung chuyển vừa là nước tiêu thụ. Chính vì vậy, hợp tác trong dẫn độ sẽ giúp cho Việt Nam nói riêng và các nước đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm. Tóm lại, từ những góc nhìn về cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc tế trong dẫn độ, tính đồng bộ trong chính sách của Nhà nước đối với các điều ước quốc tế đấu tranh với tội phạm và lợi ích quốc gia, chúng tôi đề nghị Việt Nam nên gỡ bỏ điều khoản bảo lưu về dẫn độ đối với các Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác quốc tế Mặc dù Việt Nam đã có những bước tiến về hoàn thiện cơ sở pháp lý của quốc gia cho hoạt động hợp tác quốc tế đấu tranh với tội phạm, hệ thống quy phạm pháp luật về dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự vẫn còn một số điểm chưa thống nhất. Ví dụ: quy định về căn cứ từ chối bắt buộc và tuy nghi đối với dẫn độ trong Bộ luật TTHS và Luật Tương trợ tư pháp; quy định về hành vi bị cấm trong các Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống mua bán người và Luật Phòng, chống rửa tiền với hành vi khách quan của tội phạm trong BLHS. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần tiếp tục rà soát để khắc phục những điểm chưa đồng bộ giữa các văn bản để tạo ra một cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm. Ngoài ra, đối với nội dung hợp tác về tội phạm hóa, Việt Nam vẫn chưa nội luật hóa chính xác và đầy đủ các hành vi nguy hiểm mà một số điều ước quốc tế yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hóa. Ví dụ, hành vi tham gia tổ chức tội phạm trong Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, hành vi tra tấn về tinh thần trong Công ước chống tra tấn năm 1984 hoặc một số hành vi khủng bố trong các Công ước về chống khủng bố. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục rà soát và nội luật hóa đầy đủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia về vấn đề tội phạm hóa NHAÂ NÛÚÁC VAÂ PHAÁP LUÊÅT 21Số 20(396) T10/2019

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfhop_tac_quoc_te_trong_phong_ngua_va_dau_tranh_voi_toi_pham_t.pdf