Hướng dẫn quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn Vietgap trên cây xoài

Bệnh thán thư * Tác nhân Do nấm Colletorichum gloeosporioides gây ra. * Triệu chứng - Trên hoa: Bệnh làm hoa mới tượng khô đen, trái rụng. - Trên thân: Bệnh gây nên những vết sưng nứt, vết nứt ăn sâu có thể làm cây chết. - Vết bệnh già có màu xám hay xám trắng, có những vòng đồng tâm, phần ngoài có quầng màu đen, phân cách rõ rệt phần mô bệnh và mô khỏe, viền đen thì ngã màu vàng. * Điều kiện phát sinh phát triển Bệnh gây hại chủ yếu trên hoa, trái. Trên hoa nấm tạo thành những đốm đen nhỏ làm hoa bị khô và rụng, trên quả già và chín có những đốm đen hơi tròn lõm vào vỏ, bệnh phát triển mạnh trong thời tiết nóng ẩm mưa nhiều. * Biện pháp phòng trừ - Tỉa cành cho cây thông thoáng, loại bỏ cành bị sâu bệnh, không cho cành tiếp xúc với đất. - Tiêu hủy cành bị bệnh nặng. - Phun thuốc phòng bệnh khi thời tiết thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển (như mưa nhiều), có thể dùng các thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam khuyến cáo để phòng trừ, liều lượng theo hướng dẫn trên nhãn. d) Một số bệnh sinh lý khác Cây thanh long có thể bị một số bệnh sinh lý khác như: Vàng cành sinh lý, trắng bạc cành và trái non bị dị dạng Đây là biểu hiện của việc chăm sóc kém như thiếu nước, cỏ dại quá nhiều, thiếu phân, ngập úng Ngoài ra do nhà vườn chưa thành thạo trong việc sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng trên quả thanh long, nên làm cho thanh long chín không đều (thường gọi là lem), màu sắc xấu, tai thanh long bị mềm vàng ảnh hưởng lớn đến chất lượng thanh long.

docx30 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Hướng dẫn quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn Vietgap trên cây xoài, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hông vượt quá giới hạn tối đa cho phép. Nước sử dụng sau thu hoạch đạt yêu cầu theo quy định về chất lượng nước sinh hoạt . - Không được chăn thả vật nuôi gây ô nhiễm nguồn nước trong vùng trồng. Nếu bắt buộc phải chăn nuôi thì phải có chuồng trại và có biện pháp xử lý chất thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường nguồn nước và sản phẩm sau khi thu hoạch. - Trong thời kỳ cây còn nhỏ việc tưới nước có thể tiến hành quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. - Suốt mùa khô, khoảng 03 - 05 ngày nên tưới nước cho cây. - Sau khi thu hoạch: tưới thường xuyên để duy trì ẩm độ đất khoảng 50 - 60% độ ẩm bão hòa. Trước khi ra hoa khoảng 02 tháng, xoài cần một giai đoạn khô hạn để phân hoá mầm hoa. - Sau khi xử lý ra hoa và trong thời kỳ cây mang trái: Tưới liên tục như sau khi thu hoạch. 3.3 Làm cỏ, tỉa cành, tạo tán: - Làm sạch cỏ sát trong gốc 3 đến 4 đợt/năm. Chú ý chống cháy vườn vào mùa khô. Chỉ nên làm cỏ sạch quanh gốc xoài, cỏ ở giữa các hàng phát gọn tạo thành luống có tác dụng chống xói mòn đất trong mùa mưa. Khi cây xoài đã bước vào giai đoạn kinh doanh làm cỏ 3 đến 4 lần/năm, phát và gom cỏ trên vườn gọn gàng để tránh cháy trong mùa khô. - Khi cây con được 4 - 5 tầng lá (cao 0,8 - 01 m) thì bấm đọt để cho cây ra cành cấp I, tỉa bỏ để lại 03 chồi mọc về 03 hướng đều nhau. Khi cành cấp I dài 0,5 - 0,8 m, tỉa chỉ để lại 03 cành, đó là cành cấp II. Từ cành cấp II tỉa và chỉ để lại 03 cành cấp III. Sau đó ngưng tỉa để cho cây phát triển tự nhiên, lúc này cây sẽ có bộ khung vững chắc, tán sẽ phát triển theo dạng tròn sau này. - Hàng năm cần tiến hành tỉa cành, ít nhất là 02 lần trong năm. Lần 1: Sau thu hoạch. Lần 2: Trước khi xử lý ra hoa, cắt bỏ những cành già cỗi, cành bị che khuất ánh sáng, cành sâu bệnh. 3.4 Xử lý ra hoa trái vụ - Cách xử lý ra hoa + Nên tạo cho xoài ra lá đồng loạt bằng các biện pháp tỉa cành, bón phân. + Tưới hóa chất xử lý ra hoa (theo danh mục thuốc BVTV hiện hành) vào gốc khi đọt xoài đồng loạt ra lá non (cơi đọt có màu đồng), tưới cách gốc cây 0,5 - 01 m. Nồng độ, liều lượng xử lý như hướng dẫn trên nhãn bao bì. Lưu ý: Giữ ẩm gốc cây sau khi tưới thuốc. Cách 02 - 03 năm xử lý trái vụ 1 lần, nếu xử lý liên tục cây sẽ bị kiệt sức có thể không ra trái. - Tăng đậu quả + Khi bông dài 10 - 12 cm phun thuốc phòng trừ sâu bệnh kết hợp với phân bón lá có hàm lượng Bo cao để tăng cường khả năng đậu trái. + Giai đoạn phát triển trái: Bón phân NPK cho cây để nuôi trái. Tưới đủ nước cho cây hấp thu dưỡng chất tốt. Phòng trị sâu bệnh định kỳ để giữ năng suất và phẩm chất trái. 3.5 Kỹ thuật bao trái + Vật liệu: Chuyên dùng không thấm nước, có khả năng cho ánh sáng xuyên qua và duy trì màu sắc trái như trong điều kiện sản xuất bình thường. + Yêu cầu: Áp dụng đồng bộ các giải pháp từ tỉa cành tạo tán, xử lý ra hoa trái mùa, phòng trị sâu bệnh hợp lý; trước khi bao trái phun thuốc trừ sâu, bệnh kết hợp với tỉa trái.         + Thời điểm: Bao trái khi trái đã qua giai đoạn rụng trái sinh lý (40 - 50 ngày tuổi) là hiệu quả nhất. - Lợi ích bao trái: Giảm số lần phun thuốc, tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn qua vết thương; do đó, hạn chế tối đa bệnh thán thư và xì mủ trên trái gây ra làm tăng năng suất từ 40 - 55% và tăng chất lượng trái xoài sau thu hoạch, màu sắc trái đẹp, bệnh sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 03 - 05 ngày so với bình thường. IV. PHÒNG CHỐNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH Áp dụng Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để phòng trừ sâu bệnh hại nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc sử dụng thuốc BVTV, giữ cân bằng hệ sinh thái, đảm bảo năng suất, hạn chế ô nhiễm cho người và môi trường, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nông sản. 1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe). Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh. Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng 2. Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh. Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm 3. Biện pháp vật lý: - Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6; bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng - Dùng bẫy cào đuổi bắt ruồi vào buổi sáng sớm 4. Biện pháp hóa học: Đảm bảo đúng theo những quy định trong sản xuất áp dụng theo ViệtGAP. - Chỉ mua thuốc BVTV còn hạn sử dụng có tên trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam còn hiệu lực; ưu tiên lựa chọn thuốc sinh học, thuốc thảo mộc để phòng chống; sử dụng thuốc theo nguyên tắc “4 đúng”, hoặc hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, nhà sản xuất; mua thuốc tại các cửa hàng đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV. - Khi sử dụng thuốc BVTV phải có biện pháp ngăn chặn sự phát tán sang các ruộng xung quanh; phải có biển cảnh báo khu vực mới phun thuốc; thuốc BVTV đã pha không dùng hết cần được thu gom và xử lý theo quy định về chất thải nguy hại. - Lập danh sách để mua các thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây rau, quả dự kiến trong sản xuất, trong đó bao gồm tên thương mại, hoạt chất, đối tượng dịch hại. - Thuốc BVTV phải giữ nguyên trong bao bì; nếu đổi sang bao bì, vật chứa khác, phải ghi rõ và đầy đủ tên, hướng dẫn sử dụng, hạn sử dụng như bao bì ban đầu. Các hóa chất không sử dụng hoặc hết hạn sử dụng phải thu gom và xử lý theo quy định. Bảo quản theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm hoặc theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Trước khi sử dụng thuốc BVTV: Lựa chọn các loại bình phun xịt và vòi phun phù hợp và xác định đúng lượng nước thuốc trên đơn vị và diện tích cần phòng trừ; Chuẩn bị các dụng cụ đo lường để đong, đo thuốc và kiểm tra các thiết bị phun, rải có hoạt động tốt không bằng nước sạch; kiểm tra điều kiện thời tiết, không phun thuốc khi có gió to, trời nắng, mưa hoặc chuẩn bị mưa để hạn chế tối đa nguy cơ gây ô nhiễm cho cây trồng và lao động ở những khu vực xung quanh. Thời gian phun thuốc thích hợp nhất là lúc sáng sớm hoặc chiều mát; - Người phun, rải thuốc phải mang đầy đủ các thiết bị bảo vệ cá nhân: quần áo bảo hộ dài tay, găng tay, ủng, mũ, khẩu trang bảo vệ mũi, miệng. - Sau khi sử dụng thuốc, người sử dụng thuốc BVTV phải: Cắm biển báo tại các khu vực mới phun, rải thuốc BVTV. Thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV đúng quy định. Rửa sạch các dụng cụ phun, rải thuốc ở khu vực cách xa nguồn nước, nước vệ sinh cần đổ ở nơi an toàn; các loại thuốc chưa sử dụng phải bảo quản trong kho và đảm bảo còn nguyên vỏ bao bì gốc hoặc ghi đầy đủ thông tin về thuốc. 1. Sâu hại a) Rầy bông xoài (Idiocerus niveosparsus) Là đối tượng gây hại quan trọng nhất trên xoài, gây hại trầm trọng vào giai đoạn ra hoa (có thể giảm 20 - 100% năng suất). * Đặc điểm hình thái Trưởng thành dạng cái nêm, đầu to và tròn, dài 4 mm, màu xanh nâu hoặc xanh nhạt. Trứng màu trắng sữa, hình thon, dài khoảng 0,8 mm. Trứng mới đẻ có màu trắng sau đó có màu trắng sữa. Rầy non không cánh, màu sắc biến đổi từ màu trắng sang màu xanh và màu vàng đen tuỳ tuổi. * Tập quán sinh sống và cách gây hại - Rầy xuất hiện rộ khi cây bắt đầu trổ bông, đạt đỉnh cao ở giai đoạn trổ bông sau đó giảm dần. Khi trái đã lớn rầy cũng tự biến mất. Một con cái đẻ từ 100 - 200 trứng, trứng đẻ từng quả trong nụ hoa, gân lá, cuống chồi non và cuống hoa. - Cả trưởng thành và ấu trùng đều chích hút nhựa lá non và bông, tuy vậy thiệt hại gây ra chủ yếu là với bông. Bông xoài bị rầy chích hút trở nên nâu, khô và rụng. Tùy theo mật độ rầy năng suất có thể giảm trên 20%, cá biệt có cây thất thu hoàn toàn. Rầy còn tiết ra chất mật ngọt là môi trường cho nấm bồ hóng phát triển trên lá và hoa làm ảnh hưởng đến quang hợp của cây. Ngoài ra, chỗ vết chích đẻ trứng của rầy trên bông và cuống lá non cũng gây vết thương cho cây và có thể làm chết khô bộ phận này. * Biện pháp phòng trừ - Tỉa cành, vệ sinh vườn sau thu hoạch. - Sử dụng bẫy đèn, dưới bẫy đặt thau nước pha xà bông, dầu hôi trước giai đoạn ra bông từ một đến hai tuần để thu hút trưởng thành. Phương pháp này chỉ hiệu quả khi rầy chưa đẻ trứng và áp dụng vào đêm không có trăng. - Vào giai đoạn xoài vừa ra nụ hoa, phát hiện sự hiện diện của rầy phun thuốc sinh học có hoạt chất như: Matrine, Abamectin, Emamectin benzoate, Azadirachtin, Rotenone, liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. b) Sâu ăn bông xoài (Thalassodes falsaria) * Đặc điểm hình thái Trưởng thành là một loài bướm thân và cánh có màu xanh, mép của cánh trước và cánh sau có đường viền nhỏ màu nâu. Ấu trùng có dạng sâu đo, màu xanh hơi vàng, trên thân có những đốm nhỏ màu vàng nâu. Nhộng khi mới hóa nhộng có màu xanh lợt và có màu vàng nâu khi sắp vũ hóa, thời gian nhộng kéo dài 06 - 08 ngày. * Tập quán sinh sống và cách gây hại - Sâu phá hại từ khi chùm bông mới nhú cho đến giai đoạn đậu trái làm giảm số trái trên cây. - Khi bị động, ấu trùng thường có tập quán bám sát trên các nhánh bông nên rất khó phát hiện. * Biện pháp phòng trừ Khi cây bắt đầu nở bông, mật độ sâu còn thấp (5% bông bị hại), sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như Matrine, Rotenone, Permethrin phun vào buổi chiều, liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. c) Ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis) * Đặc điểm hình thái Trưởng thành màu nâu vàng với các vạch đen trên bụng, sau một tuần nở bắt đầu đẻ trứng (400 trứng). Trứng được đẻ dưới lớp vỏ quả, mỗi ổ 01 - 40 trứng. Ấu trùng mầu trắng sữa. Nhộng màu nâu hóa nhộng dưới đất, độ sâu 02 - 03 cm. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Sau khi vũ hóa khoảng 07 - 15 ngày ruồi bắt đầu đẻ trứng trực tiếp vào trong trái. Thời gian ủ trứng khoảng 01 - 02 ngày. - Giai đoạn ấu trùng kéo dài 06 - 35 ngày. Khi phát triển đầy đủ, dòi chui ra khỏi trái rơi xuống đất hóa nhộng, 10 ngày sau thì nhộng lại nở ra thành ruồi. - Hàng năm ruồi xuất hiện nhiều vào tháng 5. Ruồi có đặc tính ăn thêm, đặc biệt ưa thích mùi protein thủy phân và mùi mật đường. - Ruồi có thể sống được 20 - 40 ngày. - Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng vỏ trái đẻ trứng thành chùm vào chỗ phần tiếp giáp giữa vỏ và thịt. Dòi non nở ra đục ăn thịt trái, làm trái bị thối và hư. - Là đối tượng kiểm dịch của nhiều nước trên thế giới. * Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh vườn: Thu dọn những quả rụng, quả bị hại đem tiêu hủy. - Bao trái. - Thu hoạch sớm, không neo trái. - Phun bã protein thủy phân + thuốc trừ sâu dẫn dụ diệt ruồi. - Phun thuốc có chứa hoạt chất như Abamectin, Spinosad Fenitrothion liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. d) Bọ cắt lá (Deporaus marginatus Pascoe) * Đặc điểm hình thái Trưởng thành là bọ cánh cứng, con cái thân dài 5 mm cánh cứng màu đen có nhiều lông, miệng kéo dài như một cái vòi, râu màu đen. Phân nửa đốt đùi chân màu nâu sáng, phần còn lại màu nâu đen. Con đực nhỏ hơn con cái, vòi ngắn hơn, cánh cứng màu nâu, viền cánh màu đen. Cả con cái và con đực ở phần đầu và ngực đều có màu đỏ cam. Trứng hình bầu dục, màu trắng sữa đến vàng nhạt. Sâu non màu xanh đen, không chân. Nhộng màu nâu. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Trưởng thành thường thích đẻ trứng dọc theo gân chính của lá và cắt những lá còn non (chưa chuyển sang màu bánh tẻ), đa số cắt vào vị trí 1/3 - 1/4 của lá, kể từ cuống lá. Sau khi đẻ trứng xong, trưởng thành cắt ngang lá ngay trên các vị trí đẻ trứng, phần lá bị cắt mang theo trứng sẽ rơi xuống đất. Thời gian đẻ trứng kéo dài 30 - 60 ngày, một con cái có thể đẻ từ 222 - 445 trứng và cắt từ 80 - 145 lá. Khi trứng nở ấu trùng đục từ gân chính ra mép lá. Giai đoạn ấu trùng có 3 tuổi. Ấu trùng sau khi nở sẽ tiếp tục ăn trong phần lá bị cắt đã rớt xuống đất. Sau khi hoàn thành giai đoạn phát triển, ấu trùng chui xuống đất để làm nhộng trong đất. Sự gây hại chủ yếu là do trưởng thành cắt lá và gặm lá non làm mất lá hoặc làm cho lá bị hư, cành non bị trụi lá, ảnh hưởng đến sự phát triển, ra bông và năng suất của cây. * Biện pháp phòng trừ - Thu gom tiêu hủy lá non bị cắt rơi xuống đất diệt trứng và sâu. - Những vườn bị hại nặng nên cày xới đất dưới tán lá để diệt nhộng. đ) Sâu đục ngọn xoài (Chlumetia transversa) * Đặc điểm hình thái - Trưởng thành là loài bướm nhỏ, thân dài 7 - 8 mm, sải cánh 18 mm, thân và cánh màu nâu bóng, mép ngoài cánh trước có những sọc ngang gãy khúc rất rõ và sát mép cánh có một hàng chấm đen. - Trứng mới đẻ màu trắng, sắp nở màu nâu. Sâu non màu hồng. Nhộng màu nâu đỏ. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Bướm hoạt động vào đêm, đẻ trứng rải rác từng quả trên chồi, lá non. Sâu mới nở đục ngay vào gân chính, cuống lá non hoặc chồi non, sau đó sâu chui dần xuống thân chồi non. Chồi bị hại sẽ héo khô. Sâu cũng ăn bông xoài làm bông bị khô và rụng. Đôi khi sâu ăn cả lá non. Sâu hóa nhộng trong chồi bị hại. * Biện pháp phòng trừ Phát hiện chồi mới bị hại cắt bỏ, tiêu hủy ngay để diệt sâu non. Đốt bỏ các cành lá héo khô để diệt nhộng. e) Bọ vòi voi đục ngọn (chưa xác định loài) * Đặc điểm hình thái Bọ trưởng thành là bọ cánh cứng, thân hình thon, màu nâu đen. Vòi dài hơi cong, trên cánh cứng có nhiều lõm nhỏ. Trứng màu trắng sữa, hình bầu dục dài khoảng 1 mm. Sâu non màu trắng ngà, đầu màu nâu vàng không chân. Nhộng trần, có mầm vòi rõ, màu trắng ngà. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Bọ trưởng thành dùng vòi nhai đục nhiều lỗ liên tiếp nhau theo một đường thẳng trên chồi tạo thành các buồng đẻ trứng có dạng bầu dục rồi đẻ trứng vào đó, mỗi buồng thường chỉ chứa một trứng. Sau khi nở, sâu non đục vào chồi, ăn phá phần mô bên trong làm chồi bị héo khô, trên một chồi có thể bị nhiều sâu gây hại làm chồi chết nhanh. Hóa nhộng trong chồi bị hại. * Biện pháp phòng trừ - Cắt bỏ các chồi bị hại tập trung tiêu hủy để diệt sâu non và nhộng. - Thời kỳ cây xoài ra đọt nhiều hoặc phát hiện có sâu non dùng thuốc, có thể dùng thuốc có hoạt chất như Abamectin, Chlorpyrifos Ethyl, với liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. g) Xén tóc đục thân (Plocaederus ruficornis) * Đặc điểm hình thái: Trưởng thành cơ thể dài 20 - 30 mm, màu nâu đen. Râu màu đỏ rất cứng và dài hơn cơ thể. Sâu non màu trắng sữa, đầu nhỏ hơn ngực, không có chân, đẩy sức dài 50 - 60 mm. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Trưởng thành hoạt động ban đêm, đẻ trứng rải rác trong các kẽ nứt trên vỏ cây. Sâu non đục qua vỏ rồi đào thành đường hầm ở phần mô mềm dưới vỏ cây, sau đó đục vào cành và thân cây, sâu càng lớn đường đục càng rộng. Sâu hóa nhộng trong đường đục. Sâu thường phá hại những cây trên 10 năm tuổi. * Phòng chống - Sâu phá hoại quanh năm nên cần vệ sinh vườn thông thoáng, phát hiện sớm. - Tỉa cành và tiêu hủy các cành bị hại để diệt sâu và nhộng. - Thăm vườn thường xuyên để phát hiện lỗ sâu đục (dùng dây kẽm xoi vào lỗ để diệt sâu chú ý quanh gốc cây và các trảng ba lớn). h) Sâu đục quả xoài (Deanolis albizonalis) * Đặc điểm hình thái Trưởng thành là loài bướm trung bình, thân dài 14 - 15 mm, sải cánh 26 mm. Đầu, ngực và bụng màu đỏ tươi, có những khoảng trắng xen kẽ rất đặc biệt. Trứng hình bầu dục, mới đẻ màu trắng, sắp nở màu nâu thẫm. Sâu non trên thân có những khoang trắng đỏ xen kẽ. Nhộng màu nâu vàng. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Bướm hoạt động ban đêm, đẻ trứng trên quả chỗ gần cuống. Sau khi nở sâu bò xuống phía chóp quả và đục vào trái. Chỗ vết đục hình thành một chấm đen, từ đó có một chất lỏng tiết ra. Sâu ăn phần thịt trái phía trong, sâu tuổi lớn ăn cả hột. Chỗ sâu đục tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn, ruồi phát triển làm thối vùng chóp quả. Sâu non có thể di chuyển sang phá hại các trái kế cận. Sâu có thể phá hại từ lúc trái còn nhỏ đến lúc trái chín. Quả nhỏ bị sâu hại thường rụng, quả lớn bị hại dù bị thối ở chóp trái nhưng có thể vẫn dính trên cành. Sâu thải đầy phân trong đường đục, có thể có tới 04 - 05 sâu trong một trái. Khi đẩy sức sâu rơi xuống đất hóa nhộng trong một kén bằng tơ và đất. * Biện pháp phòng trừ - Thu tiêu hủy những trái bị sâu hại. - Xới đất dưới tán lá diệt nhộng. - Bao trái có tác dụng ngăn chặn sâu rất tốt. Phun thuốc có hoạt chất Abamectin, Emamectin benzoate,... liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. i) Rệp sáp (Pseudoccoccus sp) * Đặc điểm hình thái Rệp cái trưởng thành không cánh, hình oval, dài 3 - 4 mm, cơ thể dẹp, bên ngoài phủ một lớp bột sáp trắng. Con đực nhỏ hơn con cái, có một đôi cánh mỏng. Rệp con mới nở màu vàng hồng, vài ngày sau trên mình xuất hiện lớp bột sáp trắng. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Trưởng thành không di chuyển bám chặt một chỗ chích hút và sinh sản, ấu trùng tuổi nhỏ phân tán khắp nơi nhờ kiến. Rệp sáp nhân mật số rất nhanh. Rệp sáp chích hút nhựa cành lá, trái, đọt non làm lá vàng, hoa rụng, trái giảm chất lượng, cây suy yếu và tạo môi trường thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển. Vào giai đoạn trái non, nếu mật số rệp sáp cao, trái sẽ bị rụng. * Biện pháp phòng trừ - Tiêu hủy các bộ phận có rầy, rệp diệt các loài kiến cộng sinh với rệp. - Khi mật độ rệp cao, phun thuốc có hoạt chất Dimethoate, Imidacloprid... liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. k) Bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis) * Đặc điểm hình thái Trưởng thành kích thước nhỏ, thân hình thon dài 2 - 3 mm, màu sắc thay đổi từ nâu đỏ đến vàng sẫm. * Tập quán sinh sống và cách gây hại Chủ yếu trên các phần non của cây. Bọ lớn và nhỏ tập trung mặt dưới lá chích hút làm phiến lá biến màu và cong lại. Trên quả non, bọ chích vào tế bào biểu bì tạo ra các mảng sẹo màu xám trên vỏ. Bọ trĩ phát triển nhiều trong mùa khô nắng (tháng 12 đến tháng 4). Quả phía ngoài tán lá cây bị hại nặng hơn: Vỏ nhám đen, sần sùi, giảm giá trị thương phẩm. Vòng đời: 15 - 20 ngày. * Biện pháp phòng trừ - Dùng nước tưới lên cây có thể hạn chế mật độ bọ trĩ. - Vào giai đoạn xoài ra chồi, lá, nếu mật độ bọ trĩ cao phun thuốc có hoạt chất như Abamectin, Azadirachtin,... 2. Bệnh hại a) Bệnh thán thư * Tác nhân: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides * Triệu chứng và tác hại Đây là bệnh phổ biến và nguy hiểm nhất trên cây xoài. Bệnh gây hại trên cả lá, ngọn, hoa và trái. - Trên lá: Vết bệnh màu nâu đỏ, hình tròn hay góc cạnh, các vết bệnh liên kết nhau thành vết bệnh lớn màu nâu, chung quanh viền nâu thẫm. Vết bệnh già: Khô và rách nên lá bệnh có nhiều lỗ thủng xơ xác và rụng. - Trên chùm hoa: Nấm tạo các vết đen nhỏ trên cuống hoa làm hoa bị khô đen và rụng. - Trên cành ngọn: Vết bệnh màu nâu sậm, lúc đầu nhỏ sau lan rộng ra làm lá rụng và đọt chết khô. - Trên trái: Bệnh lúc đầu chỉ tạo các chấm nâu nhỏ, sau đó phát triển thành các đốm thối đen lõm xuống vỏ trái làm trái bị chín hấp hoặc hư hỏng khi tồn trữ (nếu nhiễm muộn). * Điều kiện phát sinh, phát triển Bệnh thán thư xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm. Mầm bệnh lưu tồn trong cành lá bị bệnh, lây lan phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều. Khi xoài ra hoa gặp thời tiết âm u, nhiều sương bệnh làm hoa bị khô đen rụng hàng loạt. Những vườn xoài trồng dày, bón nhiều phân đạm dễ bị bệnh nặng * Biện pháp phòng trừ - Tiêu hủy cành, lá nhiễm bệnh để tránh lây lan. - Tỉa cành tạo tán kịp thời, bón phân cân đối theo yêu cầu từng giai đoạn sinh trưởng của cây - Khi bệnh xuất hiện trong phun thuốc có hoạt chất Propineb, Copper Hydroxide... liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. b) Bệnh phấn trắng * Tác nhân: Do nấm Oidium mangiferae. * Triệu chứng và tác hại Bệnh hại chủ yếu trên lá non, chùm hoa, đôi khi xâm nhập gây hại cả cuống quả và quả non. - Nấm bệnh đóng thành lớp trắng xám trên lá non và phát hoa. Bệnh thường phát triển từ ngọn của phát hoa, lan dần đến cuống hoa, lá non và cành. - Thường hoa bị nhiễm bệnh trước khi thụ phấn và trái còn rất nhỏ đã nhiễm bệnh làm cho trái biến dạng, méo mó, vàng úa và rụng. * Điều kiện phát sinh, phát triển Thời tiết nóng và ẩm thích hợp cho bệnh phát triển. Nấm tồn tại ở dạng bào tử và sợi nấm trên các bộ phận bị hại, ít sống được trong đất. * Phòng chống - Tỉa cành lá tạo thông thoáng trong vườn - Thu gom tiêu hủy các bộ phận bị bệnh. - Phun thuốc kịp thời để bảo vệ hoa và trái non, có thể dùng thuốc có hoạt chất như Diniconazole, Hexaconazole,... liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn. c) Bệnh đốm vi khuẩn * Tác nhân: Do nấm Xanthomonas campestris pv. Mangiferaindicae * Triệu chứng và tác hại - Bệnh gây hại trên lá và quả. - Trên chóp lá có các đốm vàng nhỏ, lớn dần có màu nâu hay đen có viền vàng xung quanh. Nhiều đốm liên kết tạo mảng lớn sần sùi làm khô rồi rụng lá. - Trên trái bệnh tạo thành các vết nứt hình chân chim màu nâu đen, xung quanh có viền vàng, từ vết nứt có mủ xì ra. Trái non bị bệnh thường rụng, trái già hoặc chín thì thối từng mảng. * Điều kiện phát sinh, phát triển: Vi khuẩn tồn tại trên lá và trái bệnh, xâm nhập gây hại các bộ phận qua vết xây sát hoặc vết chích của côn trùng. * Biện pháp phòng trừ: Dùng các thuốc đặc trị trong danh mục được phép sử dụng có đăng ký trên xoài để phun trừ. d) Bệnh đốm da ếch * Tác nhân: Do nấm Chaetothyrium sp. * Triệu chứng và tác hại Bệnh nhiễm rất sớm trên trái còn non, trên vỏ trái vết bệnh tròn đường kính 5 - 10 mm, xuất hiện rải rác, dần dần các vết bệnh liên kết lại trông giống da ếch. Bệnh mới xuất hiện gần đây, hại nặng trên trái già. * Điều kiện phát sinh, phát triển: Bệnh gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ cao. * Biện pháp phòng trừ: Tạo độ thông thoáng trong vườn xoài, bao trái lại để hạn chế bệnh. V. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN - Thu hoạch sản phẩm phải đảm bảo thời gian cách ly đối với thuốc BVTV theo quy định hiện hành hoặc hướng dẫn của nhà sản xuất. - Cần thu hoạch vào thời điểm sản phẩm có chất lượng tốt nhất: Từ khi đậu trái đến khi quả chín cần thời gian khoảng 90 - 120 ngày tùy giống. Nên hái xoài khi đã đủ già, neo trái trên cây dễ làm cây kiệt sức ảnh hưởng đến ra hoa vụ sau, trái xoài hái được khi da láng, vỏ dày. Hái trái nên chừa cuống từ 5 - 10 cm để mủ không phun ra, giữ cho trái xoài hình thức đẹp. - Trong thời gian thu hoạch: Phải kiểm soát tránh sự xâm nhập của động vật vào khu vực sản xuất, nhà sơ chế và bảo quản sản phẩm. Trường hợp sử dụng bẫy, bả để kiểm soát động vật cần đặt tại những vị trí ít có nguy cơ gây ô nhiễm cho sản phẩm. - Nơi bảo quản sản phẩm phải sạch sẽ, ít có nguy cơ ô nhiễm sản phẩm. Trường hợp sử dụng các chất bảo quản chỉ sử dụng các chất được phép sử dụng theo quy định hiện hành. - Quản lý sản phẩm và truy xuất nguồn gốc đúng theo quy định của pháp luật HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH SẢN XUẤT THEO TIÊU CHUẨN VIETGAP TRÊN CÂY THANH LONG (Hylocereus undatus) (Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-SNNPTNT ngày /5/2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai) I. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI 1. Nhiệt độ-ẩm độ Cây thanh long là cây nhiệt đới có nguồn gốc tại các vùng nhiệt đới Châu Mỹ. Nhiệt độ thích hợp cho thanh long sinh trưởng và phát triển từ 20 - 34oC. 2. Lượng mưa Nhu cầu về lượng mưa cho cây là 800 - 2.000 mm/năm, nếu thấp hơn hoặc vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối quả. 3. Đất đai Cây thanh long trồng được trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát pha, đất xám bạc màu, đất đỏ Bazan, đất thịt Tuy nhiên, trồng cây thanh long đạt hiệu quả cao trong điều kiện đất tơi xốp, thoát nước tốt, không bị nhiễm mặn và có pH đất từ 5 - 7. 4. Ánh sáng Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ra hoa trong điều kiện ngày dài, cây sinh trưởng và phát triển tốt ở các nơi có ánh sáng đầy đủ, thiếu ánh sáng cây ốm yếu. Tuy nhiên, nếu cường độ ánh sáng quá cao, nhiệt độ cao sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của cây thanh long. II. GIỐNG - Phải sử dụng giống cây trồng có nguồn gốc rõ ràng, được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc giống địa phương đã được sản xuất, sử dụng lâu năm không gây độc cho người. Trường hợp mua giống tại các cơ sở đã công bố và được tiếp công bố tiêu chuẩn cây giống xuất vườn ươm. - Cần lựa chọn giống có khả năng kháng sâu bệnh và sử dụng hạt giống, cây giống khỏe, sạch sâu bệnh để giảm sử dụng thuốc BVTV. - Trên thị trường có các giống chủ yếu sau: + Giống thanh long ruột trắng: Hình dạng trái đẹp, vỏ màu đỏ trong ruột màu trắng. Thời gian ra hoa từ tháng 4 - 9 dương lịch (chính vụ), thời gian từ đậu trái đến thu hoạch khoảng 28 - 35 ngày. + Giống thanh long ruột đỏ: Cây sinh trưởng khỏe, cành to, màu xanh có 03 cạnh, trên các cạnh có các thùy mang mần ngủ và nhiều gai, mép các cạnh có viền nâu rõ rệt, phần đỉnh sinh trưởng của cành khi còn non có màu tím. Hoa có lá bắc màu xanh nhạt, ra hoa từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó có năm đợt hoa chính, trọng lượng quả trung bình 350 - 400 gam/quả. Tuy nhiên, giống thường mẫn cảm hơn với một số đối tượng sâu bệnh gây hại so với thanh long ruột trắng. - Tiêu chuẩn cành giống + Tuổi cành 12 tháng (đã cho trái vụ trước, không nên chọn những cành vừa mới cho trái), cần chọn các cành có gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ để hạn chế bệnh thối cành. + Chiều dài cành tốt nhất từ 40 - 50 cm. + Cành khỏe có màu xanh đậm, sạch sâu bệnh. + Các mắt trên cành mang chùm gai phải tốt, mẩy. + Phần gốc cành được cắt bỏ phần vỏ khoảng 2 - 4 cm chỉ để lại lõi giúp nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Cành được giâm nơi thoáng mát khoảng 20 - 30 ngày trước khi trồng. III. KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC 1. Chuẩn bị đất đai: - Chọn vùng sản xuất: + Vùng sản xuất rau áp dụng theo VietGAP phải phải cách xa các khu vực có thể gây ô nhiễm về hóa học, sinh học và vật lý (khói, bụi, chất thải, hóa chất độc hại từ hoạt động giao thông vận tải, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, sinh hoạt khu dân cư, bệnh viện, khu chăn nuôi, cơ sở giết mổ tập trung, nghĩa trang ). Trước khi tiến hành sản xuất, người sản xuất phải tiến hành đánh giá các yếu tố trên. Bao gồm hiện trạng sử dụng đất của vùng sản xuất và vùng lân cận và lịch sử trước đó của vùng sản xuất. + Phải đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm sản phẩm về hóa học và sinh học từ các hoạt động trước đó và từ các khu vực xung quanh. Trường hợp xác định có mối nguy phải có biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát hiệu quả hoặc không tiến hành sản xuất (ví dụ sử dụng thuốc BVTV trước đó không đúng chủng loại, liều lượng, nồng độ, thuốc ngoài danh mục..., hàm lượng kim loại nặng, bón phân cao....) + Đất trồng phải là đất cao, dễ thoát nước, phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bơ. + Định kỳ hàng năm phải tiến hành lấy mẫu đất để phân tích, đánh giá các nguy cơ về hóa học, sinh học, vật lý. Việc lấy mẫu phải do người lấy mẫu được cấp chứng chỉ của Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp &PTNT cấp, mẫu phải được phân tích tại các phòng thí nghiệm được chỉ định. - Thiết kế vườn trồng + Nếu đất có độ dốc lớn cần tạo bậc thang riêng cho từng hàng cây, nghiêng về phía trong để chống xói mòn. + Thiết kế hệ thống thoát nước và trồng trụ cùng lúc. Đối với vườn có địa hình tương đối bằng phẳng, 02 hàng thanh long đào một rãnh thoát nước vuông góc với hướng dốc chính, rãnh sâu 30 - 40 m, rộng 20 - 25 cm. Đối với vườn có độ dốc khá (≥ 3 %), 04 - 05 hàng thanh long đào một rãnh thoát nước như trên. + Dọc theo hướng dốc chính, khoảng 30 - 40 m thiết kế một mương giữa hai hàng trụ, mương cắt thẳng góc với rãnh thoát nước: Sâu 50 - 60 cm, rộng 40 cm. - Chuẩn bị cây trụ + Có thể dùng trụ gỗ, trụ gạch hoặc xi măng cốt sắt để trồng thanh long, hiện nay trụ xi măng cốt sắt đang được khuyến cáo và sử dụng phổ biến trong sản xuất. Trụ có kích thước dài 2 - 2,2 m, cạnh vuông từ 15 - 20 cm. + Khi trồng trụ: Phần trên mặt đất cao khoảng 1,5 - 1,6 m, phần chôn dưới mặt đất khoảng 0,5 - 0,6 m, phía trên trụ có 04 cọng sắt ló ra dài 20 - 25 cm được bẻ cong theo 04 hướng dùng làm giá đỡ cho cành thanh long. - Chuẩn bị đất, hố trồng: Đất được cày bừa kỹ, tạo mặt phẳng để dễ thoát nước chống ngập úng. + Kích thước hố trồng: 50 cm x 50 cm x 50 cm hoặc 40 cm x 40 cm x 40 cm. + Khoảng cách: Hàng cách hàng 03 m, trụ cách trụ 03 m, mật độ khoảng 1.100 trụ/ha. + Trộn đều đất mặt với phân chuồng hoai + vôi + lân super lấp xuống hố trước khi trồng 15 ngày (bón lót). 2. Kỹ thuật trồng - Thời vụ: Cây thanh long có thể trồng được quanh năm, nhưng thời điểm xuống giống thích hợp nhất: + Tháng 10 - 11: Thời gian nay thuận lợi là nguồn hom giống dồi dào, các vùng đất thấp tránh được nguy cơ ngập úng, nhưng cần phải đủ nước tưới trong mùa khô. + Tháng 5 - 6: Đối với các vùng thiếu nước nên trồng vào đầu mùa mưa nhưng sẽ gặp khó khăn về hom giống. - Cách trồng + Đặt hom cạn từ 2 - 3 cm, đặt phần lõi (đã gọt bỏ lớp vỏ bên ngoài), nhằm tránh thối gốc. + Khi trồng nên áp phần mặt phẳng của hom vào mặt trụ tạo điều kiện thuận lợi cho cành ra rễ dễ bám sát vào trụ. + Sau khi trồng dùng dây cột hom vào trụ để tránh gió làm lung lay, đổ ngã. + Mỗi trụ đặt từ 04 - 05 hom theo từng mặt trụ. 3. Chăm sóc 3.1 Bón phân a) Sử dụng phân bón - Phải sử dụng phân bón và chất bổ sung được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. Nếu sử dụng phân gia súc, gia cầm làm phân bón thì phải ủ hoai mục và kiểm soát hàm lượng kim loại nặng theo quy định. - Sử dụng phân bón theo nhu cầu của cây thanh long, kết quả phân tích các chất dinh dưỡng trong đất, giá thể hoặc theo quy trình đã được khuyến cáo của cơ quan có chức năng. - Phân bón và chất bổ sung phải giữ nguyên trong bao bì; nếu đổi sang bao bì, vật chứa khác, phải ghi rõ và đầy đủ tên, hướng dẫn sử dụng, hạn sử dụng như bao bì ban đầu. - Một số loại phân bón và chất bổ sung như: amoni nitrat, nitrat kali, vôi sống phải được bảo quản tránh nguy cơ gây cháy, nó, làm tăng nhiệt độ. - Các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ phối trộn, bón phân phải được vệ sinh sau mỗi lần sử dụng và bảo dưỡng thường xuyên nhằm giảm nguy cơ gây ô nhiễm vùng sản xuất và nguồn nước. - Sau từng vụ phải đánh giá nguy cơ ô nhiễm hóa học, sinh học và vật lý do sử dụng phân bón và chất phụ gia, ghi chép và lưu trong hồ sơ sản xuất. Nếu xác định có nguy cơ ô nhiễm trong việc sử dụng phân bón hay chất phụ gia, cần áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. b) Cách bón: - Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Từ 01 - 03 năm đầu sau khi trồng. + Năm 1: Bón lót: Lượng phân chuồng 5 kg + 0,5 kg lân super + 0,5 kg vôi /trụ. (Nếu không có nguồn phân chuồng có thể thay thế bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 01 kg/trụ). Bón thúc (sau khi trồng 20 - 30 ngày): Bón 0,31 kg urê + 0,6 kg lân super + 0,4 kg kali/trụ. Định kỳ bón 01 tháng/lần. + Năm 2: Bón 5 kg phân hữu cơ hoai mục + 0,3 kg urê + 1,1 kg lân super + 0,4 kg kali + 0,5 kg vôi/trụ. Định kỳ bón 01 tháng/lần. + Năm 3: Bón 0,55 kg urê + 2,2 kg lân super + 0,7 kg kali + 0,5 kg vôi/trụ. Định kỳ bón 1,5 tháng/lần. + Cách bón: Rải xung quanh gốc (cách gốc 20 - 40 cm tùy theo tuổi cây), lấp lớp đất mỏng hoặc dùng rơm tủ lên, tưới nước. - Giai đoạn kinh doanh: + Phân hữu cơ: Lần 1 (sau khi thu hoạch): Bón 9 kg phân chuồng hoai mục hoặc 1,8 kg phân hữu cơ vi sinh. Lần 2 (chuẩn bị ra hoa): Bón 3 kg phân chuồng hoai mục hoặc 0,6 kg phân hữu cơ vi sinh/trụ. Lẩn 3 (nuôi trái): 3 kg phân chuồng hoai mục hoặc 0,6 kg phân hữu cơ vi sinh/trụ. + Phân hóa học + Liều lượng bón: Tuổi cây Lượng phân bón Nguyên chất g/trụ Lượng phân bón tương đương kg/trụ N P2O5 K2O Urê Lân super Kali > 5 năm 253 352 378 0,55 2,2 0,63 + Cách bón: Rải đều trên mặt đất xung quanh trụ, phủ lên trên bằng một lớp đất mỏng hoặc bằng rơm rạ, hay cỏ khô, sau đó tưới nước cho phân tán. + Thời gian bón: Chia làm 08 lần bón trên/năm (trung bình 1,5 tháng/lần) Đơn vị tính: Kg/trụ STT Tháng Vườn > 05 năm tuổi Urê Lân Kali Lần 1 9 - 10 0,12 2,2 0 Lần 2 12 0,15 0 0,14 Lần 3 2 0,1 0 0,14 Lần 4 4 0,1 0 0,07 Lần 5 5 0,05 0 0,07 Lần 6 6 0,05 0 0,07 Lần 7 7 0,05 0 0,07 Lần 8 8 0,05 0 0,07 Tổng cộng 0,55 2,2 0,63 Ghi chú: + Nếu đất có phản ứng chua thì thế lân Super bằng lân Văn Điển và bón thêm vôi từ 550 kg/ha. + Có thể sử dụng phân hổn hợp NPK thay thế phân đơn. + Phân bón lá: Để tăng cường thêm dinh dưỡng cho cây, giúp cây phát triển tốt có thể sử dụng thêm phân bón qua lá để bón cho thanh long. 3.2 Tưới nước - Nước tưới cần dựa trên nhu cầu của cây thanh long và độ ẩm của đất. Cần áp dụng phương pháp tưới hiệu quả, tiết kiệm như: nhỏ giọt, phun sương và thường xuyên kiểm tra hệ thống tưới nhằm hạn chế tối đa lượng nước thất thoát và rủi ro tác động xấu đến môi trường. - Nước tưới (gồm cả nước mặt và nước ngầm) có hàm lượng kim loại nặng không vượt quá giới hạn tối đa cho phép. Nước sử dụng sau thu hoạch đạt yêu cầu theo quy định về chất lượng nước sinh hoạt . - Không được chăn thả vật nuôi gây ô nhiễm nguồn nước trong vùng trồng. Nếu bắt buộc phải chăn nuôi thì phải có chuồng trại và có biện pháp xử lý chất thải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường nguồn nước và sản phẩm sau khi thu hoạch. - Cây thanh long là cây chịu hạn, tuy nhiên trong điều kiện nắng hạn kéo dài nếu không đủ nước sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng phát triển của cây và làm giảm năng suất. - Biểu hiện của sự thiếu nước ở cây thanh long là: Cành mới hình thành ít, sinh trưởng rất chậm, cành bị teo tóp và chuyển sang màu vàng, ở những cây thiếu nước khi ra hoa, tỷ lệ rụng hoa ở đợt ra hoa đầu tiên cao >80%, quả nhỏ. Do đó cần phải tưới nước thường xuyên đảm bảo đủ độ ẩm cho cây phát triển. 3.3 Làm cỏ, tủ gốc - Vào mùa nắng nên dùng rơm rạ, xơ dừa, rễ lục bình... để tủ gốc giữ ẩm cho cây biện pháp này giúp hạn chế sự phát triển cỏ dại và bổ sung dinh dưỡng cho đất. - Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với cây thanh long và là nơi trú ẩn của sâu bệnh, trước mỗi đợt bón phân cần làm sạch trong vườn, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ cỏ. 3.4 Tỉa cành, tạo tán - Mục đích của tỉa cành tạo tán cho cây có bộ khung cơ bản, thông thoáng giúp cây sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao và ổn định. - Năm thứ 2 tỉa nhẹ khi cần để tạo tán hình cây dù. Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ để kiểm soát số cành con trên cành mẹ (cành sừng trâu). Yêu cầu: + Chỉ giữ lại 01 - 03 cành con/cành mẹ. + Các cành con trên cành mẹ xa nhau, phân bố đều để tránh tán lệch. + Giữ lại các cành mập, khỏe. + Tỉa bỏ những cành mọc lòa xòa ra lối đi. - Tỉa hoa, quả: Chọn 02 hoa phát triển tốt để trên mỗi cành, tỉa bỏ các hoa còn lại, các hoa trên cùng một cành nên chọn ở hai mắt xa nhau, sau khi hoa nở 05 - 07 ngày tiến hành tỉa quả, mỗi cành chỉ để lại 01 quả, chọn các quả phát triển tốt, không dấu vết sâu bệnh. IV. PHÒNG CHỐNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH Áp dụng Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để phòng trừ sâu bệnh hại nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc sử dụng thuốc BVTV, giữ cân bằng hệ sinh thái, đảm bảo năng suất, hạn chế ô nhiễm cho người và môi trường, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nông sản. 1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe). Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh. Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng 2. Biện pháp sinh học: Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh. Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm 3. Biện pháp vật lý: - Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6; bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng - Dùng bẫy cào đuổi bắt ruồi vào buổi sáng sớm 4. Biện pháp hóa học: Đảm bảo đúng theo những quy định trong sản xuất áp dụng theo ViệtGAP. - Chỉ mua thuốc BVTV còn hạn sử dụng có tên trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam còn hiệu lực; ưu tiên lựa chọn thuốc sinh học, thuốc thảo mộc để phòng chống; sử dụng thuốc theo nguyên tắc “4 đúng”, hoặc hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, nhà sản xuất; mua thuốc tại các cửa hàng đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV. - Khi sử dụng thuốc BVTV phải có biện pháp ngăn chặn sự phát tán sang các ruộng xung quanh; phải có biển cảnh báo khu vực mới phun thuốc; thuốc BVTV đã pha không dùng hết cần được thu gom và xử lý theo quy định về chất thải nguy hại. - Lập danh sách để mua các thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây rau, quả dự kiến trong sản xuất, trong đó bao gồm tên thương mại, hoạt chất, đối tượng dịch hại. - Thuốc BVTV phải giữ nguyên trong bao bì; nếu đổi sang bao bì, vật chứa khác, phải ghi rõ và đầy đủ tên, hướng dẫn sử dụng, hạn sử dụng như bao bì ban đầu. Các hóa chất không sử dụng hoặc hết hạn sử dụng phải thu gom và xử lý theo quy định. Bảo quản theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm hoặc theo hướng dẫn của nhà sản xuất. - Trước khi sử dụng thuốc BVTV: Lựa chọn các loại bình phun xịt và vòi phun phù hợp và xác định đúng lượng nước thuốc trên đơn vị và diện tích cần phòng trừ; Chuẩn bị các dụng cụ đo lường để đong, đo thuốc và kiểm tra các thiết bị phun, rải có hoạt động tốt không bằng nước sạch; kiểm tra điều kiện thời tiết, không phun thuốc khi có gió to, trời nắng, mưa hoặc chuẩn bị mưa để hạn chế tối đa nguy cơ gây ô nhiễm cho cây trồng và lao động ở những khu vực xung quanh. Thời gian phun thuốc thích hợp nhất là lúc sáng sớm hoặc chiều mát; - Người phun, rải thuốc phải mang đầy đủ các thiết bị bảo vệ cá nhân: quần áo bảo hộ dài tay, găng tay, ủng, mũ, khẩu trang bảo vệ mũi, miệng. - Sau khi sử dụng thuốc, người sử dụng thuốc BVTV phải: Cắm biển báo tại các khu vực mới phun, rải thuốc BVTV. Thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV đúng quy định. Rửa sạch các dụng cụ phun, rải thuốc ở khu vực cách xa nguồn nước, nước vệ sinh cần đổ ở nơi an toàn; các loại thuốc chưa sử dụng phải bảo quản trong kho và đảm bảo còn nguyên vỏ bao bì gốc hoặc ghi đầy đủ thông tin về thuốc. 1. Sâu hại a) Kiến Kiến lửa (Solenopsis geminata); kiến riện (Cardiocondyla wroughtoni). * Đặc điểm hình thái Kiến lửa có màu nâu đỏ. Kiến chúa đẻ trứng dưới đất, trên những mô đất cao. Giai đoạn ấu trùng không gây hại, chỉ phá hại ở giai đoạn kiến trưởng thành. Kiến riện thành trùng có màu nâu đen, kiến thường trú ẩn và sinh sản trong các cây cành khô, vỏ của các trụ cây. * Tập tính gây hại Gây hại bằng cách đục phá gốc cây làm hư hom giống, cành non, tai lá, nụ hoa, quả non, quả chín, gây ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm. * Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh vườn, dọn sạch các cành cây, lá khô trong vườn để không cho kiến có nơi ẩn nấu. - Ở những vườn bị nhiễm nặng, khi cây có nụ hoa, có thể sử dụng thuốc hóa học để trị nhưng phải đảm bảo thời gian cách ly an toàn, không sử dụng thuốc hóa học trên quả một tuần trước khi thu hoạch - Sử dụng nước đường hoặc bã dừa khô trộn với thuốc hóa học có hoạt chất Fipronil rải xung quanh gốc để diệt kiến sau khi thu hoạch quả. b) Bọ xít (Mictis longicornis) * Đặc điểm hình thái - Trưởng thành có màu vàng nâu, chiều dài thân 6 - 15 mm, có hình 05 cạnh, cánh trước là loại cánh nửa cứng. - Trứng mới đẻ có dạng gần tròn, màu xanh nhạt hoặc vàng. Khi sắp nở, trứng có màu xám đen. - Bọ xít non gồm 05 tuổi, có hình dáng gần giống với bọ trưởng thành. * Tập tính gây hại Bọ xít gây hại bằng cách chích hút nhựa vỏ quả, tai quả để lại những vết chích rất nhỏ tạo điều kiện cho nấm bệnh và vi khuẩn gây hại, khi quả chín nơi các vết chích sẽ xuất hiện các đốm đen, làm quả mất giá trị thương phẩm. Bọ xít gây hại trên thanh long từ khi có nụ hoa đến khi hình thành trái. * Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh vườn phát quang bụi rậm, cỏ dại. - Bọ trưởng thành có kích thước khá lớn, dễ phát hiện nên biện pháp tốt nhất là bắt bằng tay. - Biện pháp hóa học: (Hiện nay chưa có thuốc đăng ký sử dụng trên cây thanh long), tạm thời sử dụng các loại thuốc có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam đăng ký trên cây ăn trái khuyến cáo sử dụng chứa các hoạt chất như Etofenprox, Buprofezin. c) Ruồi vàng đục quả (Dacus dorsalis) * Đặc điểm hình thái Con trưởng thành là một loại ruồi màu nâu vàng, lớn hơn ruồi nhà. Trên phía lưng của bụng có 02 vệt đậm đen hình chữ T. Ruồi cái có kim đẻ trứng dài và nhọn ở cuối bụng chọc thủng vỏ, đẻ trứng vào trong vùng tiếp giáp giữa vỏ và thịt quả. Ấu trùng (sâu non) dạng dòi, không có chân. Nhộng màu nâu đỏ, hóa nhộng dưới đất. * Tập tính gây hại Ruồi đục quả là đối tượng nguy hiểm và là đối tượng kiểm dịch rất khắt khe ở nhiều nước trên thế giới, ruồi cái chích hút vào vỏ quả và đẻ trứng vào bên trong, bên ngoài lớp vỏ có vết chích sẻ biến màu nâu, khi trứng nở thành sâu non (dạng dòi) ăn lá phá bên trong quả làm thối quả và rụng. * Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tiêu hủy các quả rụng. - Thu hoạch trái chín kịp thời. - Áp dụng biện pháp bao trái - Dùng thuốc dẫn dụ có hoạt chất Methyl eugenol để dẫn dụ và diệt ruồi đực, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào bẫy, cách 02 tuần thay thuốc một lần, nên treo bẫy đồng loạt trên diện rộng. - Phun mồi Protein: Ưu điểm của phương pháp này là diệt cả ruồi cái và ruồi đực, lượng thuốc trừ sâu sử dụng ít, an toàn cho côn trùng có ích. d) Bọ trĩ (Thrip spp.) * Đặc điểm hình thái:Trưởng thành nhỏ, dài 1 - 2 mm có màu vàng cam. Trưởng thành đẻ trứng rải rác trong mô lá. Trứng nhỏ mới đẻ màu trắng sữa, gần nở có màu vàng nhạt. Bọ trĩ non rất giống trưởng thành nhưng không cánh màu vàng nhạt. * Tập tính gây hại Bọ trĩ gây hại từ giai đoạn nụ cho đến khi héo râu (rút râu) gây nên hiện tượng mắc võng trên trái non và trái già. Bọ trĩ thường gây hại quanh năm, đặc biệt là các tháng mùa khô. * Biện pháp phòng trừ Cần kiểm tra phát hiện sớm, nếu có bọ trĩ với mật độ cao, dùng các thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam khuyến cáo để phòng trừ, như nhóm thuốc Pymetrozine, Thiamethoxam Đặc biệt giai đoạn nụ có kích thước từ 3 - 10 cm, đây là giai đoạn nguy hiểm nhất, kể cả sau khi đã rút râu nếu vườn nhiều cỏ dại. Nếu phát hiện trễ thì việc phòng trừ sẽ không đạt hiệu quả. Ngoài ra trên thanh long còn một số đối tượng khác gây hại như: * Ốc sên và sên dẹp (sên nhớt, sên trần): Phát triển mạnh trong mùa mưa. Ban ngày ẩn nơi ẩm, mát, dưới lớp rơm tủ, ban đêm chúng xuất hiện và ăn phá phần non của cành, hoa, trái thanh long để lại những vết trầy xước làm mẫu mã quả thanh long bị hư hại không thể xuất bán được. - Biện pháp phòng trừ + Vệ sinh vườn, dọn sạch cỏ dại vào mùa mưa. + Tẩm thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam khuyến cáo để phòng trừ vào bông, trái đặt bả nơi sên, ốc hay tập trung. + Ngoài ra biện pháp bón phân nhóm lân + vôi cũng hạn chế rất tốt các loại này, kể cả ốc gạo ăn rễ tơ. * Các loại bọ cánh cứng - Bọ cánh cứng thường gây hại ở vỏ và tai trái gây vết thương tạo điều kiện cho nấm bệnh và vi khuẩn gây hại làm giảm mẫu mã của trái. - Biện pháp phòng trừ + Vệ sinh vườn, phát quang bụi rậm, cỏ dại, bón phân chuồng hoai. + Bọ trưởng thành có kích thước khá lớn, dễ phát hiện nên biện pháp tốt nhất là bắt bằng tay. + Có thể dùng các thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam khuyến cáo để phòng trừ, như nhóm Thiamethoxam,... 2. Bệnh hại a) Bệnh thối đầu cành * Tác nhân Do nấm Alternaria sp. gây ra. * Triệu chứng Trên đầu cành vết bệnh đầu tiên là những đốm nhỏ, màu vàng, sau lan rộng làm cả phần ngọn cành có màu vàng, mềm và thối sũng nước. * Điều kiện phát sinh, phát triển Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nóng, ẩm, mưa nhiều, thường vào cuối mùa nắng, đầu mùa mưa. * Biện pháp phòng trừ - Cung cấp đủ nước cho cây vào mùa nắng. - Tránh tưới cây vào lúc trời nắng gắt. - Bón phân cân đối, hợp lý giữa phân đạm, lân, kali và phân bón lá. - Vườn phải thoát nước tốt. - Cắt bỏ cành bị bệnh và tiêu hủy. - Có thể dùng các thuốc bảo vệ thực vật khuyến cáo có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam để phòng trừ, như: Difenoconazole, hoặc Mancozeb,...liều lượng theo hướng dẫn trên nhãn. b) Bệnh đốm nâu (đốm trắng) * Tác nhân Do nấm Neoscytalidium dimidiatum (Penz) Crous & Slipper gây ra. * Triệu chứng - Trên thân cành: Khi mới xuất hiện, triệu chứng ban đầu là các vết lõm màu trắng, sau đó vết bệnh nổi lên thành những đốm tròn màu nâu. Trong điều kiện thuận lợi bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh liên kết với nhau làm cho cành thanh long bị sần sùi, gây thối khô từng mảng. - Trên quả: Tương tự như trên thân cành, những đốm làm cho vỏ quả trở nên sần sùi thối khô từng mảng. Bệnh nặng có thể gây nám (rám) cả quả làm giảm giá trị thương phẩm nghiêm trọng. * Điều kiện phát sinh, phát triển Bệnh phát sinh phát triển và lây lan nhanh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ẩm độ không khí cao, nhất là vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Bệnh phát sinh gây hại nặng hơn trên những vùng thanh long bón nhiều phân đạm, sử dụng nhiều chất kích thích sinh trưởng. Bệnh đốm nâu cây thanh long lây lan chủ yếu qua các con đường: - Qua hom giống, tàn dư cây bệnh và các sản phẩm của cây thanh long. - Bào tử nấm phát tán, lây lan nhờ gió, dòng nước chảy và qua một số sinh vật (một số loài ốc sên, côn trùng). * Biện pháp phòng trừ - Sử dụng giống sạch bệnh để trồng; tuyệt đối không sử dụng cành bị bệnh để trồng, không sản xuất giống ở khu vực thanh long đã nhiễm bệnh. - Vệ sinh sạch cỏ dại, tiến hành tỉa cành cho vườn thông thoáng, sạch sẽ, không để vườn quá rậm rạp. - Thường xuyên kiểm tra vườn, nhất là những vườn cận kề vườn bệnh và vườn um tùm, xanh tốt hoặc vào thời điểm ẩm độ không khí cao. - Không tưới nước vào chiều tối vì sẽ tạo điều kiện ẩm độ cho bào tử nấm gây bệnh nảy mầm, gây hại. - Loại bỏ những cành, quả bị bệnh, thu gom chôn lấp, rắc vôi bột tiêu hủy (không được bỏ cành bệnh, quả bệnh xuống nguồn nước hay vứt tại vườn). - Bón phân hợp lý, tránh bón thừa phân đạm và sử dụng nhiều lần chất kích thích sinh trưởng khi cây bị bệnh. Tăng cường bón lân, kali và phân hữu cơ hoai mục cũng như việc bổ sung thêm phân có hàm lượng canxi, magie, silic để tăng sức đề kháng cho cây. - Sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma trộn với phân hữu cơ bón vào đất để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất. Liều lượng theo khuyến cáo ghi trên bao bì sản phẩm. - Khi trên vườn có cây nhiễm bệnh, vào mùa mưa rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 01 - 02 tấn/ha. - Khi phát hiện bệnh đốm nâu mới chớm xuất hiện có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng. (Ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh đốm nâu hại thanh long) nên tạm thời sử dụng các loại thuốc đồng  (Cuprous Oxide, Copper Hydroxide, Copper Sulfate) hoặc gốc Mancozeb để phun phòng chống bệnh; sử dụng thuốc phải theo nguyên tắc “4 đúng” và đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên nhãn. c) Bệnh thán thư * Tác nhân Do nấm Colletorichum gloeosporioides gây ra. * Triệu chứng - Trên hoa: Bệnh làm hoa mới tượng khô đen, trái rụng. - Trên thân: Bệnh gây nên những vết sưng nứt, vết nứt ăn sâu có thể làm cây chết. - Vết bệnh già có màu xám hay xám trắng, có những vòng đồng tâm, phần ngoài có quầng màu đen, phân cách rõ rệt phần mô bệnh và mô khỏe, viền đen thì ngã màu vàng. * Điều kiện phát sinh phát triển Bệnh gây hại chủ yếu trên hoa, trái. Trên hoa nấm tạo thành những đốm đen nhỏ làm hoa bị khô và rụng, trên quả già và chín có những đốm đen hơi tròn lõm vào vỏ, bệnh phát triển mạnh trong thời tiết nóng ẩm mưa nhiều. * Biện pháp phòng trừ - Tỉa cành cho cây thông thoáng, loại bỏ cành bị sâu bệnh, không cho cành tiếp xúc với đất. - Tiêu hủy cành bị bệnh nặng. - Phun thuốc phòng bệnh khi thời tiết thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển (như mưa nhiều), có thể dùng các thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam khuyến cáo để phòng trừ, liều lượng theo hướng dẫn trên nhãn. d) Một số bệnh sinh lý khác Cây thanh long có thể bị một số bệnh sinh lý khác như: Vàng cành sinh lý, trắng bạc cành và trái non bị dị dạng Đây là biểu hiện của việc chăm sóc kém như thiếu nước, cỏ dại quá nhiều, thiếu phân, ngập úng Ngoài ra do nhà vườn chưa thành thạo trong việc sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng trên quả thanh long, nên làm cho thanh long chín không đều (thường gọi là lem), màu sắc xấu, tai thanh long bị mềm vàng ảnh hưởng lớn đến chất lượng thanh long. V. THU HOẠCH, SƠ CHẾ , BẢO QUẢN - Thu hoạch sản phẩm phải đảm bảo thời gian cách ly đối với thuốc BVTV theo quy định hiện hành hoặc hướng dẫn của nhà sản xuất. - Cần thu hoạch vào thời điểm sản phẩm có chất lượng tốt nhất: Thu hoạch trong khoảng 28 - 32 ngày sau khi nở hoa để quả có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Thời điểm thu hoạch tốt nhất vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào quả làm tăng nhiệt độ trong quả, mất nước làm ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian bảo quản. Dụng cụ thu hoạch quả phải sắc, bén. - Trong thời gian thu hoạch: Phải kiểm soát tránh sự xâm nhập của động vật vào khu vực sản xuất, nhà sơ chế và bảo quản sản phẩm. Trường hợp sử dụng bẫy, bả để kiểm soát động vật cần đặt tại những vị trí ít có nguy cơ gây ô nhiễm cho sản phẩm. - Nơi bảo quản sản phẩm phải sạch sẽ, ít có nguy cơ ô nhiễm sản phẩm. Trường hợp sử dụng các chất bảo quản chỉ sử dụng các chất được phép sử dụng theo quy định hiện hành. Quả sau khi cắt được đựng trong giỏ, để trong mát, phân loại sơ bộ và vận chuyển về nhà đóng gói càng sớm càng tốt, không để lâu ngoài vườn. Các dụng cụ như dao, kéo, giỏ, dùng trong thu hoạch nhiều lần phải được chùi rửa bảo quản cẩn thận.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxhuong_dan_quy_trinh_san_xuat_theo_tieu_chuan_vietgap_tren_ca.docx
Tài liệu liên quan