Identification of the tolerant capacity to aquatic environment factors (temperature, pH and dissolved oxygen) of Asian bumblebee catfish (Pseudomystus siamensis Regan, 1913)

• Ngưỡng pH thấp gãy chết (ILLpH) Cá không chết ở các pH từ 7 - 5. Hiện tượng cá chết xây ra ở các nglùệm thức có giá trị pH từ 4 - 3. Tỳ lệ cá chết tích lũy ở 24 giờ của nghiệm thức pH = 4 là 61,6% và của pH = 3,5 là 52,3%; tỳ lệ cá chết tích lũy của nghiệm thức pH = 3 là 100% san 2 giờ tlú nghiệm. Tỳ lệ cá chét tích lũy ở 24 giờ ở pH =4 và 3,5 là khác biệt có ý nghĩa thống kẽ (P < 0,05) và cũng khác biệt so với tỳ lệ chết ở các pH khác. Phương trình hồi qui tuyến tính của tỳ lệ cá chết (y) theo pH thấp (x) là y = - 36,678x 4- 26,062 (R2 = 0,9216). pH thấp gậy chết (ILLpH) cá chót bông giai đoạn 10 ngày tuổi được xác (lịnh là 3,8 (Hình 6). Theo Truong (2003), pH là một trong những yếu tố mõi trường ảnh hưởng rất lớn đến (lời sóng cá. pH có ãnh hường trực tiếp đến các giai đoạn phát triền ban (lầu của cá. Da số các loài cá có the chịu (lựng một giới hạn rộng cũa pH, từ 5- 9. Trong nghiên cứu về ảnh hường của pH trẽn cá Prochilodus lineatus, Reynalte-Tataje & ctv. (2015) (lã tìm tliấy ờ pH 5,0 toàn bộ trứng bị chết sau 4 giờ. Trứng (lược ấp ờ pH từ 6,0 - 8,5 có tĩ lệ thụ tinh và tĩ lệ sống tương tự nhau nhưng ở pH 6,0 trứng có (lường kính nhỏ hơn và ấu trùng cá có chiều (lài ngổn hơn so với trứng được ấp ờ môi trường trung tính hay kiềm. Trong giai đoạn ương nuôi ấu trùng, tĩ lệ sóng cũa hậu ấu trùng cao nhất ờ pH 7,0. Jellyman & Harding (2014) nghiên cứu trẽn 5 loài cá nước ngọt ở New Zealand tìm thấy tất cả các loài cá bị chết khi pH nước < 4 nhưng cá trường thành có thể sóng ở pH 4,5 và cá trường thành chịu đựng pH thấp tốt hơn cá con. Kết quà các thí nghiệm trẽn cho thấy pH cao gãy chét (lULpH) cá chốt bông giai đoạn 10 ngày tuổi (10,2) là bàng giai đoạn mới nở (10,2) và thấp hơn giai đoạn phôi (10,7). Ngược lại, pH thấp gãy chết (ILLpH) cá chót bông giai đoạn 10 ngày tuổi (3^8) là tương đương giai đoạn mới nỡ (3,7) và thấp hơn giai (loạn phôi (4,4). Điều này có the kết luận ràng khã nang chịu đựng pH bất lợi của cá chót bông sau nở là kém hơn phôi dối với pH cao và tốt hơn dối với pH thấp. Nhìn chung, pH cao gãy chết phôi cá chót bông là thấp hơn so với phôi của cố rõ dồng Anabas testudineus (pH = 11) và cá sặc ràn Trichogaster pectoraUs (pH = 11,8) (Le, 2010). pH cao gãy chết cá chót bông là tương dương với cá chép (9,5 - 10,8) (Nguyen, 20(H), cá tai tượng Osphronemus goramy (9,5 - 11) (Trang, 2010). pH thấp gãy chết cá chốt bông là tương dương so với cá thát lát còm Aro£opterus chitala (3,5 -4,5) (La, 2012), thấp hơn so với cá ché]) (4,2 - 4,5) (Nguyen, 2004) và cá tai tượng (4,0 - 4,5) (Trang, 2010), và cao hơn so với cá sặc ràn(2,4) (Le, 2010). Sự khác biệt này cũng có thể do sự khác nhau về phương pháp nghiên cứu cũng như khả nang chịu dựng của loài.

pdf9 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Identification of the tolerant capacity to aquatic environment factors (temperature, pH and dissolved oxygen) of Asian bumblebee catfish (Pseudomystus siamensis Regan, 1913), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfidentification_of_the_tolerant_capacity_to_aquatic_environme.pdf