Chủng 201-F6T có thể được phân biệt rõ ràng với
các loài liên quan của chi Ideonella bởi các đặc tính sinh
lý, sinh hóa, cũng như vị trí phát sinh loài của nó và liên
quan ADN. Do đó, chủng này đại diện cho một loài mới
của chi Ideonella, và tên Ideonella sakaiensis 201-F6T
được đề xuất [9]. Ideonella sakaiensis 201-F6T sinh
trưởng, phát triển trong môi trường có pH 5.5-9.0 (tối
ưu ở pH 7,0-7.5) và ở nhiệt độ 15-420C (tối ưu ở 30-
370C) [8][5]. Theo tính toán của các nhà nghiên cứu nếu
bình thường, thời gian để phân hủy hoàn toàn chai nhựa
PET phải mất khoảng 450 năm nhưng khi sử dụng
chủng vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6 thì chỉ
trong 6 tuần, các vật liệu bằng nhựa PET bị phân hủy
hết ở nhiệt độ bình thường [10][2], mà không cần phải
cung cấp nhiệt độ áp suất cao, đó quả là điều hết sức
diệu kỳ. Nghiên cứu về cơ chế phản ứng phân giải PET
của vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6 cho thấy, nó
chỉ sử dụng hai enzyme để “ăn” PET và phá vỡ nhựa
này thành các thành phần đơn giản hơn, thân thiện với
môi trường hơn. Một enzyme được gọi là PETase, nó
phân giải PET, tạo ra monomer MHET, tiếp đó, enzym
thứ hai - MHETase phân giải MHET cho sản phẩm cuối
cùng là axit terephthalic và ethylene glycol và sản phẩm
này vô hại với môi trường[10].
Như vậy, sau nhiều năm làm việc với các vi khuẩn
và chất dẻo, các nhà khoa học xác định được một chủng
vi khuẩn mới - vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6,
có khả năng phân hủy polyethylene terephthalate, loại
thường được sử dụng rất nhiều trong sản xuất chai lọ,
bao bì và quần áo và vô số các vật dụng khác nhưng
thuộc loại ”cứng đầu” khiến nhiều người lâu nay mất
hy vọng về xử lý, phân giải nó. Việc phát hiện
ra Ideonella sakaiensis 201-F6 có tầm quan
trọng đặc biệt bởi đây là điều mà nhân loại
đang mơ ước vì với sản lượng toàn cầu hàng
năm của PET là trên 50 triệu tấn mà khi dùng
xong được thải ra trong môi trường thì đó là
một thảm họa lớn và tuyệt vời hơn khi với vi
khuẩn này thì vấn đề môi trường ô nhiễm
nhựa không đáng lo ngại. Và sự phân hủy
nhanh chóng các phế thải từ nhựa polyethylene terephthalate chỉ trong một thời gian mấy
tuần nên không phải mòn mỏi chờ đợi đến
mấy thế kỷ[5]. Các nhà nghiên cứu cũng hy
vọng rằng, từ chủng vi khuẩn náy sẽ phân tích
ADN và thực hiện công nghệ chuyển gene để
mã hóa sản sinh ra thật nhiều enzime mới
phân giải chất thải nhựa để sử dụng rộng rãi
trong thực tiễn./.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ideonella sakaiensis - Loại vi khuẩn mới và công nghệ sinh học xử lý chất thải nhựa Polyethylene Terephthalate, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí
Kh-cn nghệ AnSỐ 4/2017 [32]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
n Nguyễn Dương Tuệ
Ideonella sakaIensIs - loạI vI khuẩn mớI
Và công nghệ Sinh học xử LÝ chấT Thải nhựA pOLyeThyLene TerephThALATe
1. Polyethylene terephthalate
Polyethylene terephthalate (hay
PET, PETE hoặc PETP hoặc PET-P) là nhựa
nhiệt dẻo phổ biến nhất của polyester dùng
trong gia đình và được sử dụng trong sản xuất
sợi dệt may quần áo, chăn, gối, đệm, bao bì,
thùng chứa chất lỏng thực phẩm, cùng vô số
vật dụng khác. Hàng năm, thế giới có trên 50
triệu tấn nhựa terephalate polyethylene, hoặc
PET, được sản xuất. Phần lớn PET sản xuất ra
trên thế giới dùng cho sợi tổng hợp (trên 60%),
sản xuất chai hộp, bao bì chiếm khoảng 30%
nhu cầu toàn cầu [8]. Trong bối cảnh các ứng
dụng cho ngành dệt may, PET được gọi bằng
cái tên phổ biến là polyester, trong khi tên
gọi PET thường được sử dụng liên quan đến
bao bì. PET là polymer được trùng hợp từ các
đơn vị monomer ethylene terephthalate. Tùy
thuộc vào chế biến mà nó có thể tồn tại ở cả hai
dạng: dạng vô định hình (trong suốt) và dạng
polymer bán tinh thể (semicrystalline). Các vật
liệu bán tinh thể có thể xuất hiện trong suốt
(kích thước hạt nhỏ hơn 500nm) hoặc mờ đục
và trắng (hạt kích thước lên đến một vài mi-
cromet) tùy thuộc vào cấu trúc tinh thể của nó
và kích thước hạt. Nó đã nhanh chóng trở nên
phổ biến với cả nhà sản xuất và người tiêu dùng
do tính chất nhẹ của vật liệu, có độ bền cao,
chịu được nước, chi phí thấp, dễ vận chuyển
hơn so với chai thủy tinh, sản phẩm vật dụng
hàng ngày rất phong phú, đa dạng.
2. Tổng hợp Polyethylene terephthalate
Polyethylene terephthalate là một polymer
thành viên của polyester đã được cấp bằng sáng
chế vào năm 1941. Nó được sản xuất thành sợi,
thổi/đúc thành vỏ chai nước uống, ép đùn làm
phim chụp ảnh, băng ghi âm và vô số vật dụng
khác. PET được tạo ra bởi sự trùng hợp của Ethylene
glycol và axit terephthalic. Ethylene glycol là một chất
lỏng không màu thu được từ ethylene và axit tereph-
thalic là một chất rắn tinh thể thu được từ xylene. Về
mặt hóa học, ethylene glycol là một diol, rượu có cấu
trúc phân tử có chứa hai nhóm hydroxyl (-OH) và axit
terephthalic là một axit aromatic dicarboxylic. Khi đun
nóng với nhau ở nhiệt độ và áp suất cao có chất xúc
tác hóa học các nhóm hydroxyl và cacboxyl phản ứng
tạo thành các nhóm este (-CO-O-), chúng đóng vai trò
liên kết hóa học kết nối nhiều đơn vị PET (BHET) với
nhau thành các chuỗi polymer dài. Phản ứng tổng hợp
Polyethyleneterephthalate như sau:
Ban đầu là phản ứng ester hóa giữa các phân tử hy-
droxyethylterephthalate (BHET) và Ethylene glycol
(EG) ở 250-2800C và 2-3kPa. Sau đó, các oligomer
được polymer hóa ở 270-2800C và 50-100kPa. Ở giai
đoạn này, tạo các polymer thích hợp cho các ứng dụng
mà không cần khối lượng phân tử cao, tuy nhiên nếu
trọng lượng phân tử cao hơn là cần thiết, thì sẽ được
polyme hóa trạng thái rắn thứ ba ở 200-2400C và
100kPa. Sau khi tổng hợp các polymer có thể được chế
biến thành dạng yêu cầu, qua đùn, ép, phun hoặc thổi.
Phản ứng tông hợp Polyethyleneterephthalate
Tạp chí
Kh-cn nghệ AnSỐ 4/2017 [33]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
3. Thuộc tính và ứng dụng
Polyethyleneterephthalate (PET) là một semicrys-
talline, polyester nhiệt dẻo. Nó được sản xuất bởi một
số công ty riêng biệt, dưới tên thương mại khác
nhau. PET khá bền về mặt hóa học và tính ổn định
nhiệt, có độ thấm khí thấp, dễ dàng xử lý về vật lý. Sự
kết hợp của các thuộc tính làm cho PET có thể tạo ra
nhiều vật liệu mong muốn, một loạt các ứng dụng khác
nhau trong đời sống và một thành phần quan trọng của
tiêu thụ nhựa trên toàn thế giới. Hơn 50% sợi tổng hợp
được sản xuất trên toàn thế giới từ PET và lượng tiêu
thụ toàn cầu của PET đã được báo cáo vượt quá 17 tỷ
USD mỗi năm. PET còn dùng để sản xuất các tấm và
phim ảnh. Đặc biệt hơn, nó được sử dụng trong đóng
gói thực phẩm và đóng gói đồ uống (nước ngọt và chai
nước), các hộp đông lạnh, dùng trong công nghiệp điện
tử, phụ tùng ô tô, đồ gia dụng, sản phẩm chiếu sáng,
dụng cụ điện, các dụng cụ thể thao, các tấm X-ray
Loại sợi này có phân khúc tạo nét, dạng sợi nhỏ có thể
dùng để lau chùi tất cả các loại bụi, vết dơ trên bề mặt
mà không để lại trầy xước ở các vật dụng trong gia đình
và trong các ngành công nghiệp, nhà hàng, khách sạn,
lau chùi vết bẩn vết dầu loang, vết vân tay và dùng trong
sản xuất đĩa CD, Monitor, Camera, máy fax, xe ôtô, xe
máy... Tùy thuộc vào các ứng dụng và đặc tính mong
muốn, PET có thể được sản xuất theo đặc điểm kỹ thuật
bằng cách kiểm soát các điều kiện polyme hóa.
4. Vấn đề môi trường
Với khối lượng sản xuất khổng lồ (trên 50 triệu
của polyme thông thường và polyme phân hủy
sinh học đã được sản xuất. Do khả năng phục
hồi của nhựa chống xuống cấp và sự phổ biến
của nó trong ngành công nghiệp, vấn đề ô
nhiễm nhựa đã trở thành một mối đe dọa đến
hệ sinh thái toàn cầu. Trong tự nhiên, như một
quy luật, nhựa được sử dụng rộng rãi và nó
không tự suy thoái đến một mức độ lớn khi thải
vào môi trường. Một trong những lý do chính
cho sự phổ biến, ứng dụng rộng rãi của nhiều
polymer là sự ổn định và độ bền đặc biệt cao
của nó.
Có bốn cơ chế mà các chất dẻo phân hủy
trong môi trường bao gồm: suy thoái quang,
suy thoái thermooxidative, suy thoái thủy phân
và phân hủy sinh học nhờ vi sinh vật. Nói
chung, sự thoái hóa tự nhiên của nhựa bắt đầu
với suy thoái quang, dẫn đến suy thoái ther-
mooxidative. Tia cực tím từ mặt trời cung cấp
năng lượng kích hoạt cần thiết để bắt đầu cho
sự kết hợp của các nguyên tử oxy vào poly-
mer. Điều này làm cho nhựa trở nên giòn và để
phá vỡ thành nhiều mảnh nhỏ hơn cho đến khi
các chuỗi polymer đạt được khối lượng phân
tử thấp đủ để được chuyển hóa bởi các vi sinh
vật. Các vi khuẩn hoặc chuyển đổi carbon
trong các chuỗi polymer carbon dioxide hoặc
kết hợp nó vào phân tử sinh học. Tuy nhiên,
toàn bộ quá trình này diễn ra rất chậm, có thể
mất 50 năm hoặc nhiều hơn cho nhựa phân hủy
hoàn toàn [3]. Điều này không được hỗ trợ bởi
một thực tế rằng, tác dụng photodegradative
được giảm đáng kể trong nước biển do nhiệt
độ và oxy sẵn có thấp hơn nên tỷ lệ thủy phân
của hầu hết các polyme là không đáng kể trong
đại dương [3]. Chẳng hạn, trong môi trường
biển, thời gian cho các hợp chất để phân hủy
là khá dài; giấy báo 6 tuần; túi nhựa 10-20
năm; tã lót dùng 1 lần 50-100 năm; chai nhựa
100 năm hoặc nhiều hơn
Việc tái chế hóa học của PET cũng đã được
tiến hành bằng việc áp dụng dây chuyền công
nghệ tái chế công suất cao, hơn 50.000
tấn/năm. Một số nỗ lực để thiết lập các nhà
máy tái chế đã được thực hiện trong quá khứ
nhưng không thành công vang dội. Ngay cả
việc tái chế đầy hứa hẹn ở Nhật Bản cho đến
nay đã không trở thành một bước đột phá công
tấn/năm), cùng sự gia tăng tiêu thụ toàn cầu ngày càng
lớn và tính bền bỉ tự nhiên của chúng nên rất khó bị suy
thoái, phân hủy và tích lũy nhựa trong môi trường là
mối quan tâm ngày càng tăng. Điều này bao gồm một
phác thảo về các vấn đề liên quan đến ô nhiễm nhựa
trong các môi trường đất, nước, không khí, đặc biệt là
môi trường biển. Mô tả về sản xuất thương mại và phân
hủy của PET, tổng quan về khả năng phân hủy sinh học
Các sản phẩm sản xuất từ PET
Tạp chí
Kh-cn nghệ AnSỐ 4/2017 [34]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
nghiệp do giá tăng đều đặn. Các mức giá của
chai đóng kiện cũng tăng, ví dụ giữa những
năm 2000 là khoảng 50 Euro / tấn và năm
2008 đã lên đến 500 Euro/tấn.
5. Công nghệ sinh học xử lý chất thải
nhựa
Sự đa dạng trao đổi chất của vi sinh vật là
một nguồn tài nguyên hữu ích để khắc phục
ô nhiễm nhựa trong môi trường. Vi khuẩn đã
được sử dụng trong làm sạch dầu tràn, PCBs
và các kim loại nặng như asen (As), thủy ngân
(Hg), cadmium (Cd) và chì (Pb) [1] . Phân
hủy sinh học là một thay thế hấp dẫn đối với
thực tiễn hiện nay để xử lý chất thải, vì nó
thường là một quá trình rẻ hơn, có khả năng
hiệu quả hơn và không gây ô nhiễm thứ
cấp. Trong một số trường hợp, thậm chí nó có
thể có được sản phẩm cuối cùng hữu ích với
các lợi ích kinh tế từ sự trao đổi chất của vi
khuẩn của chất gây ô nhiễm, ví dụ, ethanol để
sử dụng trong nhiên liệu sinh học [1].
Nhiều nghiên cứu đã điều tra các phân hủy
của một loạt các polyme. Quan sát thấy rằng
trong nhiều trường hợp, polymer có khung
cacbon tinh khiết đặc biệt kháng với hầu hết
các phương pháp suy thoái, nhưng polyme
bao gồm các nguyên tử khác trong cấu trúc
(ví dụ, các polyeste, polyamine) cho thấy sự
nhạy cảm cao với suy thoái. PET là một ví dụ
điển hình của một polymer như vậy. Các ester
tạo thành một phần của chuỗi polymer bình
thường có thể khá dễ dàng bị phá vỡ bởi một
số cơ chế, tuy nhiên, do nhóm thơm của nó,
là polymer bản chất không phân hủy trong
điều kiện bình thường. Trong khi PET poly-
mer đặc biệt ổn định và bền, đã được chứng
minh rằng các cộng đồng vi khuẩn có khả
năng sử dụng diethylene glycol terephthalate
(DTP) - một tiểu đơn vị của PET, như một
cacbon và nguồn năng lượng duy nhất. Điều
này cho thấy rằng lý do cho sự ổn định cực
phát sinh từ trong trạng thái polymer.
Những nỗ lực để tăng phân hủy sinh học
của PET đã tập trung vào những thay đổi của
polymer để giảm sự gắn kết giữa các phân tử;
Các sản phẩm từ nhựa PET không thể phân
giải bằng con đường hóa học, còn tái chế thì
vô cùng tốn kém. Do đó phải xử lý chất thải
đặc biệt ”cứng đầu” này bằng con đường phân hủy sinh
học, đó là sự tan rã của vật liệu bằng tác dụng của vi
khuẩn, nấm, hoặc các chủng sinh học khác. Trong khi
phân hủy sinh học chỉ đơn giản có nghĩa là được tiêu
thụ bởi các vi sinh vật. Thuật ngữ này thường được sử
dụng trong mối quan hệ với môi trường sinh thái, quản
lý chất thải, y sinh học và môi trường tự nhiên, với môi
trường có khả năng phân hủy trở thành các yếu tố tự
nhiên và chất hữu cơ có thể bị suy thoái hiếu
khí hoặc kỵ khí. Vấn đề phân hủy sinh học nói chung
là vật liệu hữu cơ “phục vụ” như là một chất dinh dưỡng
cho vi sinh vật.
Vi sinh vật thì rất phong phú, đa dạng và tác dụng
trên một phạm vi rộng lớn của các hợp chất được phân
hủy sinh học bao gồm các hydrocarbon (ví dụ dầu
mỏ), polychlorinated biphenyls (PCBs), hydrocarbon
polyaromatic (PAHs), các chất dược liệu. Việc sử dụng
vi sinh vật đầu tiên để phân hủy nhựa được biết đến vào
năm 1961, khi sử dụng để mô tả sự phân hủy của vật
liệu vào các thành phần cơ sở của carbon, hydro và oxy
của các vi sinh vật. Bây giờ phân hủy sinh học thường
được kết hợp với các sản phẩm thân thiện với môi
trường, là một phần của chu kỳ bẩm sinh của trái đất và
có khả năng phân hủy trở thành các yếu tố tự nhiên.
Vào năm 1973 các nhà nghiên cứu đã có được kết
quả đầu tiên về sự thoái hóa khi xử hoạt tính của vi sinh
vật đất. Bây giờ, công nghệ phân hủy sinh học là một
khoa học phát triển cao với các ứng dụng trong sản
phẩm bao bì, sản xuất, y học công nghệ oxo-biodegrad-
able, và đã phát triển hơn nữa như sự xuất hiện của nhựa
phân hủy sinh học. Oxo - phân hủy sinh học được xác
định bởi CEN (Tổ chức Tiêu chuẩn châu Âu) là “suy
thoái do oxy hóa, đôi khi được mô tả như là “oxo-phân
mảnh” và “oxo-phân hủy” để mô tả các giai đoạn đầu
tiên hoặc oxy hóa nhưng khả năng phân hủy với tốc độ
rất chậm. Đó là lý do tại sao chất dẻo thông thường, khi
bỏ đi, lại kéo dài với một thời gian mấy thập kỷ trong
môi trường. Giáo sư Steve Howdle cho rằng polymer
phân hủy sinh học là đặc biệt hấp dẫn, nhựa bị xuống
cấp thành các sản phẩm không độc hại.
Bằng sự kiên trì và hăng say của mình, những năm
gần đây, các nhà nghiên cứu đã phân tích từ đất, bùn
tại các nhà máy tái chế PET và đã phát hiện ra rằng có
một vài loài nấm có tiềm năng phá vỡ PET nhưng cũng
phải qua một thời gian rất dài, Tuy nhiên, gần đây nhất
điều mà các nhà khoa học đã làm cho nhân loại hết sức
vui mừng đó là trong năm 2016, một nhóm các nhà
khoa học Nhật Bản từ Viện Công nghệ Kyoto và Đại
Tạp chí
Kh-cn nghệ AnSỐ 4/2017 [35]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
học Keio, sau khi thu thập tới 250 mẫu của PET trên
các mảnh vỡ vụn ở thành phố Sakai đã phát hiện một
loại vi khuẩn mới - Ideonella sakaiensis 201-Fo có khả
năng “ăn nhựa”, phân hủy gần như hoàn toàn nhựa PET
chỉ trong 06 tuần. Ideconella sakaiensis là vi khuẩn
thuộc chi Ideonella trong họ Comamonadaceae, nhuộm
gram âm (G - ), là loại vi khuẩn hình que, sống hiếu
khí, không hình thành bào tử, có một tiên mao nên có
thể di chuyển, có cytochrome oxidase và catalase. Các
lipid phân cực chính ở màng là phos-
phatidylethanolamine, lyso-phosphatidylethanolamine,
phosphatidylglycerol và diphosphatidylglycerol. Hệ
gen có G + C của ADN là 70,4% mol [8][9]. Phân tích,
giải trình tự chuỗi rARN 16S cho thấy chủng 201-F6T
thuộc chi Ideonella và có liên quan chặt chẽ với
Ideonella dechloratans LMG 28178T (97,7%) và
Ideonella azotifigens JCM 15503T (96,6%).
Chủng 201-F6T có thể được phân biệt rõ ràng với
các loài liên quan của chi Ideonella bởi các đặc tính sinh
lý, sinh hóa, cũng như vị trí phát sinh loài của nó và liên
quan ADN. Do đó, chủng này đại diện cho một loài mới
của chi Ideonella, và tên Ideonella sakaiensis 201-F6T
được đề xuất [9]. Ideonella sakaiensis 201-F6T sinh
trưởng, phát triển trong môi trường có pH 5.5-9.0 (tối
ưu ở pH 7,0-7.5) và ở nhiệt độ 15-420C (tối ưu ở 30-
370C) [8][5]. Theo tính toán của các nhà nghiên cứu nếu
bình thường, thời gian để phân hủy hoàn toàn chai nhựa
PET phải mất khoảng 450 năm nhưng khi sử dụng
chủng vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6 thì chỉ
trong 6 tuần, các vật liệu bằng nhựa PET bị phân hủy
hết ở nhiệt độ bình thường [10][2], mà không cần phải
cung cấp nhiệt độ áp suất cao, đó quả là điều hết sức
diệu kỳ. Nghiên cứu về cơ chế phản ứng phân giải PET
của vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6 cho thấy, nó
chỉ sử dụng hai enzyme để “ăn” PET và phá vỡ nhựa
này thành các thành phần đơn giản hơn, thân thiện với
môi trường hơn. Một enzyme được gọi là PETase, nó
phân giải PET, tạo ra monomer MHET, tiếp đó, enzym
thứ hai - MHETase phân giải MHET cho sản phẩm cuối
cùng là axit terephthalic và ethylene glycol và sản phẩm
này vô hại với môi trường[10].
Như vậy, sau nhiều năm làm việc với các vi khuẩn
và chất dẻo, các nhà khoa học xác định được một chủng
vi khuẩn mới - vi khuẩn Ideonella sakaiensis 201-F6,
có khả năng phân hủy polyethylene terephthalate, loại
thường được sử dụng rất nhiều trong sản xuất chai lọ,
bao bì và quần áo và vô số các vật dụng khác nhưng
thuộc loại ”cứng đầu” khiến nhiều người lâu nay mất
hy vọng về xử lý, phân giải nó. Việc phát hiện
ra Ideonella sakaiensis 201-F6 có tầm quan
trọng đặc biệt bởi đây là điều mà nhân loại
đang mơ ước vì với sản lượng toàn cầu hàng
năm của PET là trên 50 triệu tấn mà khi dùng
xong được thải ra trong môi trường thì đó là
một thảm họa lớn và tuyệt vời hơn khi với vi
khuẩn này thì vấn đề môi trường ô nhiễm
nhựa không đáng lo ngại. Và sự phân hủy
nhanh chóng các phế thải từ nhựa polyethyl-
ene terephthalate chỉ trong một thời gian mấy
tuần nên không phải mòn mỏi chờ đợi đến
mấy thế kỷ[5]. Các nhà nghiên cứu cũng hy
vọng rằng, từ chủng vi khuẩn náy sẽ phân tích
ADN và thực hiện công nghệ chuyển gene để
mã hóa sản sinh ra thật nhiều enzime mới
phân giải chất thải nhựa để sử dụng rộng rãi
trong thực tiễn./.
Tài liệu tham khảo
1. Coghlan, Andy, “Bacteria found to eat PET
plastics could help do the recycling”, New Scientist.
Retrieved 2016/03/18.
2. Folarin Okunola, 11/03/2016, Scientists have
discovered new plastic-eating bacteria.
3. Hayden K. Webb, Jaimys Arnott, Russell J.
Crawford and Elena P. Ivanova, 2013, Plastic Degra-
dation and Its Environmental Implications with Special
Reference to Poly (ethylene terephthalate).
4. Ideonella sakaiensis sp. nov., isolated from a mi-
crobial consortium that degrades poly(ethylene
terephthalate).
5. IANS (Mar 12, 2016), Bacteria that eats plastic
discovered.
6. Michelle Hampson 9 March 2016, Science:
Newly Identified Bacteria Break Down Tough Plastic.
7. SEAN MARTIN PUBLISHED (Mar 11, 2016),
Bacteria discovered which biodegrades plastic bottles
in just 6 WEEKS.
8. Somboon Tanasupawat; Toshihiko Takehana;
Shosuke Yoshida; Kazumi Hiraga; Kohei Oda (1 Au-
gust 2016), “Ideonella sakaiensis sp. nov., isolated
from a microbial consortium that degrades poly (eth-
lyene terephthalate)”.
9. Tanasupawat S, Takehana T, Yoshida S, Hiraga
K, Oda K. (2016 Apr).
10. Yoshida S, Hiraga K, Takehana et al. (10-3-
2016), A bacterium that degrades and assimilates
poly(ethylene terephthalate.
11. Wyeth, Nathaniel C. “Biaxially Oriented
Poly(ethylene terephthalate) Bottle” US patent
3733309, Issued May 1973.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ideonella_sakaiensis_loai_vi_khuan_moi_va_cong_nghe_sinh_hoc.pdf