Về kết quả cầm máu, chúng tôi thành công 37/37
BN, không có BN nào phải mổ mở để cầm máu hay
phải nút mạch lần 2. Thời gian nằm viện trung bình là
11,49 +/- 7,22 ngày, số lượng máu phải truyền là 2,94
+/- 3,24 l. Chúng tôi chưa có nhóm chứng nhưng theo
nhiều tác giả, thời gian nằm viện và số lượng máu phải
truyền ít hơn nhiều so với phải mổ mở.
Về vật liệu nút mạch: có 2 loại vật liệu nút mạch
được sử dụng là vật liệu nút mạch tạm thời (Spongel)
và vật liệu nút mạch vĩnh viễn (Coil, Histoacryl, PVA).
Việc sử dụng vật liệu cho hiệu quả tốt phụ thuộc vào
hình thái, loại tổn thương. Một số các tác giả có xu
hướng sử dụng vật liệu nút mạch tạm thời, tuy nhiên
sử dụng Spongel thì dòng tuần hoàn sẽ được tái lập
trong vòng 2-3 tuần, do đó có thể gây chảy máu tái
phát và BN phải nút mạch lần hai. Nghiên cứu của
Ngô Lê Lâm có 3/16 BN phải nút mạch lần hai do
chảy máu tái phát. Xu hướng hiện nay nhiều tác giả
sử dụng vật liệu nút mạch vĩnh viễn, ưu điểm của loại
vật liệu này là loại bỏ hoàn toàn tổn thương, không bị
tái phát, tuy nhiên khi sử dụng PVA và Histoacryl có
nhược điểm là sự di chuyển vật liệu và gây tắc mạch.
Hiện nay, vòng xoắn kim loại (Coil) được xem là một
vật liệu an toàn song giá thành đắt do đó ít khả năng
áp dụng.
Biến chứng của phương pháp can thiệp mạch
bao gồm trong và sau can thiệp. Trong can thiệp
mạch có thể gặp máu tụ vết chọc động mạch đùi,
dính sonde, di chuyển các vật liệu nút mạch, tuy
nhiên những biến chứng này chúng tôi ít gặp. Các
biến chứng sớm thường gặp hơn như đau hạ sườn
phải, hạ sườn trái, đau thắt lưng, sốt, men gan tăng
ở những ngày sau, các thay đổi này sẽ trở về bình
thường sau điều trị hỗ trợ bằng thuốc trong một thời
gian ngắn. Trong điều trị chấn thương gan, một trong
những biến chứng sớm hay gặp là hoại tử túi mật
do sự di chuyển của vật liệu nút mạch gây tắc động
mạch túi mật, để tránh biến chứng này, việc xác định
động mạch túi mật trong chụp mạch là hết sức cần
thiết, phải nút phía sau chỗ xuất phát động mạch túi
mật nếu có thể. Việc theo dõi biến chứng này sau
mổ rất quan trọng. Các biến chứng xa hơn như viêm
xơ đường mật cần sinh thiết để chẩn đoán, các biến
chứng khác như viêm thận – bể thận, áp xe gan, lách,
thận là các biến chứng ít gặp.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ðiều trị can thiệp nội mạch các tổn thương mạch trong chấn thương tạng đặc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 10 - 12 / 2012 381
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIeNTIfIC reSeArCH
SUMMARy
Pupose: Estimation the efficacy of embolization in abdomen
injury.
Material and method: 37 injury patients were underwent
angiography and emboli zation in Viet Duc hospital from 2008 to
2012 with 25 cases hepatic trauma, 10 renal trauma, 2 splenic
trauma.
Result: All of patients undergone embolization hadn’t
extravasation in angiography (100%), no on going hemorrhage
required laparotomy.
Conclusion: Embolization in abdomen trauma is an
efficacy therapeutic method should be widely applied in clinical
application.
ÐIỀU TRỊ CAN THIỆP NỘI MẠCH
CÁC TỔN THƯƠNG MẠCH TRONG
CHẤN THƯƠNG TẠNG ĐẶC
Interventional endoluminal treatment for vascular
lesion of solid organ post traumatism
Nguyễn Mậu Định*, Nguyễn Duy Huề*, Dư Đức Thiện*,
Lê Thanh Dũng*, Vũ Hoài Linh*
* Khoa CĐHA, Bệnh viện
Việt Đức.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 10 - 12 / 2012382
nghiên CỨU KHoa HỌC
I. MỞ ĐẦU
Chấn thương tạng đặc là một tổn thương hay gặp
trong chấn thương bụng kín, trong đó chấn thương
lách hay gặp nhất, nguyên nhân gây tử vong trong
chấn thương tạng đặc là do chảy máu từ các tạng bị
tổn thương, do vậy việc chẩn đoán các biến chứng
mạch máu trong chấn thương tạng đặc rất quan trọng
vì là một biến chứng nặng có thể dẫn đến tử vong nếu
không được xử trí kịp thời. Trước đây điều trị chấn
thương tạng đặc chủ yếu là phẫu thuật, ngày nay có
thể điều trị bảo tồn trong nhiều trường hợp. Với sự tiến
bộ của chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là CLVT đa dãy
việc chẩn đoán các biến chứng mạch máu trở nên dễ
dàng hơn rất nhiều, nó cho phép đánh giá chính xác
tổn thương phối hợp. Ngoài ra sự phát triển của các
phương pháp hồi sức và của các phương pháp điều trị
ít xâm lấn, tỉ lệ thành công của điều trị bảo tồn là rất cao
từ 82% đến 100%. Theo nhiều tác giả can thiệp mạch là
một phương pháp rất hiệu quả trong điều trị tổn thương
động mạch trong chấn thương tạng đặc với tỉ lệ thành
công cao, giảm được tỉ lệ tử vong, giảm được số lượng
máu phải truyền. Điều trị can thiệp nội mạch với tổn
thương mạch máu trong chấn thương bụng kín được
áp dụng rộng rãi ở Bệnh viện Việt Đức.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ năm 2008 đến năm 2012 có 37 BN được
chẩn đoán chấn thương gan, thận, lách có thoát
thuốc, giả phình động mạch hoặc thông động tĩnh
mạch trên CLVT, các BN được tiến hành chụp mạch
và làm tắc mạch.
Phương pháp
Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Thu thập thông tin theo
mẫu bệnh án chung dựa trên các đặc điểm lâm sàng:
tuổi, giới, nguyên nhân chấn thương, toàn trạng, tổn
thương phối hợp, chẩn đoán hình ảnh, diễn biến trong
quá trình theo dõi, thái độ xử trí, chỉ định chụp mạch
can thiệp, kết quả điều trị.
Tiêu chuẩn lựa chọn
BN chấn thương gan, lách, thận được chụp CLVT
có dấu hiệu thoát thuốc cản quang thì động mạch, tổn
thương giả phình hoặc thông động tĩnh mạch trên hình
ảnh CLVT. Các tổn thương gan, lách, thận được phân
độ tổn thương theo phân loại của Hội phẫu thuật chấn
thương Hoa Kỳ - AAST 1994.
Về chấn thương gan, lách, thận có chỉ định điều trị
bảo tồn không mổ dựa vào các tiêu chuẩn: tình trạng
huyết động ổn định từ đầu hoặc sau hồi sức ban đầu
(đáp ứng nhanh với bù dịch, máu). Loại trừ tổn thương
tạng trong ổ bụng khác phải mổ (tạng rỗng...).
Phương tiện nghiên cứu
Máy chụp cắt lớp vi tính hai dãy Siemens Emotion,
máy chụp số hóa xóa nền Speed heart (Shimadzu),
các ống thông 5F (Cobra, Yashiro: Terumo), ống thông
2.7F (progreat: Terumo), vật liệu nút mạch: Gelatin, keo
histoacryl, lipiodol, fibred coil (Boston).
Kĩ thuật
Gây tê tại chỗ bằng lidocain 2%, luồn ống sonde
5F, chụp tổng thể động mạch chủ bụng, sau đó tùy theo
tạng tổn thương mà tiến hành chụp chọn lọc từng động
mạch. Trong chấn thương gan, lách tiến hành chụp động
mạch thân tạng và mạc treo tràng trên (chụp động mạch
mạc treo tràng trên nhằm mục đích loại trừ khả năng
thay đổi giải phẫu động mạch gan). Trong chấn thương
thận, chụp động mạch thận hai bên. Dùng ống thông
2.7 F chọn lọc vào nhánh tổn thương (thoát thuốc, giả
phình, thông động tĩnh mạch). Dùng các vật liệu để nút
mạch tùy thương tổn. Đa số trường hợp sử dụng keo
sinh học Histoacryl trộn với Lipiodol với tỉ lệ 1:3 hoặc 1:4.
Coil là vật liệu rất tốt nhưng giá thành cao. Chúng tôi có
29/37 BN sử dụng Histoacryl, 4 trường hợp dùng PVA,
1 trường hợp dùng Spongel, 1 trường hợp dùng cả PVA
và coil, 2 trường hợp dùng coil và histoacryl.
Chụp kiểm tra động mạch thân tạng, động mạch
lách, gan chung, động mạch thận sau nút.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 10 - 12 / 2012 383
nghiên CỨU KHoa HỌC
H.a: BN Nguyễn Mạnh H, MS 3971/S34. Tổn thương thoát thuốc từ động mạch gan trên CT Scanner.
2. Hình ảnh chụp mạch. 3. Kiểm tra sau nút.
H.b: BN Đặng Thị V, MS 1512/S38. Tổn thương thoát thuốc từ nhánh động mạch cực dưới thận P.
1. Chụp ĐM thận phải. 2. Chọn lọc nhánh tổn thương bằng Microcatheter 2.7. 3. Chụp kiểm tra sau nút.
III. KẾT QUẢ
Trong 4 năm có 37 BN được chụp mạch và nút
mạch thành công, không còn chảy máu trên phim chụp
mạch, loại bỏ tổn thương giả phình, chảy máu thể hoạt
động hoặc thông động tĩnh mạch. Trong 37 BN có 26
nam (70,3%), 11 nữ (29,7%). Trẻ nhất là 15, lớn nhất
là 81, trung bình là 33+/-14,03 hay gặp nhất từ 16 – 45
chiếm 28/37 (75,7%).
Trong 37 BN có 25 chấn thương gan (67,6%), 10
chấn thương thận 27%, 2 chấn thương lách chiếm
5, 4%.
Trong 21 chấn thương gan được phân loại theo
AAST (có 4 không được phân loại do chấn thương gan
đã cũ, hình thái về chẩn đoán hình ảnh đã thay đổi)
còn đều được phân độ từ độ III trở lên, trong đó có
11 được phân độ V chiếm 52,3%, độ III và IV chiếm
47,7%. Trong 6 BN chấn thương thận (có 4 không được
phân loại do chấn thương thận đã cũ) có 5/6 BN chấn
thương thận độ III và 1/6 chấn thương thân độ II, 1
chấn thương lách độ IV.
Về kết quả gần tất cả các BN đều nút mạch thành
công, trên hình ảnh chụp mạch các tổn thương mạch
được loại bỏ hoàn toàn, không có BN nào phải chuyển
mổ để cầm máu hay phải nút mạch lần 2.
Thời gian nằm viện trung bình của BN là 11,49 +/-
7,22 ngày.
Số lượng máu trung bình phải truyền là 2,94 +/-
3,24 l, trong đó có 12 BN không phải truyền máu.
Về biến chứng của nút mạch: biến chứng nặng
phải mổ gặp 1 trường hợp biến chứng hoại tử túi mật
chiếm 2,7 %. Các biến chứng khác như đau hạ sườn
phải, trái, thắt lưng, sốt, đau vị trí chọc sẽ hết sau 1
tuần điều trị.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 10 - 12 / 2012384
nghiên CỨU KHoa HỌC
IV. BÀN LUẬN
Hiện nay, điều trị bảo tồn chấn thương tạng đặc
đang trở thành xu hướng chính vì hiệu quả của phương
pháp. Từ những năm 1960 chụp mạch đã được biết đến
như là một phương pháp chẩn đoán chấn thương gan.
Ngoài giúp xác định các tổn thương mạch máu như
thoát thuốc cản quang ra khỏi lòng mạch, giả phình hay
thông động tĩnh mạch chụp mạch còn giúp phát hiện
một số dấu hiệu khác như tụ máu dưới bao, đường vỡ,
ổ tụ máu trong nhu mô Đến 1970 chụp mạch không
những có vai trò trong chẩn đoán mà còn đóng vị trí
quan trọng trong can thiệp. Năm 1973, Bookstein và
Goldstein đã báo cáo nút mạch thành công để điều trị
thông động tĩnh mạch thận sau sinh thiết thận. Walter
(1976) và Bass (1977) đã ứng dụng chụp động mạch
và nút mạch để cầm máu động mạch gan trong chấn
thương gan.
Chúng tôi gặp chủ yếu là BN nam giới, tuổi từ 16-
45, chấn thương gan là loại gặp nhiều nhất. Theo y
văn, chấn thương lách hay gặp nhất trong chấn thương
bụng kín, do thường mất máu nhiều và cấp tính nên
thường được chỉ định mổ cấp cứu. Trong chấn thương
thận 1 số lượng lớn có tổn thương chảy máu thể hoạt
động, do thận nằm trong khoang sau phúc mạc khối
máu tụ có xu hướng bịt lại tổn thương mạch máu. Chấn
thương gan khi có tổn thương mạch, máu sẽ chảy vào
trong ổ bụng ít khi có thể tự cầm.
Về kết quả cầm máu, chúng tôi thành công 37/37
BN, không có BN nào phải mổ mở để cầm máu hay
phải nút mạch lần 2. Thời gian nằm viện trung bình là
11,49 +/- 7,22 ngày, số lượng máu phải truyền là 2,94
+/- 3,24 l. Chúng tôi chưa có nhóm chứng nhưng theo
nhiều tác giả, thời gian nằm viện và số lượng máu phải
truyền ít hơn nhiều so với phải mổ mở.
Về vật liệu nút mạch: có 2 loại vật liệu nút mạch
được sử dụng là vật liệu nút mạch tạm thời (Spongel)
và vật liệu nút mạch vĩnh viễn (Coil, Histoacryl, PVA).
Việc sử dụng vật liệu cho hiệu quả tốt phụ thuộc vào
hình thái, loại tổn thương. Một số các tác giả có xu
hướng sử dụng vật liệu nút mạch tạm thời, tuy nhiên
sử dụng Spongel thì dòng tuần hoàn sẽ được tái lập
trong vòng 2-3 tuần, do đó có thể gây chảy máu tái
phát và BN phải nút mạch lần hai. Nghiên cứu của
Ngô Lê Lâm có 3/16 BN phải nút mạch lần hai do
chảy máu tái phát. Xu hướng hiện nay nhiều tác giả
sử dụng vật liệu nút mạch vĩnh viễn, ưu điểm của loại
vật liệu này là loại bỏ hoàn toàn tổn thương, không bị
tái phát, tuy nhiên khi sử dụng PVA và Histoacryl có
nhược điểm là sự di chuyển vật liệu và gây tắc mạch.
Hiện nay, vòng xoắn kim loại (Coil) được xem là một
vật liệu an toàn song giá thành đắt do đó ít khả năng
áp dụng.
Biến chứng của phương pháp can thiệp mạch
bao gồm trong và sau can thiệp. Trong can thiệp
mạch có thể gặp máu tụ vết chọc động mạch đùi,
dính sonde, di chuyển các vật liệu nút mạch, tuy
nhiên những biến chứng này chúng tôi ít gặp. Các
biến chứng sớm thường gặp hơn như đau hạ sườn
phải, hạ sườn trái, đau thắt lưng, sốt, men gan tăng
ở những ngày sau, các thay đổi này sẽ trở về bình
thường sau điều trị hỗ trợ bằng thuốc trong một thời
gian ngắn. Trong điều trị chấn thương gan, một trong
những biến chứng sớm hay gặp là hoại tử túi mật
do sự di chuyển của vật liệu nút mạch gây tắc động
mạch túi mật, để tránh biến chứng này, việc xác định
động mạch túi mật trong chụp mạch là hết sức cần
thiết, phải nút phía sau chỗ xuất phát động mạch túi
mật nếu có thể. Việc theo dõi biến chứng này sau
mổ rất quan trọng. Các biến chứng xa hơn như viêm
xơ đường mật cần sinh thiết để chẩn đoán, các biến
chứng khác như viêm thận – bể thận, áp xe gan, lách,
thận là các biến chứng ít gặp.
V. KẾT LUẬN
Can thiệp nội mạch trong chấn thương bụng được
áp dụng rộng rãi ở Bệnh viện Việt Đức và tỏ ra là một
phương pháp điều trị rất hiệu quả các tổn thương mạch
máu, tỉ lệ biến chứng thấp, giảm thời gian nằm viện và
số lượng máu phải truyền. Kĩ thuật của phương pháp
nút mạch không khó do vậy cần được áp dụng rộng rãi
để mang lại lợi ích cho BN.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 10 - 12 / 2012 385
nghiên CỨU KHoa HỌC
1. Ngô Lê Lâm. Bước đầu đánh giá kết quả của
phương pháp gây tắc động mạch thận chọn lọc để điều
trị đái máu do chấn thương thận. Luận văn nghiệp bác
sĩ nội trú (2008).
2. Asensio JA, et al. Approach to the management of
complex hepatic injuries. J Traumka. 2000;48:66–69. 3.
3. Carrillo EH, et al. (1998) Non-operative management
of blunt hepatic trauma. Br J Surg 85:461–468.
4. Croce MA, et al. Non-operative management
of blunt hepatic trauma is the treatment of choice
for hemodynamically stable patients. Results of
a prospective trial. Ann Surg. 1995;221:744–753;
discussion 753–755.
5. Hagiwara A, et al. Nonsurgical management of
patients with blunt hepatic injury: efficacy of transcatheter
arterial embolization. AJR (1997) 169:1151–1156.
6. Isselbeck, et al. Hepatic angio embolization in trauma
patients: indications and complications. J Trauma, 2009.
67(4): p. 769-73.
7. Poletti PA, et al. (2000) CT criteria for management
of blunt liver trauma: correlation with angiographic and
surgical findings. Radiology 216:418–427.
8. Takyasu K, et al. Gallbladder infarction after
hepatic artery embolization. AJR Am J Roentgenol.
1985;144:135–138.
9. Taourel P, et al. Vascular emergencies in liver
trauma. European Journal of Radiology 64 (2007) 73–82.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÓM TẮT
Mục đích: đánh giá hiệu quả của phương pháp can thiệp nội mạch các tổn thương động mạch trong chấn
thương bụng.
Đối tượng và phương pháp: 37 bệnh nhân (BN) chấn thương bụng được chụp mạch và can thiệp mạch tại
Bệnh viên Việt Đức từ năm 2008 đến năm 2012, trong đó có 25 trường hợp chấn thương gan, 10 trường hợp chấn
thương thận và 2 trường hợp chấn thương lách.
Kết quả: tất cả 37 BN được điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch không còn chảy máu trên phim chụp
mạch (100%), không phải chuyển mổ mở để cầm máu sau khi theo dõi.
Kết luận: can thiệp nội mạch trong chấn thương bụng là 1 phương pháp điều trị hiệu quả cần được áp dụng
rộng rãi trong lâm sàng.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: GS.TS Phạm Minh Thông
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ieu_tri_can_thiep_noi_mach_cac_ton_thuong_mach_trong_chan_th.pdf