Theo thông báo của Cục Thú y (Bộ NN&PTNT)
đến ngày 3/3/2019 cho biết, dịch tả heo châu Phi đã
xuất hiện ở 202 hộ chăn nuôi thuộc 7 tỉnh, thành phố
gồm: Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh
Hóa, Hà Nam, Hải Dương và có nguy cơ lây lan rộng,
đe dọa nghiêm trọng đến nghề chăn nuôi heo ở nước
ta. Là một bệnh nguy hiểm, gây thiệt hai lớn, nhưng
cho đến nay vẫn chưa có vacxin phòng bệnh, điều này
đã khiến cho công tác phòng chống bệnh hoàn toàn
bị động, tỷ lệ heo chết khi nhiễm virus ASF gần như
100%. Do vậy biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu
là: Chẩn đoán nhanh, chính xác, tiêu hủy gọn, thực
hiện tốt công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng, kết hợp
với công tác kiểm dịch chặt chẽ. Đối với những trại
heo đã bị nhiễm, biện pháp xử lý là tiêu hủy toàn bộ số
heo nhiễm, vệ sinh, tiêu độc và khử trùng chuồng trại
triệt để với các thuốc sát trùng như Benkocid, Virkon,
Chlorine v.v. Với các trại chưa bị nhiễm bệnh, song
song với việc tăng cường công tác kiểm dịch ra vào
trại, cách ly triệt để, vệ sinh khử trùng định kỳ thì việc
áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện có nhằm nâng cao
sức đề kháng của heo cũng là một công việc cần quan
tâm. Và một trong những biện pháp kỹ thuật có thể áp
dụng là sử dụng IFN cho đàn heo khỏe.
Hiện nay, IFNα tái tổ hợp đã được kết hợp sử dụng
trong việc phòng, trị một số bệnh cho gia súc như:
Viêm đường hô hấp, viêm vú, PRRS, TGEV. Trên cơ
sở các thông tin khoa học nêu trên về IFNα có khả
năng ức chế quá trình nhân lên của virus ASF, để hỗ
trợ thêm vào các biện pháp phòng chống bệnh dịch
tả heo châu Phi, trong khi chưa sản xuất được vacxin
phòng bệnh, thì đề xuất sử dụng IFNα tái tổ hợp cho
đàn heo khỏe có thể là một giải pháp thực tế cần xem
xét, nhằm giúp tăng cường miễn dịch không đặc hiệu
cho heo và kích hoạt nhanh chóng con đường ức chế
sự nhân lên của ASFV trong những ngày đầu, khi mà
IFN nội sinh chưa được sản xuất ở một nồng độ đủ cao
để chống lại virus.
2 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Interferon type I và bệnh dịch tả heo châu Phi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
94
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Dịch tả heo châu Phi (ASF) là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm ở heo nhà và heo rừng do virus
thuộc họ Asfarviridae gây ra. Các chủng virus ASF
(ASFV) cường độc có thể gây tử vong tới 100%, trong
khi các chủng có độc lực thấp hơn có thể gây nhiễm
trùng không điển hình. Bệnh được phát hiện đầu tiên
vào năm 1921 ở các quốc gia nằm phía Nam Sahara
(châu Phi), sau đó được phát hiện ở châu Âu (1957),
Cuba và Mỹ (1967). Ngày nay, bệnh diễn biến theo 2
hướng: i/ Trở thành dịch lưu cữu đối với những nước
đã từng có dịch xảy ra và ii/ Có tính lây lan mạnh,
trở thành dịch đại lưu hành (panzootia) nếu bệnh xuất
hiện lần đầu tiên.
Virus gây bệnh dịch tả heo châu Phi (ASFV) là
một loại virus DNA mạch đôi với chiều dài bộ gen
khoảng 170-193 kbp (Chapman và cs, 2008; de
Villiers và cs, 2010; Dixon và cs, 2013). Sự thay đổi
chiều dài bộ gen do sự chèn và xóa gen trong 5 họ
đa gen (Multigenes families - MGF). Chức năng của
các gen này trong MGF hiện chưa được biết rõ. Tuy
nhiên, một nghiên cứu trước đây cho thấy các gen
trong họ MGF360 và MGF505 rất quan trọng trong
việc xác định phổ vật chủ (Burrage và cs, 2004) và có
liên quan trực tiếp đến việc cảm ứng quá trình sản xuất
Interferon (IFN) (Afonso và cs, 2004).
Hiệu quả chống virus của interferon đã được
biết từ lâu và là hàng rào bảo vệ đầu tiên chống
các bệnh gây ra do virus. IFN type I là một loại
cytokine, thành phần quan trọng của hệ thống miễn
dịch không đặc hiệu chống lại sự xâm nhiễm virus
(Randall và Goodbourn, 2008). Các thành phần của
mầm bệnh như acid nucleic được nhận biết bởi các
thụ thể nội bào và ngoại bào của vật chủ, từ đó kích
hoạt con đường dẫn truyền tín hiệu phức tạp, kích
hoạt các tế bào chức năng sản xuất IFN type I. Các
cytokine này lần lượt tạo ra sự biểu hiện đặc hiệu
của hàng trăm gen khác nhau liên quan đến sự ức
chế hoạt động của mRNA, dẫn đến ức chế sự sao
chép của virus, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
và phát triển của virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và
các tế bào khối u (Der và cs, 1998).
Virus gây bệnh dịch tả heo châu Phi (ASFV), trong
quá trình sinh sản, chủ yếu sao chép trong bạch cầu đơn
nhân và đại thực bào. Có nghiên cứu cho rằng IFNα và
IFNβ đã được phát hiện trong huyết thanh heo nhiễm
ASFV cường độc ở vùng Georgia (Mỹ) năm 2007
(Karalyan và cs, 2012). IFN có thể được các tế bào lân
cận tiết ra nhằm đáp ứng với các tín hiệu như cGAMP
(2′ -5') phát ra từ các tế bào bị nhiễm ASFV (Ablasser
và cs, 2013). Ngoài ra, IFN có thể được tiết ra bởi
các tế bào tua (Dendritic cells) để đáp ứng với nhiễm
ASFV, trong đó tế bào tua plasmacytoid (pDCs) hoặc
tế bào đơn nhân máu ngoại vi (PBMC) giàu CD4 +/
CD172 + cũng tiết ra một lượng lớn IFNα để đáp ứng
với nhiễm virus (Golding và cs, 2016). Kết quả nghiên
cứu in vivo cho thấy chủng Georgia 2007/1 cường độc
kích hoạt lượng lớn các tế bào tua sản xuất IFN nồng
độ cao gần 1000 IU/ml, riêng IFNα đạt gần 250 pg/ml
trong huyết thanh heo sau 2 ngày nhiễm bệnh. Còn kết
quả nghiên cứu in vitro cho thấy hiệu giá chủng độc
lực thấp OUR T88/3 thiếu gen MGF360 và MGF505
giảm 10 lần trong dịch nuôi cấy đã được bổ sung
IFNα tái tổ hợp với nồng độ 2000 IU/ml so với control
không được bổ sung IFN. Các kết quả nghiên cứu này
khẳng định một điều IFN được cảm ứng biểu hiện một
lượng lớn từ các tế bào pDCs và lưu hành trong máu
của heo khi có sự xâm nhiễm của chủng virus ASF
cường độc, cũng như có thể chống lại sự nhân lên của
virus chủng virus ASF độc lực thấp bị khiếm khuyết
MGF505-1R và MGF505-2R khi nồng độ IFN đạt
khoảng 2000 IU/ml.
Vai trò của IFN ức chế sự nhân lên của virus cũng
đã được nghiên cứu ở Việt Nam. Nghiên cứu của nhóm
tác giả Trần Xuân Hạnh và cs cho thấy ảnh hưởng của
IFNα ức chế quá trình nhân lên của virus PRRS (gây
hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp) phát triển trên
tế bào MARC-145. Kết quả chỉ ra rằng tế bào được xử
lý IFNα với nồng độ 1250 UI - 2500 UI/ml đã hạn chế
sự phát triển của virus PRRS và ở nồng độ 5000 UI/ml
gây ức chế hoàn toàn virus nhân lên. Khả năng ức chế
virus PRRS nhân lên của IFNα cũng được ghi nhận ở
hiệu giá virus chuẩn độ được sau gây nhiễm, với sự
khác nhau có ý nghĩa giữa các lô thí nghiệm và đối
chứng, 103,0 - 104,5 TCID
50
/ml, 102,5 - 104,0 TCID
50
/ml
và nhỏ hơn 101,0 TCID
50
/ml, tương ứng với các nồng
INTERFERON TYPE I VAØ BEÄNH DÒCH TAÛ HEO CHAÂU PHI
Trần Xuân Hạnh, Nguyễn Quang Huy
Công ty NAVETCO
95
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
độ IFNα sử dụng 1250 - 2500 UI và 5000 UI/ml so
sánh với 105,5 - 106,0 TCID
50
/ml của lô đối chứng. Thí
nghiệm cũng chỉ ra có sự khác nhau về hiệu quả ức
chế của IFNα khi xử lý tế bào ở các thời điểm khác
nhau: Trước nhiễm virus, đồng thời với nhiễm virus
và sau khi nhiễm virus. Tiêm vacxin PRRS vô hoạt kết
hợp với IFNα đã kích thích đáp ứng kháng thể ở heo
và kháng thể chống virus PRRS có thể đo được bằng
kỹ thuật ELISA ở ngày thứ 21 sau tiêm vacxin, trong
khi lô thí nghiệm chỉ tiêm vacxin hoặc chỉ tiêm IFNα
và lô đối chứng cho kết quả ELISA âm tính. Nhiều
nghiên cứu cũng đã chứng minh về khả năng của IFN
ức chế sự nhân lên của virus DNA. Paez.E và cs thông
báo rằng IFNα và IFNγ đã ức chế virus ASF nhân lên
trong tế bào Vero và một phát hiện có ý nghĩa khác là
việc xử lý liên tục bằng IFNα đã bảo vệ được tế bào
Vero không bị phá hủy và tránh được sự nhiễm trùng
lâu dài với virus ASF.
Theo thông báo của Cục Thú y (Bộ NN&PTNT)
đến ngày 3/3/2019 cho biết, dịch tả heo châu Phi đã
xuất hiện ở 202 hộ chăn nuôi thuộc 7 tỉnh, thành phố
gồm: Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh
Hóa, Hà Nam, Hải Dương và có nguy cơ lây lan rộng,
đe dọa nghiêm trọng đến nghề chăn nuôi heo ở nước
ta. Là một bệnh nguy hiểm, gây thiệt hai lớn, nhưng
cho đến nay vẫn chưa có vacxin phòng bệnh, điều này
đã khiến cho công tác phòng chống bệnh hoàn toàn
bị động, tỷ lệ heo chết khi nhiễm virus ASF gần như
100%. Do vậy biện pháp phòng chống bệnh chủ yếu
là: Chẩn đoán nhanh, chính xác, tiêu hủy gọn, thực
hiện tốt công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng, kết hợp
với công tác kiểm dịch chặt chẽ. Đối với những trại
heo đã bị nhiễm, biện pháp xử lý là tiêu hủy toàn bộ số
heo nhiễm, vệ sinh, tiêu độc và khử trùng chuồng trại
triệt để với các thuốc sát trùng như Benkocid, Virkon,
Chlorinev.v. Với các trại chưa bị nhiễm bệnh, song
song với việc tăng cường công tác kiểm dịch ra vào
trại, cách ly triệt để, vệ sinh khử trùng định kỳ thì việc
áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện có nhằm nâng cao
sức đề kháng của heo cũng là một công việc cần quan
tâm. Và một trong những biện pháp kỹ thuật có thể áp
dụng là sử dụng IFN cho đàn heo khỏe.
Hiện nay, IFNα tái tổ hợp đã được kết hợp sử dụng
trong việc phòng, trị một số bệnh cho gia súc như:
Viêm đường hô hấp, viêm vú, PRRS, TGEV. Trên cơ
sở các thông tin khoa học nêu trên về IFNα có khả
năng ức chế quá trình nhân lên của virus ASF, để hỗ
trợ thêm vào các biện pháp phòng chống bệnh dịch
tả heo châu Phi, trong khi chưa sản xuất được vacxin
phòng bệnh, thì đề xuất sử dụng IFNα tái tổ hợp cho
đàn heo khỏe có thể là một giải pháp thực tế cần xem
xét, nhằm giúp tăng cường miễn dịch không đặc hiệu
cho heo và kích hoạt nhanh chóng con đường ức chế
sự nhân lên của ASFV trong những ngày đầu, khi mà
IFN nội sinh chưa được sản xuất ở một nồng độ đủ cao
để chống lại virus.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Afonso C.L., Piccone M.E., Zaffuto K.M., Neilan J.,
Kutish G.F., Lu Z., Balinsky C.A., Gibb T.R., Bean T.J.,
Zsak L., Rock D.L. African swine fever virus multigene
family 360 and 530 genes affect host interferon response. J.
Virol. 2004;78:1858–1864.
2. Burrage T.G., Lu Z., Neilan J.G., Rock D.L., Zsak L. African
swine fever virus multigene family 360 genes affect virus
replication and generalization of infection in Ornithodoros
porcinus ticks. J. Virol. 2004;78:2445–2453.
3. Chapman D.A., Tcherepanov V., Upton C., Dixon L.K.
Comparison of the genome sequences of non-pathogenic
and pathogenic African swine fever virus isolates. J. Gen.
Virol. 2008;89:397–408.
4. de Villiers E.P., Gallardo C., Arias M., da Silva M.,
Upton C., Martin R., Bishop R.P. Phylogenomic analysis
of 11 complete African swine fever virus genome
sequences. Virology. 2010;400:128–136.
5. Der S.D., Zhou A., Williams B.R., Silverman R.H.
Identification of genes differentially regulated by interferon
alpha, beta, or gamma using oligonucleotide arrays. Proc.
Natl. Acad. Sci. USA. 1998;95:15623–15628.
6. Dixon L.K., Chapman D.A., Netherton C.L., Upton C.
African swine fever virus replication and genomics. Virus
Res. 2013;173:3–14.
7. Golding JP, Goatley L, Goodbourn S, Dixon LK, Taylor G,
Netherton CL. Sensitivity of African swine fever virus to type
I interferon is linked to genes within multigene families 360
and 505. Virology. 2016 Jun; 493:154-161.
8. Karalyan Z., Zakaryan H., Sargsyan K., Voskanyan H.,
Arzumanyan H., Avagyan H., Karalova E. Interferon
status and white blood cells during infection with
African swine fever virus in vivo. Vet. Immunol.
Immunopathol. 2012;145:551–555.
9. Paez.E, GarciaF, and Carmen Gil Fernandez. Interferon cures
cells lytically and persistently infected with African swine
fever virus in vitro. Archives of Virology. 1990; 112: 115-127.
10. Randall R.E., Goodbourn S. Interferons and viruses: an
interplay between induction, signalling, antiviral responses
and virus countermeasures. J. Gen. Virol. 2008;89:1–47.
11. Trần Xuân Hạnh, Bùi Anh Thy, Kim Văn Phúc, Nguyễn Tăng
Trường. Ảnh hưởng của Interferon alpha (IFN-α) đối với virut
gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp lợn. Tạp chí KHKT
Thú y – tập XIX – số 2 – 2012.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
interferon_type_i_va_benh_dich_ta_heo_chau_phi.pdf