Thang điểm Alvarado là một thang điểm tốt và
công bố rộng rãi với 10 điểm chấm trên hệ thống chấm
điểm lâm sàng. Trong các nghiên cứu tiến cứu, người
ta cho rằng điểm số của Alvarado không đủ để chẩn
đoán.[6] Chúng tôi sử dụng điểm Alvarado kết hợp với
siêu âm là một phương pháp khách quan để phân tầng
bệnh nhân theo nguy cơ để xác định những người có
xác suất cao hoặc thấp bị viêm ruột thừa. Trong nghiên
cứu này, điểm cắt của bảng điểm Alvarado là 7 điểm
giúp dự báo tốt viêm ruột thừa. Tất cả các bệnh nhân
với điểm số Alvarado từ 7 trở lên có chẩn đoán viêm
ruột thừa cấp tính.
Kết hợp hai phương pháp siêu âm và Alvarado cho
độ nhạy cao hơn trong chẩn đoán. Trong trường hợp
siêu âm không viêm ruột thừa và điểm Alvarado thấp
(<5 điểm) thì không cần chụp CLVT hay phẫu thuật.
Nghiên cứu cho thấy rằng nếu bệnh nhân có điểm trung
bình Alvarado (tức là điểm số Alvarado 5,6) và siêu
âm không thể quan sát thấy ruột thừa viêm hoặc bình
thường, thì khi đó, CT nên được xem xét bất chấp nguy
cơ nhiễm xạ, để loại trừ các trường hợp dương tính
và âm tính giả. Bên cạnh nguy cơ nhiễm xạ, CT cũng
ít được kỳ vọng là có giá trị ở trẻ em và người gầy vì ít
mỡ trong bụng, dẫn đến khó khăn trong việc khảo sát
ruột và đánh giá thâm nhiễm mỡ.Nhưng nếu bệnh nhân
bị béo phì, đó là yếu tố hạn chế trong việc sử dụng siêu
âm, đánh giá thêm bằng CLVT có thể được xem xét.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết hợp siêu âm và bảng điểm Alvarado trong chẩn đoán viêm ruột thừa cấp ở người lớn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
19ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 29 - 1/20178
The aim of this study was to investigate the integration of
ultrasound (US) findings with Alvarado scorein diagnosing or
excluding acute appendicitis. Data were analyzed in 158 patients
with suspected appendicitis at Viet Duc Hospital, who had undergone
US. The USfindings were classified into four groups, and the patients
were classified into three groups according to Alvarado score.
US results and Alvarado score were compared. Alvarado score
was a good predictor of appendicitis for scores ≥7. In the case of
non-visualization of the appendix without a high Alvarado score,
appendicitis can be safely ruled out.
Keywords: ultrasound, Alvarado, acute appendicitis
KẾT HỢP SIÊU ÂM VÀ BẢNG ĐIỂM
ALVARADO TRONG CHẨN ĐOÁN
VIÊM RUỘT THỪA CẤP Ở NGƯỜI LỚN
Integration of ultrasound findings with Alvarado
score in Adult with suspected acute appendicitis
Đinh Thu Hằng, Nguyễn Duy Huề
Trường Đại học Y Hà Nội,
Bệnh viện Việt Đức
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 29 - 1/201820
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm ruột thừa cấp là nguyên nhân phổ biến nhất
gây đau bụng ngoại khoa[1]. Viêm ruột thừa (VRT) chẩn
đoán dựa trên lâm sàng, nhưng khi chẩn đoán lâm sàng
khó khăn, siêu âm được chứng minh có hữu ích trong
đánh giá bệnh nhân[2]. Phương pháp hỗ trợ trong chẩn
đoán VRT khác như soi ổ bụng, cắt lớp vi tính và cộng
hưởng từ [3]. Siêu âm là phương pháp ít tốn chi phí nhất
và không xâm lấn, đã được báo cáo với độ chính xác
70-95% [4]. Đặc điểm trên siêu âm được chia thành 3
nhóm: không VRT, nghi ngờ viêm ruột thừa, VRT. Bảng
điểm Alvarado là hệ thống 10 điểm dùng để chẩn đoán
viêm ruột thừa cấp dựa trên đặc điểm, triệu chứng lâm
sàng và số lượng bạch cầu (bảng 1) [5]. Trường hợp âm
tính thì mình bảng điểm Alvarado không đủ chẩn đoán
[6]. Ruột thừa (RT) bình thường có thể thấy trên siêu âm.
Theo nghiên cứu, khả năng nhìn thấy RT bình thường
dao động từ 2- 82% [7]. Khi không nhìn thấy hình ảnh
ruột thừa bình thường hay không thấy RT viêm trên siêu
âm, CLVT được sử dụng. Nhìn chung, theo nghiên cứu
độ nhạy và độ đặc hiệu của CT trong chẩn đoán VRT
cao hơn siêu âm [8]. Do khả năng nhiễm xạ, CLVT không
được sử dụng phổ biến. Khi không thấy RT bình thường
hay ruột thừa viêm trên siêu âm, kết hợp bảng điểm
Alvarado và siêu âm có thể đánh giá bệnh nhân thành 2
nhóm chẩn đoán không viêm ruột thừa và viêm ruột thừa
cấp. Trong nghiên cứu này chúng tôi kết hợp siêu âm
và bảng điểm Alvarado (thấp, trung bình, cao) trong chẩn
đoán hay loại trừ viêm ruột thừa cấp. Do đó, mục đích
của nghiên cứu là phân tích tính thống nhất của siêu âm
và bảng điểm alvarado trong chẩn đoán VRT.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng
Bao gồm 158 bệnh nhân nghi ngờ VRT từ tháng
5 – 12/2016 tại Bệnh viện Việt Đức
Tiêu chuẩn lựa chọn: người lớn >16 tuổi, đau bụng
cấp (đau đột ngột <3ngày), lâm sàng nghi ngờ VRT,
được siêu âm. Siêu âm được tiến hành bởi hai bác sĩ
chẩn đoán hình ảnh kinh nghiệm (2 năm kinh nghiệm).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu
- Phương pháp: tiến hành song song đánh giá
siêu âm và bảng điểm Alvarado đối với bệnh nhân
nghiên cứu.
+ Các nhà chẩn đoán hình ảnh không có thông
tin về điểm Alvarado của bệnh nhân. Phân loại kết quả
siêu âm bụng thành 4 nhóm:
• Nhóm 1: ruột thừa bình thường
• Nhóm 2: không thấy được RT, không có dấu hiệu
thứ phát của VRT
• Nhóm 3: ruột thừa không thấy được, thấy >=1
dấu hiệu thứ phát viêm ruột thừa.
• Nhóm 4: Ruột thừa viêm, ruột thừa vỡ.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán VRT trên siêu âm bao
gồm: ruột thừa ứ dịch, ấn không xẹp, cấu trúc một đầu
tận đường kính >=6mm [9].
+ Dấu hiệu thứ phát của viêm ruột thừa bao gồm
thâm nhiễm mỡ xung quanh, dịch khu trú gợi ý ổ áp xe,
giãn quai ruột lân cận (dấu hiệu viêm phúc mạc khu trú).
+ Chẩn đoán siêu âm nhóm 1,2 được cho là siêu
âm âm tính, nhóm 3,4 là siêu âm dương tính.
+ Sau khi siêu âm, bác sĩ ngoại khoa tính điểm
Alvarado và phân bệnh nhân thành 3 nhóm: (1) điểm
Alvarado thấp (<=4 điểm); (2) Điểm Alvarado trung bình
(5,6 điểm); (3) Điểm cao (>=7 điểm).
Viêm ruột thừa được ghi nhận trong phẫu thuật và
kết quả giải phẫu bệnh. Dữ liệu lâm sàng của tất cả các
bệnh nhân sau điều trị được thu thập qua khám lại theo
hẹn hoặc gọi điện thoại.
Bảng 1. Bảng điểm Alvarado
Triệu chứng Điểm
Đau bụng hố chậu phải 1
Buồn nôn/ nôn 1
Chán ăn 1
Dấu hiệu
Tăng cảm giác đau HCP 2
Phản ứng thành bụng HCP 1
Sốt 1
Xét nghiệm
Bạch cầu tăng 2
Tăng bạch cầu đa nhân trung tính 1
Tổng điểm 10
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 29 - 1/2018 21
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
III. KẾT QUẢ
Tỷ lệ mắc viêm ruột thừa được khẳng định sau mổ
hoặc giải phẫu bệnh, trong nghiên cứu là 81,6%. Nhóm
bệnh nhân được chẩn đoán viêm ruột thừa theo thang
điểm Alvarado (≥7 điểm) chiếm 64,5% trong đó nhóm
7-8 điểm có tỷ lệ cao nhất 55,7%. Nhóm bệnh nhân
không nghĩ tới viêm ruột thừa hoặc nghi ngờ viêm ruột
thừa theo thang điểm Avarado (< 7 điểm) chiếm 35,5%.
Bảng điểm Alvarado có độ nhạy 75,2%, độ đặc hiệu
82,7%, độ chính xác 76,6%.
Siêu âm phân thành 4 nhóm bệnh nhân, nhóm
siêu âm cho kết quả dương tính (nhóm 3 và 4) có 128
bệnh nhân, chiếm 81,01% trong đó nhóm 4 chiếm tỷ
lệ cao nhất 77,86%. Kết luận siêu âm âm tính có 30
bệnh nhân (18,99%). Giá trị của siêu âm trong chẩn
đoán VRTC có độ nhạy 94,57%, độ đặc hiệu 79,31%,
độ chính xác 91,77%.
Nghiên cứu 2 phương pháp song song cho ta
thấy thang điểm Alvarado và kết quả siêu âm cho kết
quả thống nhất mức độ vừa với chỉ số Kappa = 0,48
(p<0,01), kiểm định khi bình phương cũng phản ánh
tính liên quan của hai phương pháp này với p<0,01.
Alvarado Kiểm định
<7 ≥7
Siêu âm
(n=158)
Không
VRT
26 4 Chỉ số Kappa 0,48
với p<0,01
Kiểm định khi bình
phương p<0,01
Viêm
ruột thừa
30 98
Trong nhóm siêu âm chẩn đoán không viêm ruột
thừa, nhóm điểm Alvarado chiếm tỷ lệ phần trăm cao
nhất là nhóm <5 điểm chiếm 50,0% (15 bệnh nhân),
trong đó 14 bệnh nhân (93,3%) có kết luận sau điều
trị là không viêm ruột thừa. Trong nhóm siêu âm
chẩn đoán viêm ruột thừa, 76,6% bệnh nhân có điểm
Alvarado ≥7điểm và trong đó 95,9% có kết quả GPB là
viêm ruột thừa.
Alvarado
Chẩn đoán
cuối cùng
Tổng
VRT
Không
VRT
SA chẩn
đoán không
VRT
<5 điểm 1 14 15
5-6 điểm 3 8 11
7-8 điểm 3 1 4
>8 điểm 0 0 0
Tổng 7 23 30
SA chẩn
đoán VRT
<5 điểm 4 1 5
5-6 điểm 24 1 25
7-8 điểm 81 3 84
>8 điểm 13 1 14
Tổng 122 6 128
Kết hợp hai phương pháp chẩn đoán có nghĩa là
trường hợp kết luận siêu âm âm tính và điểm Alvarado
thấp thì kết luận không viêm ruột thừa, có thể tiến
hành điều trị nội khoa hoặc theo dõi. Nếu một trong hai
phương pháp cho kết quả dương tính thì cần xem xét
mổ. Khi kết hợp hai phương pháp chẩn đoán cho chúng
ta giá trị độ nhạy 96,12%, độ đặc hiệu 81,5%, độ chính
xác 92,4%.
IV. BÀN LUẬN
Chẩn đoán hình ảnh về viêm ruột thừa đã được cải
thiện liên tục trong vòng thập kỷ qua. Siêu âm đã được
sử dụng là phương pháp chẩn đoán hình ảnh chính bởi
vì nó an toàn nhiễm xạ và tương đối dễ dàng, nhanh
chóng[10]. Siêu âm sẽ hạn chế trong tình huống không
quan sát thấy ruột thừa hoặc không thấy viêm ruột thừa
và quản lý các chiến lược điều trị hiếm khi dựa trên các
kết quả hình ảnh có giá trị âm tính. Trong tình huống
như vậy, bảng điểm lâm sàng, CT, MRI và nội soi ổ
bụng, có thể được sử dụng trong chẩn đoán viêm ruột
thừa cấp tính.
Chúng tôi đã xác nhận trong chẩn đoán viêm ruột
thừa, siêu âm có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác
cao với có độ nhạy 94,57%, độ đặc hiệu 79,31%, độ
chính xác 91,77%. Mặc dù độ chính xác của siêu âm
trong chẩn đoán viêm ruột thừa nhìn chung là cao, tuy
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 29 - 1/201822
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
nhiên trong một số trường hợp siêu âm còn hạn chế có
thể tạo ra kết quả dương tính giả và âm tính giả. Nghiên
cứu của chúng tôi trong 26/158 trường hợp, ruột thừa
bình thường hoặc viêm không được quan sát thấy,
trong đó có năm trường hợp phẫu thuật chứng minh
viêm ruột thừa. Các lý do khác cho kết quả âm tính giả
là vấn đề của đo đạc đặc biệt là trong viêm ruột thừa
khu trú[11]. Nếu đo phần ruột thừa không viêm, đặc
biệt là phần gốc, viêm ruột thừa có thể bị bỏ qua[12].
Để giảm thiểu lỗi này, điều quan trọng là phải khảo sát
hết toàn bộ ruột thừa. Trong nghiên cứu này có 8 kết
quả dương tính giả của siêu âm. Nhiều bệnh có thể có
ruột thừa bất thường như: u nhầy ruột thừa và bệnh
Crohn[13]. Một số bệnh như bệnh Crohn và viêm phúc
mạc, cũng có thể giống với bệnh viêm ruột thừa cấp
trong trường hợp không quan sát thấy ruột thừa, do
xuất hiện các dấu hiệu gián tiếp.
Thang điểm Alvarado là một thang điểm tốt và
công bố rộng rãi với 10 điểm chấm trên hệ thống chấm
điểm lâm sàng. Trong các nghiên cứu tiến cứu, người
ta cho rằng điểm số của Alvarado không đủ để chẩn
đoán.[6] Chúng tôi sử dụng điểm Alvarado kết hợp với
siêu âm là một phương pháp khách quan để phân tầng
bệnh nhân theo nguy cơ để xác định những người có
xác suất cao hoặc thấp bị viêm ruột thừa. Trong nghiên
cứu này, điểm cắt của bảng điểm Alvarado là 7 điểm
giúp dự báo tốt viêm ruột thừa. Tất cả các bệnh nhân
với điểm số Alvarado từ 7 trở lên có chẩn đoán viêm
ruột thừa cấp tính.
Kết hợp hai phương pháp siêu âm và Alvarado cho
độ nhạy cao hơn trong chẩn đoán. Trong trường hợp
siêu âm không viêm ruột thừa và điểm Alvarado thấp
(<5 điểm) thì không cần chụp CLVT hay phẫu thuật.
Nghiên cứu cho thấy rằng nếu bệnh nhân có điểm trung
bình Alvarado (tức là điểm số Alvarado 5,6) và siêu
âm không thể quan sát thấy ruột thừa viêm hoặc bình
thường, thì khi đó, CT nên được xem xét bất chấp nguy
cơ nhiễm xạ, để loại trừ các trường hợp dương tính
và âm tính giả. Bên cạnh nguy cơ nhiễm xạ, CT cũng
ít được kỳ vọng là có giá trị ở trẻ em và người gầy vì ít
mỡ trong bụng, dẫn đến khó khăn trong việc khảo sát
ruột và đánh giá thâm nhiễm mỡ.Nhưng nếu bệnh nhân
bị béo phì, đó là yếu tố hạn chế trong việc sử dụng siêu
âm, đánh giá thêm bằng CLVT có thể được xem xét.
V. KẾT LUẬN
Thang điểm Alvarado và siêu âm có sự phù hợp
với nhau trong chẩn đoán VRT. Phối hợp siêu âm và
bảng điểm Alvarado trong các trường hợp nghi ngờ
giúp tăng độ nhạy và giá trị chẩn đoán lâm sàng, giảm
tỷ lệ chụp CLVT. Trong trường hợp không quan sát thấy
ruột thừa viêm trên siêu âm, khi điểm số Alvarado không
cao, viêm ruột thừa có thể được loại trừ một cách an
toàn. CLVT có thể hữu ích khi điểm Alvarado trung bình
và có hình ảnh nghi ngờ trên siêu âm.
1. Treutner, K.-H. and V. Schumpelick, Epidemiology
of appendicitis. Der Chirurg, 1997. 68(1): p. 1-5.
2. Ebell, M.H., Diagnosis of appendicitis: part
1. History and physical examination. American family
physician, 2008. 77(6): p. 828-830.
3. Incesu, L., et al., Acute appendicitis: MR
imaging and sonographic correlation. AJR. American
journal of roentgenology, 1997. 168(3): p. 669-674.
4. Doria, A.S., et al., US or CT for diagnosis of
appendicitis in children and adults? A meta-analysis.
Radiology, 2006. 241(1): p. 83-94.
5. Winn, R.D., et al., Protocol‐based approach
to suspected appendicitis, incorporating the Alvarado
score and outpatient antibiotics. ANZ journal of surgery,
2004. 74(5): p. 324-329.
6. Macklin, C., et al., A prospective evaluation of
the modified Alvarado score for acute appendicitis in
children. Annals of the Royal College of Surgeons of
England, 1997. 79(3): p. 203.
7. Jeffrey Jr, R., F.C. Laing, and R.R. Townsend,
Acute appendicitis: sonographic criteria based on 250
cases. Radiology, 1988. 167(2): p. 327-329.
8. Sivit, C.J., et al., Imaging evaluation of
suspected appendicitis in a pediatric population:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 29 - 1/2018 23
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
effectiveness of sonography versus CT. American
Journal of Roentgenology, 2000. 175(4): p. 977-980.
9. Wiersma, F., A. Šrámek, and H.C. Holscher,
US features of the normal appendix and surrounding
area in children. Radiology, 2005. 235(3): p. 1018-1022.
10. Skaane, P., et al., Routine ultrasonography in
the diagnosis of acute appendicitis: a valuable tool in
daily practice? The American surgeon, 1997. 63(11): p.
937-942.
11. Lim, H.K., et al., Focal appendicitis confined
to the tip: diagnosis at US. Radiology, 1996. 200(3): p.
799-801.
12. Ramachandran, P., et al., Ultrasonography
as an adjunct in the diagnosis of acute appendicitis: a
4-year experience. Journal of pediatric surgery, 1996.
31(1): p. 164-169.
13. Puylaert, J.B., Ultrasonography of the acute
abdomen. Radiologic Clinics, 2003. 41(6): p. 1227-1242.
TÓM TẮT
Viêm ruột thừa là cấp cứu ngoại khoa hay gặp nhất, có thể chẩn đoán viêm ruột thừa dựa vào đặc điểm lâm
sàng, xét nghiệm và siêu âm.
Mục đích nghiên cứu là phân tích sự thống nhất giữa đặc điểm siêu âm và bảng điểm Alvarado trong chẩn
đoán viêm ruột thừa cấp.
Nghiên cứu tiến cứu trên 158 bệnh nhân nghi ngờ viêm ruột thừa cấp được làm siêu âm. Siêu âm phân loại
thành 4 nhóm, và dựa vào bảng điểm alvarado bệnh nhân được chia thành 3 nhóm. Siêu âm có độ nhạy, độ đặc
hiệu và độ chính xác cao với có độ nhạy 94,57%, độ đặc hiệu 79,31%, độ chính xác 91,77%. Bảng điểm Alvarado
có độ nhạy 75,2%, độ đặc hiệu 82,7%, độ chính xác 76,6%.
Kết quả siêu âm và điểm Alvarado thống nhất với nhau. Kết quả cho thấy bảng điểm Alvarado dự báo tốt viêm
ruột thừa cấp với điểm ≥7. Trong trường hợp siêu âm không tìm thấy ruột thừa, không có điểm Alvarado cao, có
thể loại trừ viêm ruột thừa.
Từ khóa: Viêm ruột thừa cấp, Alvarado, siêu âm.
Người liên hệ: Đinh Thu Hằng; Email: drdinhthuhang@gmail.com
Người nhận bài: 3/10/2017; Ngày chấp nhận đăng: 30/11/2017
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_hop_sieu_am_va_bang_diem_alvarado_trong_chan_doan_viem_r.pdf