Hiệu quả sử dụng các loại thuốc hóa
học trừ sâu keo mùa thu đối với ngô
Sâu keo mùa thu ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí sản xuất ngô khi chi phí sử dụng thuốc
trừ sâu tăng và yêu cầu lao động tăng. Số liệu ở
bảng 4 cho thấy hiệu quả kinh tế trong sản xuất
nhân dòng ngô đạt cao nhất ở công thức CT4
(phun kết hợp + kép) với lãi thuần 86,54 triệu
đồng/ha; công thức phun kết hợp CT3 cao thứ
hai với tiền lãi đạt 60,65 triệu đồng/ha; trong
khi đó, tại hai công thức (CT1, CT2) phun đơn
Dupont Prevathon 5SC hoặc Radiant 60SC, giá
trị lãi thuần đạt rất thấp, thậm chí có giá trị âm
(-1,68 triệu đồng/ha - người trồng ngô bị thiệt
hại 1,68 triệu đồng/ha), quá trình trồng ngô
không mang lại lợi nhuận cho người sản xuất do
sự phá hại của sâu keo mùa thu.
Như vậy, khi sử dụng kết hợp 2 loại thuốc
trừ sâu Dupont Prevathon 5SC và Radiant 60SC
(hoạt chất Chlorantraniliprole 5% và Spinetoram
60%) kết hợp phun kép - phun lặp lại sau 3 ngày,
cho hiệu quả diệt trừ sâu cao nhất và không làm
ảnh hưởng đến năng suất ngô.
Hai loại thuốc trừ sâu Dupont Prevathon
5SC và Radiant 60SC có giá khá cao trên thị
trường hiện nay (20.000-30.000 đồng/gói), khi
sử dụng kết hợp hai thuốc và phun kép sẽ làm
tăng chi phí sản xuất ngô lên rất cao. Thí
nghiệm này được tiến hành trên vật liệu ngô
bố/mẹ của giống ngô VNUA69 với giá bán
800.000 đồng/kg, do vậy chúng tôi thu được lợi
nhuận cao trong sản xuất. Tuy nhiên, nếu sử
dụng phương pháp phun này đối với sản
xuất ngô thương phẩm, lợi nhuận thu được
không cao.
Vì vậy, phương pháp sử dụng kết hợp 2 loại
thuốc trừ sâu Dupont Prevathon 5SC và
Radiant 60SC (hoạt chất Chlorantraniliprole
5% và Spinetoram 60%) kết hợp phun kép -
phun lặp lại sau 3 ngày được khuyến cáo sử
dụng diệt trừ sâu keo trong quá trình sản xuất
hạt ngô dòng bố/ mẹ của ngô giống.
Mặc dù hai loại thuốc trừ sâu trong thí
nghiệm có thể giúp kiểm soát sâu keo mùa thu
hiệu quả, tuy nhiên, không nên quá lạm dụng
việc kiểm soát sâu hoàn toàn phụ thuộc vào 2
loại thuốc trừ sâu đó, sử dụng thuốc lâu dài có
thể làm dịch hại nhanh phát triển tính kháng
thuốc. Do đó, để tránh tình trạng kháng thuốc
xảy ra, sau một thời gian sử dụng, cần tiến
hành thêm nghiên cứu thay luân phiên thuốc
trừ sâu với các hoạ
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của hai loại thuốc hóa học dupont prevathon 5sc và radiant 60sc đến tỉ lệ phòng trừ sâu keo mùa thu (spodoptera frugiperda) trên cây ngô, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.12: 1132-1138 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(12): 1132-1138
www.vnua.edu.vn
1132
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA HAI LOẠI THUỐC HÓA HỌC DUPONT PREVATHON 5SC VÀ RADIANT 60SC
ĐẾN TỈ LỆ PHÒNG TRỪ SÂU KEO MÙA THU (Spodoptera frugiperda) TRÊN CÂY NGÔ
Dương Thị Loan*, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà,
Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Văn Liết
Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng
*Tác giả liên hệ: duongloan89@gmail.com
Ngày nhận bài: 11.02.2020 Ngày chấp nhận đăng: 17.08.2020
TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này là sử dụng hai loại thuốc hóa học Dupont Prevathon 5SC và Radiant 60SC để
quản lý sự xâm nhập của sâu keo mùa thu trên đối tượng cây ngô, cho hiệu quả diệt trừ sâu cao nhất, ít độc hại với
con người và môi trường. Thí nghiệm thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng trong vụ Thu Đông 2019,
sử dụng hai loại thuốc trừ sâu ít độc: Dupont Prevathon 5SC (hoạt chất Chlorantraniliprole 5%) và Radiant 60SC
(hoạt chất Spinetoram 60%), liều lượng thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Kết quả đã xác định được công
thức phun phối hợp Chlorantraniliprole 5%+ Spinetoram 60%, phun kép cho hiệu quả diệt trừ sâu keo mùa thu đạt
cao nhất, trừ được 100% sâu trên cây sau 7 ngày phun thuốc và không làm ảnh hưởng đến năng suất ngô
cuối cùng.
Từ khóa: Sâu keo mùa thu, Dupont Prevathon 5SC , Radiant 60SC, phun kép, hiệu quả trừ sâu.
Initial Research on the Effects
of Two Chemical Products of Duponts Prevathon 5SC and Radiant 60SC
on the Rate of Prevention of Fall Armyworm (Spodoptera frugiperda) on Maize
ABSTRACT
This study aimed to use two insecticidal products, Dupont Prevathon 5SC and Radiant 60SC, to manage the
infestation of the Fall Armyworm on maize. These products have shown the highest effective insecticide, less toxic to
humans and the environment. The experiments were conducted at the Plant Research and Development Institute in
the Autumn-Winter 2019, using two low-toxic insecticides: Dupont Prevathon 5SC (active ingredient
Chlorantraniliprole 5 percent) and Radiant 60SC (active ingredient Spinetoram 60 percent), the dosage of the drug as
recommended by the manufacturer. The results have identified the combination spray formula Chlorantraniliprole 5
percent + Spinetoram 60 percent, repeated spraying results in the highest fall glue insecticide, eliminating 100
percent of insects on trees after 7 days of spraying and has not caused the effect on the final corn yields.
Keywords: Fall Armyworm, Dupont Prevathon 5SC, Spinetoram, spray repeat, insecticide efficiency.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là
một loại sâu đa thực khi thành dịch thì gây hại
rất lớn đến nền kinh tế thế giới. Loại sâu này
gây hại chủ yếu đối với cây ngô và các loài cây
trồng khác có nguồn gốc từ châu Mỹ (Andrew,
1980). Sâu keo mùa thu gây hại nghiêm trọng
ngô châu Phi vào năm 2016, sau đó lan rộng ra
các nước chấu Á: Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan,
Myanma Sâu keo mùa thu tấn công trên cây
ngô ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát
triển khác nhau. Ban đầu sâu ăn lá, xâm nhập
phá hại đỉnh sinh trưởng và các bộ phận khác
của cây, làm thiệt hại đáng kể đến năng suất
cuối cùng của cây ngô, thậm chí dẫn đến mất
Dương Thị Loan, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Văn Liết
1133
100% năng suất (De Almeida Sarmento & cs.,
2002). Theo Trung tâm Nông nghiệp và Sinh
học Quốc tế (2019), ước tính sâu keo mùa thu có
khả năng gây thiệt hại năng suất từ 8,3 đến
20,6 triệu tấn ngô hạt mỗi năm, trị giá từ 2,5
đến 6,2 tỷ USD trong trường hợp không có
phương pháp kiểm soát dịch hại thích hợp tại 12
quốc gia sản xuất ngô của châu Phi. Đây là loại
dịch hại cần kiểm soát chặt chẽ, có khả năng
cản trở thương mại và xuất khẩu, ảnh hưởng
đáng kể đến nền kinh tế của nhiều quốc gia trên
thế giới (CABI & FAO, 2019).
Ở Việt Nam, sâu keo mùa thu đã gây hại
trên ngô từ tháng 4/2019 và đã lan nhanh ra 37
tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có Hà Nội
và gây hại nghiêm trọng đến sản xuất ngô. Tính
đến tháng 8/2019, có hơn 18.000ha ngô trên
toàn quốc đã bị sâu keo mùa thu phá hại (Cục
Bảo vệ thực vật, 2019). Đây là loài dịch hại có
tốc độ lây lan nhanh chóng bởi khả năng di
chuyển nhanh, với bán kính rộng, những con
bướm trưởng thành có thể bay hơn 100km trong
một đêm (Johnson, 1987). Sâu keo mùa thu
đang trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với
sản xuất ngô ở Việt Nam. Việc phòng trừ hết sức
khó khăn và tốn kém do tốc độ sâu sinh sản
nhanh, vòng đời dài, khả năng phát tán rộng,
trong khi tập quán canh tác nhỏ lẻ, thời vụ gieo
trồng đan xen, cơ cấu giống đa dạng. Cho đến
nay, với nhiều biện pháp phòng trừ sâu keo mùa
thu hại ngô được các địa phương áp dụng bước
đầu đã ngăn chặn để không cho thành dịch, tuy
nhiên để trừ triệt để loại sâu này vẫn được tiếp
tục nghiên cứu.
Theo khuyến cáo của Cục Bảo vệ thực vật
(2019), một số loại thuốc trừ sâu keo mùa thu
được sử dụng trên thị trường nước ta hiện nay:
Radiant 60SC (Spinetoram 60%), Dupont
Prevathon 5SC (Chlorantraniliprole 5%)
Diophos 666EC (Deltamethrin 36 g/l,
Chloorpyrifos Ethyl 425 g/l, Quinalphos 205 g/l),
Karate (lamda-cyhalothrin), Theo Belay & cs.
(2012), khi sử dụng phối trộn hai hoạt chất
Spinetoram và Chlorantraniliprole cho hiệu quả
diệt trừ sâu keo mùa thu trên ngô đạt trên 80%
và ít gây độc hại với con người. Cơ chế trừ sâu do
hiệu ứng hiệp đồng của hai loại thuốc lên cơ thể
sâu keo: Chlorantraniliprole có tác dụng điều
hòa suy yếu khả năng di chuyển của sâu kết hợp
Spinetoram có tác dụng dẫn truyền thần kinh
bất thường làm sâu chết nhanh chóng. Tại Việt
Nam, những nghiên cứu về khả năng đặc hiệu
của các loại thuốc diệt trừ sâu keo mùa thu hại
ngô còn hạn chế.
Để giải quyết một phần khó khăn trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của 2
loại thuốc hóa học: Dupont Prevathon 5SC và
Radiant 60SC đến tỉ lệ phòng trừ sâu keo mùa
thu (Spodoptera frugiperda) trên cây ngô, với
mục đích: xác định được loại thuốc hóa học phù
hợp để diệt trừ sâu keo mùa thu hiệu quả cao
nhất, ít độc hại với con người và môi trường.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu: dòng tự phối ngô nếp D6
+ D6 là dòng mẹ của giống ngô VNUA69 đã
được công nhận sản xuất thử theo quyết định số
23/QĐ-TT-CLT ngày 29/1/2018 của Cục Trồng
trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
+ Dòng D6 khá mẫn cảm với một số loại sâu
hại trong đó có bị sâu keo mùa thu phá hại rất
mạnh.
- Sử dụng 2 loại thuốc trừ sâu được sản xuất
tại Mỹ:
Dupont Prevathon 5SC (hoạt chất
Chlorantraniliprole 5%)
Radiant 60SC (hoạt chất Spinetoram 60%).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Địa điểm: Khu vực nhà lưới Viện Nghiên
cứu và phát triển cây trồng, Học Viện Nông
nghiệp Việt Nam.
- Thời gian nghiên cứu: Vụ Thu Đông 2019,
ngày gieo 3/9/2019.
Bố trí thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên đầy
đủ RCBD với 4 công thức sử dụng thuốc sâu
khác nhau, 1 công thức đối chứng (ĐC) và ba
lần nhắc lại theo phương pháp của Gomez
(1984) có cải tiến.
Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của hai loại thuốc hóa học Dupont Prevathon 5SC và radiant 60SC đến tỉ
lệ phòng trừ sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) trên cây ngô
1134
- Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí
trong một ô xây bê tông xung quanh, diện tích
30m2. Giữa các công thức được cách ly bằng bạt
cao 2m.
- Mật độ: 57.000 cây/ha; khoảng cách: hàng
70cm × cây 25cm × 1 cây.
- Sơ đồ thí nghiệm
Nhắc lại 1 CT1 CT2 CT3 CT4 ĐC
Nhắc lại 2 CT3 CT1 CT4 CT2 ĐC
Nhắc lại 3 ĐC CT2 CT4 CT1 CT3
- Phân bón/ha: 2.500kg phân vi sinh Sông
Gianh + 334kg đạm Ure + 550kg Supe lân +
170kg Kali clorua.
- Tiến hành thí nghiệm: giai đoạn ngô 3 lá,
tiến hành thả sâu non tuổi 2 vào cây ngô trên
các công thức thí nghiệm với mật độ 1
con/m2/cây. Sau 10 ngày tiến hành phun thuốc
với các công thức khác nhau.
- Các công thức thí nghiệm:
+ Công thức 1 (CT1): Phun đơn
Chlorantraniliprole 5% (Dupont Prevathon 5SC).
+ Công thức 2 (CT2): Phun đơn Spinetoram
60% (Radiant 60SC).
+ Công thức 3 (CT3): Phun kết hợp cùng lúc
hai loại hoạt chất Chlorantraniliprole 5%+
Spinetoram 60% (Dupont Prevathon 5SC +
Radiant 60SC).
+ Công thức 4 (CT4): phun kết hợp cùng lúc
hai loại Chlorantraniliprole 5% + Spinetoram
60% (Dupont Prevathon 5SC + Radiant 60SC)
và phun kép-phun lặp lại sau 3 ngày.
+ Công thức đối chứng (ĐC): phun nước lọc
- Liều lượng thuốc được sử dụng theo
khuyến cáo của nhà sản xuất (Bảng 1).
- Phương pháp phun: tuân thủ nguyên tắc 4
đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Pha
thuốc với nước theo đúng tỷ lệ ở mỗi công thức
vào bình phun 2 lít. Tiến hành phun đều lên
mặt lá, nõn lá trên toàn bộ diện tích thí nghiệm.
Không phun khi trời mưa hoặc khi lá còn đang
ướt. Lượng phun 0,9 lít thuốc đã pha cho 20m2.
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Cây ngô bị sâu hại: xuất hiện các vết rách
trên lá, có phân sâu tươi màu xanh trên lá (nõn)
cây ngô.
+ Theo dõi số lượng cây ngô bị sâu trong
mỗi công thức thí nghiệm trước khi phun thuốc.
+ Tỉ lệ cây ngô bị hại trước phun thuốc = số
lượng cây ngô bị sâu trước khi phun thuốc/tổng
số cây trong mỗi công thức) × 100%.
+ Theo dõi số lượng cây ngô còn bị sây hại
sau phun thuốc (xuất hiện thêm các vết rách lá
mới do sâu cắn, lá non mọc lên tiếp tục bị sâu
hoặc có phân sâu tươi màu xanh bên trong nõn
lá, tìm thấy sâu còn sống trên lá/nõn cây ngô).
+ Tỉ lệ cây ngô bị sâu hại sau phun thuốc =
số lượng cây ngô còn bị sâu hoặc mới xuất hiện
sau khi phun thuốc (3 ngày, 7 ngày)/tổng số cây
trong mỗi công thức) × 100%.
+ Cây ngô không còn sâu: Sau phun thuốc,
cây hết sâu được xác định bằng cách theo dõi
thấy xác sâu, hoặc không thấy xuất hiện vết cắn
mới trên lá non mới ra, những vết phân sâu cũ
bị khô và không xuất hiện vết phân sâu mới.
Theo dõi sâu chết sau khi phun thuốc 3 ngày, 7
ngày. Đối với công thức phun kép (CT4), theo
dõi sau phun thuốc 3 ngày tính từ lần phun thứ
1, sau đó phun lần thứ 2 (phun kép), theo dõi
sau lần phun thứ 2 từ 3-4 ngày (tương ứng sau
lần phun thứ 1 từ 6-7 ngày).
Bảng 1. Liều lượng thuốc trừ sâu sử dụng ở các công thức phun khác nhau
Công
thức
Hoạt chất Tên thuốc
Liều lượng
hoạt chất
(g/l nước)
Liều lượng
thuốc
(g/l nước)
Số lần
phun
Thời điểm phun
(ngày sau gieo)
CT1 Chlorantraniliprole 5% Dupont Prevathon 5SC 0,109 2,188 3 30 ngày; 45 ngày; 60 ngày
CT2 Spinetoram 60% Radiant 60SC 0,056 0,938 3 30 ngày; 45 ngày; 60 ngày
CT3 Chlorantraniliprole 5% +
Spinetoram 60%
Dupont Prevathon 5SC
+ Radiant 60SC
0,109 + 0,056 2,188 + 0,938 3 30 ngày; 45 ngày; 60 ngày
CT4 Chlorantraniliprole 5% +
Spinetoram 60% + phun kép
Dupont Prevathon 5SC
+ Radiant 60SC
0,109 + 0,056 2,188 + 0,938 6 30 ngày và 33 ngày; 45
ngày và 48 ngày; 60 ngày
và 63 ngày.
Dương Thị Loan, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Văn Liết
1135
+ Tỉ lệ hạt/bắp (tỷ lệ kết hạt của bắp) được
tính theo công thức: (khối lượng hạt/khối lượng
bắp) × 100%.
+ Năng suất hạt của các công thức
thí nghiệm.
2.3. Xử lý số liệu
Tỷ lệ cây bị sâu hại và năng suất ngô ở các
công thức trong thí nghiệm được phân tích
phương sai 1 nhân tố (thuốc trừ sâu) bằng phần
mềm IRRISTAT ver 5.0. Giá trị trung bình ở
mỗi công thức được so sánh với nhau và với đối
chứng sử dụng LSD0,05.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của hai loại thuốc hóa học
Dupont Prevathon 5SC và Radiant 60SC
đến tỷ lệ sâu keo mùa thu trước và sau
phun đối với cây ngô
Trong phạm vi thí nghiệm vụ Thu Đông
2019 tại viện Nghiên cứu và Phát triển cây
trồng, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc trừ sâu
Dupont Prevathon 5SC (hoạt chất
Chlorantraniliporole 5%) và Radiant 60SC (hoạt
chất Spinetoram 60%) đều độc với sâu keo mùa
thu nhưng độc tính thấp đối với con người và
môi trường để diệt trừ sâu keo mùa thu khi sâu
ở độ tuổi 1-3 trên vật liệu ngô nếp (dòng D6).
Tiến hành đánh giá hiệu lực trừ sâu của thuốc ở
công thức khác nhau qua tỷ lệ cây bị sâu sau
phun thuốc.
Kết quả được trình bày tại bảng 2 cho thấy,
trong các đợt phun thuốc khác nhau, tỷ lệ tử
vong của sâu keo mùa thu đạt từ trung bình đến
cao khi sử dụng kết hợp hai loại thuốc (CT3,
CT4), và tỷ lệ tử vong thấp khi sử dụng đơn mỗi
loại thuốc (CT1, CT2) với độ tin cậy 95%. Tỷ lệ
tử vong sâu keo mùa thu tăng theo thời gian
phun thuốc. Khi phun đơn từng loại thuốc (CT1,
CT2), hiệu lực diệt trừ sâu keo không cao, tỷ lệ
cây còn bị sâu hại sau phun thuốc từ 13,5-15,5%
sau 3 ngày phun và 8,5-10,5% sau 7 ngày phun,
số cây bị sâu hại giảm từ 60,5-63,8%. Việc Sử
dụng Chlorantraniliprole kết hợp với
Spinetoram tạo ra hiệu lực diệt trừ sâu cao hơn
trong thời gian từ 3-7 ngày so với việc sử dụng
các loại thuốc trừ sâu này một mình, số cây bị
sâu hại đã giảm từ 88-88,2%, tỷ lệ cây còn lại
bị sâu sau 7 ngày phun thuốc còn 2,9% khi
không phun kép (CT3). Ở công thức CT4, sau
phun thuốc đợt 1 ba ngày, còn tồn tại sâu trên
cây ngô (tỷ lệ sâu tương đương ở công thức
CT3), tiếp tục phun thêm 1 đợt nữa (phun kép),
theo dõi sau 4 ngày phun kép tương ứng với 7
ngày phun đợt 1 cho hiệu quả diệt trừ 100%
sâu keo trên cây ngô. Một số phương pháp sử
dụng thuốc trừ sâu keo mùa thu được báo cáo
bởi những tác giả đã chứng thực kết quả của
nghiên cứu này. Ví dụ, Belay & cs. (2012), đã
báo cáo tỷ lệ tử vong của sâu keo mùa thu đạt
>80% trong vòng 48-72 giờ sau khi sử dụng
Chlorantraniliprole và Spinetoram. Trong một
nghiên cứu khác của Sisay & cs. (2019), sử
dụng Chlorantraniliprole hoặc Spinetoram làm
giảm 40-60% ấu trùng sâu keo trong điều kiện
đồng ruộng.
Đối với công thức đối chứng chỉ phun nước
vào cây, sâu keo mùa thu không chết và còn lây
lan, phát triển rất nhanh, làm cho 100% cây bị
sâu vào giai đoạn ngô 7-9 lá, bộ lá bị tổn thương
nghiêm trọng, không có khả năng phục hồi, cây
không sinh trưởng và không cho năng suất. Do
đó, chúng tôi đã tiến hành chặt bỏ hủy cây trong
công thức đối chứng ở giai đoạn này.
Như vậy, khi sử dụng kết hợp 2 loại thuốc
trừ sâu DuSpont Prevathon 5SC và Radiant
60SC (hoạt chất Chlorantraniliprole 5% và
Spinetoram 60%) kết hợp phun lặp lại sau 3
ngày, cho hiệu quả trừ sâu cao nhất, diệt trừ
được 100% sâu trên cây sau 7 ngày phun thuốc.
Do sâu có khả năng sinh sản rất nhanh, khi
phun kép lặp lại sau 3 ngày, sẽ diệt trừ được
những ổ trứng, sâu non mới hình thành và sâu
còn sót lại từ đợt phun thuốc trước. Hiệu quả diệt
trừ sâu nhanh, mạnh khi kết hợp hai loại thuốc
được giải thích do cơ chế tác động hiệp đồng của
hai loại thuốc lên cơ thể sâu keo và hiệu lực trừ
sâu ở giai đoạn khác nhau của thuốc: Dupont
Pravathon 5SC dễ dàng diệt trừ sâu giai đoạn
trứng-ấu trùng sâu non; Radiant 60SC diệt trừ
sâu tuổi từ 3-4.
Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của hai loại thuốc hóa học Dupont Prevathon 5SC và radiant 60SC đến tỉ
lệ phòng trừ sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) trên cây ngô
1136
Bảng 2. Ảnh hưởng của các loại thuốc trừ sâu keo mùa thu đối với dòng ngô D6 trước
và sau phun 3-7 ngày vụ Thu Đông 2019 tại Hà Nội
Công
thức
Phun lần 1 Phun lần 2 Phun lần 3
Tỷ lệ cây bị sâu
hại trước phun
thuốc lần 1
(%)
Tỷ lệ cây bị sâu
hại sau phun
3 ngày
(%)
Tỷ lệ cây còn bị
sâu hại sau
phun 7 ngày
(%)
Tỷ lệ cây bị sâu
hại trước phun
lần 2
(%)
Tỷ lệ cây còn bị
sâu hại
sau phun
7 ngày (%)
Tỷ lệ cây bị sâu
hại trước phun
lần 3
(%)
Tỷ lệ cây còn bị
sâu hại
sau phun
7 ngày (%)
CT1 25,5 15,5 10,1 30,0 7,3 20,5 6,0
CT2 23,5 13,5 8,5 27,5 7,3 23,0 6,9
CT3 25,0 10,0 2,9 18,0 2,2 15,0 1,9
CT4 25,0 9,8 0 10,5 0 8,0 0
ĐC 25,0 34,7 59,3 100 100 - -
CV% 6,4 5,7 6,2 6,7 5,0 7,5 6,0
LSD0,05 0,8 1,05 0,97 1,34 0,57 1,47 1,02
Ghi chú: “-” : không còn cây để theo dõi.
Bảng 3. Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học trừ sâu keo mùa thu
đến năng suất ngô vụ Thu Đông 2019 tại Hà Nội
Chỉ tiêu/Công thức CT1 CT2 CT3 CT4 CV% LSD0,05
Tỷ lệ bắp bị sâu (%) 48,5 45,0 14,5 1,0 5,2 6,9
Tỷ lệ hạt/ bắp (%) 35,4 30,2 70,1 83,5 6,5 5,7
Năng suất hạt khô (tạ/ha) 13,0 12,7 20,7 25,5 6,2 1,24
Bảng 4. Hiệu quả sử dụng các loại thuốc hóa học trừ sâu keo mùa thu
đối với dòng ngô D6 vụ Thu Đông 2019 tại Hà Nội
Côngthức
Năng suất
(tạ/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha/vụ)
Tổng chi
(triệu đồng/ha/vụ)
Lãi thuần
(triệu đồng/ha/vụ)
CT1 13,0 104,0 102,45 1,55
CT2 12,7 101,6 103,28 -1,68
CT3 20,7 165,6 104,95 60,65
CT4 25,5 204,0 117,46 86,54
Ghi chú: Giá của các loại vật tư: pạt dòng mẹ D6: 800.000 đồng/kg; phân urea = 9.000 đồng/kg; phân Supe lân:
4.000 đồng/kg; phân Kaliclorua: 10.000 đồng/kg; phân vi sinh: 4.000 đồng/kg; Công lao động: 200.000/công;
Thuốc trừ sâu Dupont Prevathon: 20.000 đồng/gói/360m2; Radiant: 30.000 đồng/gói/360m2; Năng lượng (điện sấy
hạt): 3.000.000 đồng.
3.2. Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học
trừ sâu keo mùa thu đến năng suất ngô
Số liệu ở bảng 3 cho thấy: giai đoạn sau thu
hoạch, sâu keo đã tấn công vào bắp ngô ở cả 4
công thức. Trong đó, công thức phun đơn CT1,
CT2, số lượng bắp bị sâu nhiều với tỷ lệ từ
45-48,5%, tỷ lệ kết hạt thấp từ 30,2-35,4%, hạt
bị thối, nấm mốc, ảnh hưởng đến phẩm chất hạt
ngô. Công thức phun kết hợp (CT3, CT4), lượng
bắp bị sâu hại thấp hơn, trong đó công thức
phun kết hợp 2 loại thuốc và phun kép (CT4) số
bắp bị sâu hại rất thấp với 1% bắp bị sâu và tỷ
lệ kết hạt cao đạt 83,5%.
Năng suất của ngô bị ảnh hưởng ở mỗi công
thức phun thuốc trừ sâu là khác nhau có ý
nghĩa ở độ tin cậy 95%. Kết quả cho thấy, khi
Dương Thị Loan, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Văn Liết
1137
phun kép kết hợp 2 loại thuốc trừ sâu (CT4),
năng suất ngô đạt 25,5 tạ/ha và tương đương với
năng suất ở cùng kỳ năm trước; trong khi đó, ở
công thức phun đơn (CT1, CT2) năng suất ngô
bị giảm mạnh còn 12,7-13,0 tạ/ha trong vụ Thu
Đông 2019. Năng suất ngô giữa các công thức có
sự chênh lệch lớn, do công thức CT1, CT2 còn
tồn tại một tỷ lệ lớn sâu keo mùa thu trong
ruộng ngô sau khi phun thuốc, với khả năng di
chuyển và sinh sản rất nhanh của sâu keo, làm
tăng tỷ lệ sâu keo trong ruộng, sâu tấn công vào
nõn lá, ăn đỉnh sinh trưởng, làm mất cờ và tấn
công vào bắp non ăn râu, cản trở quá trình thụ
phấn thụ tinh của bắp, giảm khả năng kết hạt
và gây thiệt hại lớn về năng suất ngô trong thí
nghiệm.
3.3. Hiệu quả sử dụng các loại thuốc hóa
học trừ sâu keo mùa thu đối với ngô
Sâu keo mùa thu ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí sản xuất ngô khi chi phí sử dụng thuốc
trừ sâu tăng và yêu cầu lao động tăng. Số liệu ở
bảng 4 cho thấy hiệu quả kinh tế trong sản xuất
nhân dòng ngô đạt cao nhất ở công thức CT4
(phun kết hợp + kép) với lãi thuần 86,54 triệu
đồng/ha; công thức phun kết hợp CT3 cao thứ
hai với tiền lãi đạt 60,65 triệu đồng/ha; trong
khi đó, tại hai công thức (CT1, CT2) phun đơn
Dupont Prevathon 5SC hoặc Radiant 60SC, giá
trị lãi thuần đạt rất thấp, thậm chí có giá trị âm
(-1,68 triệu đồng/ha - người trồng ngô bị thiệt
hại 1,68 triệu đồng/ha), quá trình trồng ngô
không mang lại lợi nhuận cho người sản xuất do
sự phá hại của sâu keo mùa thu.
Như vậy, khi sử dụng kết hợp 2 loại thuốc
trừ sâu Dupont Prevathon 5SC và Radiant 60SC
(hoạt chất Chlorantraniliprole 5% và Spinetoram
60%) kết hợp phun kép - phun lặp lại sau 3 ngày,
cho hiệu quả diệt trừ sâu cao nhất và không làm
ảnh hưởng đến năng suất ngô.
Hai loại thuốc trừ sâu Dupont Prevathon
5SC và Radiant 60SC có giá khá cao trên thị
trường hiện nay (20.000-30.000 đồng/gói), khi
sử dụng kết hợp hai thuốc và phun kép sẽ làm
tăng chi phí sản xuất ngô lên rất cao. Thí
nghiệm này được tiến hành trên vật liệu ngô
bố/mẹ của giống ngô VNUA69 với giá bán
800.000 đồng/kg, do vậy chúng tôi thu được lợi
nhuận cao trong sản xuất. Tuy nhiên, nếu sử
dụng phương pháp phun này đối với sản
xuất ngô thương phẩm, lợi nhuận thu được
không cao.
Vì vậy, phương pháp sử dụng kết hợp 2 loại
thuốc trừ sâu Dupont Prevathon 5SC và
Radiant 60SC (hoạt chất Chlorantraniliprole
5% và Spinetoram 60%) kết hợp phun kép -
phun lặp lại sau 3 ngày được khuyến cáo sử
dụng diệt trừ sâu keo trong quá trình sản xuất
hạt ngô dòng bố/ mẹ của ngô giống.
Mặc dù hai loại thuốc trừ sâu trong thí
nghiệm có thể giúp kiểm soát sâu keo mùa thu
hiệu quả, tuy nhiên, không nên quá lạm dụng
việc kiểm soát sâu hoàn toàn phụ thuộc vào 2
loại thuốc trừ sâu đó, sử dụng thuốc lâu dài có
thể làm dịch hại nhanh phát triển tính kháng
thuốc. Do đó, để tránh tình trạng kháng thuốc
xảy ra, sau một thời gian sử dụng, cần tiến
hành thêm nghiên cứu thay luân phiên thuốc
trừ sâu với các hoạt chất trừ sâu keo khác.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Kết quả đã xác định được công thức phun
phối hợp Dupont Prevathon 5SC
(Chlorantraniliprole 5%) + Radiant 60SC
(Spinetoram 60%), phun kép cho hiệu quả diệt
trừ sâu keo mùa thu đạt cao nhất, diệt được
100% sâu trên cây ngô sau 7 ngày phun thuốc
và không làm ảnh hưởng đến năng suất ngô
cuối cùng.
4.2. Đề nghị
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá hiệu lực các
loại thuốc trên đối với sâu keo mùa thu trong vụ
Xuân 2020 tại Hà Nội.
- Mở rộng diện tích sử dụng thuốc hóa học
Dupont Prevathon 5SC (hoạt chất
Chlorantraniliprole 5%) kết hợp Radiant 60SC
(hoạt chất Spinetoram 60%), phun kép để diệt
trừ sâu keo mùa thu hại ngô trong vụ Thu Đông
tại Hà Nội.
Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của hai loại thuốc hóa học Dupont Prevathon 5SC và radiant 60SC đến tỉ
lệ phòng trừ sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) trên cây ngô
1138
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Andrews K.L. (1980). The whorlworm, Spodoptera
frugiperda, in central America and neighboring
areas. The Florida Entomologist. 63(4): 456-467.
Belay K. Difabachew., Randy M. Huckaba. & John E.
Foster (2012). Susceptibility of the Fall
Armyworm, Spodoptera jrugiperda, at Santa
Isabel, Puerto Rico, to Different Insecticides.
Florida Entomologist. 95(2): 476-478.
CABI & FAO (2019). Community-Based Fall
Armyworm (Spodoptera frugiperda) monitoring,
early warning and management. Centre for
Agriculture and Bioscience International. p. 121.
Cục Bảo vệ thực vật (2019). Một số biện pháp phòng
trừ sâu keo mùa thu gây hại. Truy cập từ
https://www.mard.gov.vn/Pages/quy-trinh-ky-thuat-
phong- chong- sau-keo- mua- thu.aspx, ngày
20/01/2020.
De Almeida Sarmento R., De Souza Aguiar R.W.
& Vieira S.M.J. (2002). Biology review,
occurrence and control of Spodoptera frugiperda
(Lepidoptera: Noctuidae) in corn in Brazil.
Bioscience Journal. 18: 41-48.
Gomez A. Kwanchai (1984). Statistical procedures for
agricultural research. Wiley India. 2: 160-161.
Johnson S.J. (1987). Migration and the life history
strategy of the fall armyworm, Spodoptera
frugiperda in the Western Hemisphere.
International journal of Tropical insect
Science. 8(4-6): 543-549.
Sisay B., Tefera T., Wakgari M., Ayalew G. &
Mendesil E. (2019). The efficacy of selected
synthetic insecticides and botanicals against Fall
Armyworm (Spodoptera frugiperda) in
maize. National Library of Medicine. 10(2): 45.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_buoc_dau_nghien_cuu_anh_huong_cua_hai_loai_thuoc_hoa.pdf