Tương tự với tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, đồ thị ở Hình 6 cho thấy 2 đỉnh của tốc độ
tăng trưởng đường kính thân cây Cóc đỏ trồng ở 2 địa điểm rơi vào những thời điểm khác nhau.
Cây trồng trên bờ đìa có tốc độ tăng trưởng đường kính nhanh nhất vào những tháng mùa mưa
(từ tháng 10 đến tháng 12). Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng đường kính thân của cây trồng ở
rừng ngập mặn tự nhiên tăng vào những tháng mùa khô (từ tháng 6 đến tháng 8). Sau 18 tháng
di trồng, tốc độ tăng trưởng đường kính thân trung bình của cây trồng trên bờ đìa đạt 0,15
cm/tháng, gấp gần 4 lần so với những cây trồng ở rừng ngập mặn (khoảng 0,04 cm/tháng).
Tại địa điểm bờ đìa bỏ hoang (đỉnh đầm), cây Cóc đỏ phân cành thấp, tán lá phát triển. Đặc
biệt, có 2 cây cóc đỏ di trồng đã bắt đầu ra hoa và kết trái. Một cây (số thẻ 10) bắt đầu ra hoa
vào cuối tháng 10/2013 và kéo dài sự ra hoa, kết trái đến tháng 4/2014 (Hình 7). Một cây khác
(số thẻ 118) ra hoa từ tháng 4/2014. Như vậy, những cây Cóc đỏ 30 tháng tuổi đã thích nghi và
phát triển tốt trong vùng nuôi tôm của đầm Thủy Triều. Đến giai đoạn này, nhóm nghiên cứu đã
khép kín quy trình ươm từ hạt, chăm sóc tại vườn ươm và di trồng phục hồi thành công ngoài tự
nhiên.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả di trồng loài cóc đỏ (lumnitzera littorea (jack) voigt) tại đầm thủy triều (tỉnh Khánh Hòa), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1954
KẾT QUẢ DI TRỒNG LOÀI CÓC ĐỎ (LUMNITZERA LITTOREA (JACK)
VOIGT.) TẠI ĐẦM THỦY TRIỀU (TỈNH KHÁNH HÒA)
Nguyễn Nhật Nhƣ Thủy, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Trung Hiếu
Viện Hải dương học,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt.) là loài cây ngập mặn (true mangrove) thuộc họ
Bàng (Combretaceae). Đây là loài quý hiếm, có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng cao và được phân
hạng VU A1a, c, d trong Sách Đỏ Việt Nam và IUCN Red list (Bộ khoa học và Công nghệ,
2007; Su et al., 2007).Trên thế giới, loài Cóc đỏ phân bố ở vùng Đông Phi, trải dài từ vùng
Đông Nam Á đến phía Bắc Úc và Pôlinêdi. Ở Đông Nam Á, loài này được phát hiện ở các nước
Myanma, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines, Đông Timo, Brunei,
Indonexia, Papua New Guinea và Việt Nam (Su et al, 2007; Giesen et al., 2006). Ở Việt Nam,
cây Cóc đỏ phân bố ở Thừa Thiên-Huế, Cần Giờ, Côn Đảo, Phú Quốc, Khánh Hòa nhưng số
lượng không nhiều (Pham Van Quy & Vien Ngoc Nam, 2006;Nguyễn Xuân Hòa và cs, 2010).
Ở tỉnh Khánh Hòa, loài Cóc đỏ phân bố ở đầm Thủy Triều, vùng Cam Lập và Mỹ Ca. Hai quần
thể Cóc đỏ ở đầm Thủy Triều và Cam Lập rất nhỏ, chỉ gồm lần lượt 8 và 11 cá thể phân bố rải
rác trên diện tích ước khoảng 500 m2đến 1 ha. Trong khi đó, quần thể Cóc đỏ ở Mỹ Ca được
cho là đặc sắc và lớn nhất với khoảng 1.266 cây, phân bố trên diện tích khoảng 1,5 ha (Nguyễn
Xuân Hòa và cs., 2013a).
Đối với công tác bảo tồn và phục hồi quần thể cóc đỏ ở tự nhiên, có hai vấn đề chính cần
được quan tâm. Thứ nhất, sản xuất nguồn cây giống một cách ổn định. Thứ hai, công tác di
trồng được thực hiện theo phương pháp phù hợp với đối tượng Cóc đỏ ở tự nhiên. Tại Việt
Nam, nhóm nghiên cứu phòng Thực vật biển (Viện Hải dương học) đã tiến hành cải thiện khả
năng nẩy mầm của hạt Cóc đỏ và huấn luyện cây con thích nghi ở các chế độ nước tưới khác
nhau trong điều kiện vườn ươm (Nguyễn Xuân Hòa và cs., 2013b;Nguyễn Nhật Như Thủy và
cs., 2016). Đối với vấn đề thứ hai, khi chuyển sang di trồng ở tự nhiên, vấn đề lựa chọn thể nền,
thời điểm, kỹ thuật di trồng cần được thử nghiệm nhằm đạt được kết quả phục hồi tốt nhất. Loài
Cóc đỏ thường phân bố ở rừng ngập mặn cửa sông ven biển, khu vực có độ mặn thấp, chỉ ngập
lúc triều cao, đất xốp và lớp mảnh vụn hữu cơ phủ trên sàn rừng dày (Tomlinson, 1986, Võ Văn
Chi, 2004).
Bài báo nêu lên một số kết quả di trồng loài Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) tại đầm Thủy
Triều (huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa), phục vụ cho công tác phục hồi và bảo tồn quần thể
cóc đỏ.
I. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Tiêu chí lựa chọn địa điểm di trồng cây cóc đỏ
Địa điểm được lựa chọn ứng với 2 thể nền khác nhau: bờ đìa tôm bỏ hoang (đỉnh đầm Thủy
Triều) và khu rừng ngập mặn tự nhiên (bờ Đông đầm Thủy Triều) (Hình 1). Tiêu chí lựa chọn
địa điểm di trồng dựa vào thành phần hữu cơ, kết cấu thể nền, độ ngập triều sao cho phù hợp với
đặc điểm sinh thái của loài Cóc đỏ.
Mẫu trầm tích bề mặt thể nền (độ sâu 0 – 10 cm) của hai địa điểm trên được thu về phòng
Thủy địa hóa (Viện Hải dương học) để phân tích các chỉ tiêu gồm Carbon hữu cơ, Nitơ hữu cơ,
Photpho tổng và độ hạt trầm tích. Carbon hữu cơ được xác định bằng phương pháp oxi hóa mẫu
bằng hỗn hợp sunfocromic, lượng K2Cr2O7 dư được chuẩn độ ngược bằng muối Mohr. Hàm
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1955
lượng Nitơ hữu cơ được xác định bằng phương pháp Kjeldahl. Hàm lượng Photpho tổng xác
định thông qua phương pháp phá mẫu bằng hỗn hợp axit mạnh, phosphate tạo ra được phân tích
bằng phương pháp xanh molipden. Độ hạt trầm tích được xác định bằng phương pháp rây (theo
hệ thống tiêu chuẩn của Mỹ) ở các cấp hạt cát và phương pháp pipet ở các cấp hạt nhỏ hơn
0,062 mm.
Hình 1: Sơ đồ địa điểm di trồng loài Cóc đỏ tại đầm Thủy Triều
2. Vật liệu và phƣơng pháp di trồng
Nguồn cây giống là những cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) 1 năm tuổi, sinh trưởng bình
thường, không bị sâu bệnh, chiều cao khoảng 20 cm đã được huấn luyện thích nghi với điều
kiện vườn ươm tại Viện Hải dương học (Hình 2). Thời gian bắt đầu thực hiện di trồng vào mùa
mưa (tháng 10/2012). Số lượng cây Cóc đỏ di trồng là 40 cây. Do bờ đìa tômhẹp nên số lượng
cây cóc đỏ di trồng chỉ có 10 cây. Trong khi đó, số lượng cây trồng dọc ven lạch nước ngọt tại
khu rừng ngập mặn tự nhiên lên đến 30 cây.
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1956
Hình 2: Cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) 1 năm tuổi tại vƣờn ƣơm Viện Hải dƣơng học
Cây được vận chuyển đến hai địa điểm di trồng. Tiến hành đào hố trồng cây với kích thước
30 x 30 x 30cm, đào đến đâu trồng cây đến đó. Xé vỏ bầu, đặt bầu cây vào giữa hố, giữ cây ở tư
thế thẳng đứng và tiến hành lấp kín miệng hố, lèn chặt xung quanh và phía trên tạo thành một
mô đất nổi quanh gốc cây để giữ cho cây chắc chắn.Sau khi trồng xong cạnh mỗi cây cắm một
cọc dài 1m; đường kính cọc 3cm, cắm sâu 0,5m xiên vào thành hố, sau đó dùng dây nilon buộc
thân cây vào cọc giúp cho cây trụ vững.
Tại mỗi địa điểm trồng phục hồi, tiến hành đeo thẻ số đánh dấu 40 cây. Định kỳ mỗi 2
tháng/lần tiến hành đo đạc tỷ lệ sống, sự phát triển chiều cao và đường kính thân của những cây
Cóc đỏ. Thời gian theo dõi trong vòng 18 tháng (từ tháng 10/2012 đến tháng 4/2014).
3. Chỉ tiêu đo đếm
Theo dõi, đo đạc tỷ lệ sống, chiều cao, đường kính thân của cây Cóc đỏ sau mỗi 2 tháng.
- Tỷ lệ sống của cây Cóc đỏ được xác định bằng công thức:
( )
Trong đó:
N0: Số cây Cóc đỏ trồng ban đầu
N1: Số cây Cóc đỏ còn lại sau mỗi 2 tháng.
- Phương pháp xác định chiều cao và tốc độ tăng trưởng theo chiều cao của cây Cóc đỏ: Đo
chiều cao cây từ mặt đất đến ngọn cây bằng thước dây. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Cóc
đỏ được tính bằng công thức sau:
( )
Trong đó:
L: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Cóc đỏ (cm/tháng)
l0: Chiều cao cây Cóc đỏ ban đầu (cm)
l1: Chiều cao cây Cóc đỏ sau thời gian t (cm)
t: Khoảng cách giữa 2 lần đo (tháng)
- Phương pháp xác định đường kính thân và tốc độ tăng trưởng theo đường kính thân của
cây Cóc đỏ: Đường kính thân cây Cóc đỏ được đo bằng thước kẹp (vernier caliper) tại vị trí
dưới nhánh đầu tiên của cây. Tốc độ tăng trưởng đường kính thân cây Cóc đỏ được tính bằng
công thức sau:
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1957
( á )
Trong đó:
D: Tốc độ tăng trưởng đường kính thân cây Cóc đỏ
(cm/tháng)
d0: Đường kính thân cây Cóc đỏ ban đầu (cm)
d1: Đường kính thân cây Cóc đỏ sau thời gian t (cm)
t: Khoảng cách giữa 2 lần đo (tháng)
Tính toán các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn (SD) bằng phần mềm Excel.
II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Đặc điểm thể nền của hai địa điểm lựa chọn di trồng
Kết quả phân tích cho thấy thành phần hữu cơ trong thể nền của bờ đìa tôm bỏ hoang cao
hơn nhiều so với ở thể nền khu vực rừng ngập mặn. Loại trầm tích ở đìa không nuôi tôm là sét
trong khi ở bãi triều khu vực rừng ngập mặn là cát pha sét (Bảng 1). Mặc dù cả hai thể nền đều
chỉ ngập lúc triều cao, nhưng thời gian ngập triều ở bãi triều rừng ngập mặn kéo dài hơn so với
bờ đìa. Ngoài ra, khu rừng ngập mặn tự nhiên hiện đang có 8 cây Cóc đỏ phân bố và có lạch
nước ngọt chảy qua. Độ mặn của nước tầng mặt ở khu vực đỉnh đầm thấp (khoảng 26‰ vào mùa
mưa, 31‰ vào mùa khô). Trong khi đó, độ mặn ở khu vực giữa đầm nhìn chung cao hơn so với
đỉnh đầm (khoảng 28‰ vào mùa mưa, 32‰ vào mùa khô) (Bùi Hồng Long và cs., 2011). Như
vậy, những địa điểm lựa chọn di trồng này tương đồng với điều kiện sinh thái của loài Cóc đỏ.
Bảng 1
Thành phần hữu cơ trong thể nền tại 2 địa điểm di trồng cóc đỏ ở đầm Thủy Triều
(tỉnh Khánh Hòa)
Chỉ tiêu
Địa điểm
Carbon hữu cơ
(%)
Nitơ hữu cơ
(µg/g)
Photpho tổng
(µg/g)
Nền đáy
Bờ ao đìa
(đỉnh đầm)
1,72 1355,60 570,90 Sét
RNM tự nhiên
(bờ Đông đầm)
0,36 315,40 100,30 Cát pha sét
2. Tỷ lệ sống
Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của cây Cóc đỏ di trồng tại đầm Thủy Triều được trình bày ở
Bảng 2. Nhìn chung, tỷ lệ sống của cây trồng trên bờ đìa (đỉnh đầm Thủy Triều) luôn cao hơn
so với khu vực rừng ngập mặn tự nhiên (giữa đầm Thủy Triều). Từ tháng 10/2012 đến tháng
4/2014, tỷ lệ sống của cây trồng trên bờ đìa tôm giảm nhẹ và duy trì ở mức 80%. Trong khi đó,
tỷ lệ sống của cây Cóc đỏ trồng tại rừng ngập mặn tự nhiên giảm gần một nửa, chỉ đạt mức
53,33%. Một điều đáng chú ý vào giai đoạn từ tháng 8/2013 đến tháng 2/2014 tương ứng với
mùa mưa, số cây Cóc đỏ chết tại địa điểm rừng ngập mặn tăng mạnh, lên đến 10 cây.
Bảng 2
Tỷ lệ sống (%) của cây Cóc đỏ di trồng tại 2 địa điểm ở đầm Thủy Triều
Thời gian
Địa điểm
T.10/
2012
T.12/
2012
T.2/
2013
T.4/
2013
T.6/
2013
T.8/
2013
T.10/
2013
T.12/
2013
T.2/
2014
T.4/
2014
Bờ đìa bỏ hoang
(đỉnh đầm)
100 100 90 90 90 90 80 80 80 80
RNM tự nhiên
(bờ Đông đầm)
100 100 86,67 86,67 86,67 86,67 66,67 66,67 53,33 53,33
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1958
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt tỷ lệ sống của cây Cóc đỏ giữa 2 địa điểm có thể bắt
nguồn từ sự khác nhau về thời gian ngập triều. Trong suốt quá trình theo dõi, chúng tôi không
phát hiện hiện tượng sâu bệnh trên các cây Cóc đỏ. Sau 18 tháng di trồng, tổng số cây phục hồi
thành công ở cả hai địa điểm là 24 cây, cụ thể 8 cây ở bờ đìa bỏ hoang và 16 cây ở khu rừng
ngập mặn.
3. Chiều cao và tốc độ tăng trƣởng chiều cao của cây Cóc đỏ
Đồ thị ở Hình 3 biểu diễn tăng trưởng chiều cao của cây Cóc đỏ được di trồng tại 2 địa điểm
ở đầm Thủy Triều. Đối với những cây trồng trên bờ đìa tôm, chiều cao trung bình cây có xu
hướng tăng chậm trong 8 tháng đầu, từ 21,17 cm lên khoảng 49,37cm. Sau thời gian thích nghi
với điều kiện môi trường tự nhiên khác so với giai đoạn vườn ươm trước đó, chiều cao cây trồng
tăng nhanh ở 10 tháng tiếp theo và đạt khoảng 132,14 cm. Ngược lại, xu hướng tăng trưởng
chiều cao của những cây trồng ở rừng ngập mặn tự nhiên lại rất chậm. Sau 18 tháng, mặc dù
nhóm nghiên cứu đã bố trí trồng cây dọc theo lạch nước ngọt đổ ra đầm nhưng chiều cao trung
bình của cây chỉ đạt khoảng 48,03 cm. Sự khác biệt về thành phần hữu cơ trong thể nền có ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển của cây Cóc đỏ (Bảng 1).
Hình 3: Tăng trƣởng chiều cao của cây Cóc đỏ di trồng tại 2 địa điểm ở đầm Thủy Triều
Đồ thị ở Hình 4 cho thấy 2 đỉnh của tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Cóc đỏ ứng với 2 địa
điểm di trồng lệch nhau. Cây trồng ở bờ đìa có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất vào các tháng
mùa mưa. Đối với vùng ngập triều ít (bờ đìa cao), mùa là yếu tố sinh thái tác động đến khả năng
tăng trưởng của cây Cóc đỏ. Vào mùa mưa, độ mặn trong đất và nước giảm nên cây Cóc đỏ tăng
trưởng nhanh hơn so với mùa khô. Điều này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Quách Văn
Toàn Em & Viên Ngọc Nam (2010). Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng cây trồng ở bãi triều rừng
ngập mặn tự nhiên lại tăng vào mùa khô, giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2013, nhưng vẫn thấp
hơn so với cây trồng ở bờ đìa (Hình 4). Vào mùa mưa, mặc dù độ mặn giảm nhưng thời gian
ngập triều kéo dài, số lượng cây Cóc đỏ chết nhiều nên dẫn đến tốc độ tăng trưởng của cây thấp.
Sau 18 tháng, tốc độ tăng trưởng trung bình của cây Cóc đỏ trồng ở bờ đìa tôm đạt 6,91
cm/tháng, cao hơn gấp 4 lần so với cây trồng ở rừng ngập mặn tự nhiên, đạt khoảng 1,62
cm/tháng.
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1959
Hình 4: Tốc độ tăng trƣởng chiều cao của cây Cóc đỏ di trồng tại 2 địa điểm ở đầm
Thủy Triều
4. Đƣờng kính thân và tốc độ tăng trƣởng đƣờng kính thân của cây Cóc đỏ
Tăng trưởng đường kính thân của cây Cóc đỏ di trồng tại đầm Thủy Triều được biểu diễn đồ
thị Hình 5. Đối với những cây trồng trên bờ đìa tôm, đường kính thân có xu hướng tăng chậm
vào 8 tháng đầu tiên, đạt 1,36 cm so với ban đầu là 0,70 cm. Ở 10 tháng tiếp theo, đường kính
thân tăng nhanh và đạt 3,06 cm. Theo một xu hướng khác, đường kính thân của những cây trồng
ở rừng ngập mặn tự nhiên tăng rất chậm vào khoảng 0,1 cm/2 tháng. Sau 18 tháng, đường kính
thân chỉ đạt 1,32 cm, gần bằng 1/3 đường kính cây trồng trên bờ đìa.
Hình 5: Tăng trƣởng đƣờng kính thân của cây cóc đỏ di trồng tại 2 địa điểm ở đầm
Thủy Triều
Tương tự với tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, đồ thị ở Hình 6 cho thấy 2 đỉnh của tốc độ
tăng trưởng đường kính thân cây Cóc đỏ trồng ở 2 địa điểm rơi vào những thời điểm khác nhau.
Cây trồng trên bờ đìa có tốc độ tăng trưởng đường kính nhanh nhất vào những tháng mùa mưa
(từ tháng 10 đến tháng 12). Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng đường kính thân của cây trồng ở
rừng ngập mặn tự nhiên tăng vào những tháng mùa khô (từ tháng 6 đến tháng 8). Sau 18 tháng
di trồng, tốc độ tăng trưởng đường kính thân trung bình của cây trồng trên bờ đìa đạt 0,15
cm/tháng, gấp gần 4 lần so với những cây trồng ở rừng ngập mặn (khoảng 0,04 cm/tháng).
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1960
Hình 6: Tốc độ tăng trƣởng đƣờng kính thân của cây Cóc đỏ di trồng tại 2 địa điểm ở
đầm Thủy Triều
Tại địa điểm bờ đìa bỏ hoang (đỉnh đầm), cây Cóc đỏ phân cành thấp, tán lá phát triển. Đặc
biệt, có 2 cây cóc đỏ di trồng đã bắt đầu ra hoa và kết trái. Một cây (số thẻ 10) bắt đầu ra hoa
vào cuối tháng 10/2013 và kéo dài sự ra hoa, kết trái đến tháng 4/2014 (Hình 7). Một cây khác
(số thẻ 118) ra hoa từ tháng 4/2014. Như vậy, những cây Cóc đỏ 30 tháng tuổi đã thích nghi và
phát triển tốt trong vùng nuôi tôm của đầm Thủy Triều. Đến giai đoạn này, nhóm nghiên cứu đã
khép kín quy trình ươm từ hạt, chăm sóc tại vườn ươm và di trồng phục hồi thành công ngoài tự
nhiên.
Hình 7: Cây cóc đỏ: a) phát triển sau 6 tháng di trồng, b) ra hoa sau 1 năm di trồng,
c) kết trái sau 18 tháng di trồng
II. KẾT LUẬN
Kết quả di trồng phục hồi thành công 24 cá thể cây Cóc đỏ tại đầm Thủy Triều. Sau 18
tháng theo dõi, địa điểm bờ đìa tôm phù hợp với sự phát triển của cây Cóc đỏ con với tỷ lệ sống
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1961
đạt 80%, chiều cao trung bình đạt 132,14 cm và đường kính thân trung bình khoảng 3,06 cm.
Trong khi đó, các cây cóc đỏ con trồng tại khu rừng ngập mặn tự nhiên có tỷ lệ sống chỉ khoảng
53,33%, chiều cao trung bình đạt 48,03 cm và đường kính thân trung bình đạt 1,32 cm.
Lời cảm ơn: Bài báo sử dụng một phần kết quả nghiên cứu của đề tài ―Triển khai các mô
hình phục hồi và quản lý rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều‖ do kinh
phí của tỉnh Khánh Hòa hỗ trợ. Kết quả phân tích mẫu trầm tích được thực hiện bởi phòng Thủy
địa hóa (Viện Hải dương học). Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Văn Chi, 2004.Từ điển thực vật thông dụng, Tập 2. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Hà Nội, 1614 trang.
2. Quách Văn Toàn Em và Viên Ngọc Nam, 2010. Nghiên cứu một số nhân tố sinh thái ảnh
hưởng đến khả năng tái sinh tự nhiên của cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt.) ở
Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh. 24: 87 – 95.
3. Giesen W. Wulffraat S., Zieren M. and Scholten L., 2006. Mangrove guidebook for
Southeast Asia. Bangkok: FAO Regional Office for Asia and the Pacific, 769 pp.
4. Nguyễn Xuân Hòa, Phạm Thị Lan, Nguyễn Xuân Trƣờng, 2010. Hiện trạng rừng ngập
mặn ở dải ven bờ Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận). Tuyển tập Nghiên cứu
Biển, 17: 167- 177.
5. Nguyễn Xuân Hòa, Phạm Thị Lan, Nguyễn Xuân Trƣờng, Nguyễn Nhật Nhƣ Thủy,
2013a. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái quần thể cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt.
1845) ở vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa). Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế “Biển Đông 2012”, 1:
316 – 323.
6. Nguyễn Xuân Hòa, Phạm Thị Lan, Nguyễn Nhật Nhƣ Thủy, 2013b. Ảnh hưởng của xử
lý hạt bằng axit gibberellic và nước ấm lên tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởn của cây Cóc đỏ
(Lumnitzera littorea (Jack) Voigt. 1845). Tuyển tập nghiên cứu biển, 19: 233 – 238.
7. Bùi Hồng Long, Phạm Sỹ Hoàn, Lê Đình Mầu, Nguyễn Kim Vinh, Nguyễn Văn Tuân,
Trần Văn Chung và Nguyễn Chí Công, 2011. Cẩm nang tra cứu về điều kiện tự nhiên,
môi trường – sinh thái, kinh tế, xã hội và quản lý tổng hợp đới ven bờ biển Nam Trung Bộ.
Quyển 1. Các thủy vực ven biển Nam Trung Bộ. Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công
nghệ, 220 trang.
8. Pham Van Quy and Vien Ngoc Nam, 2006. Initial nursing of a rare mangrove species
(Lumnitzera littorea (Jack) Voigt) in Can Gio District, Ho Chi Minh City. Proceeding of
The role of mangrove and coral reef ecosystems in natural disaster mitigation life
improvement, IUCN, MERD, Hanoi, Vietnam, 365 – 370.
9. Nguyễn Nhật Nhƣ Thủy, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Trung Hiếu, 2016. Ảnh hưởng của
độ mặn nước tưới đến tỷ lệ sống và sự sinh trưởng của cây Cóc đỏ con (Lumnitzera littorea
(Jack) Voigt. 1845) ở giai đoạn vườn ươm. Tuyển tập nghiên cứu biển, 22: 104 – 110.
10. Su G., Huang Y., Tan F., Ni X., Tang T., Shi S., 2007. Conservation genetics of
Lumnitzera littorea (Combretaceae), an endangered mangrove, from the Indo-West Pacific.
Marine Biology, 150 (3): 321-328.
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1962
11. Tomlinson P. B., 1986. The botany of mangroves. Cambridge University Press, Printed in
the United States of America, 230 pp.
12. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007. Sách đỏ Việt
Nam, Phần II.Thực vật. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, 609 trang.
RESULTS OF TRANSPLANTING LUMNITZERA LITTOREA (JACK) VOIGT.
IN THUY TRIEU LAGOON (KHANH HOA PROVINCE)
Nguyen Nhat Nhu Thuy, Nguyen Xuan Hoa, Nguyen Trung Hieu
SUMMARY
The paper presents the result on rehabilitation of Lumnitzera littorea seedlings in Thuy
Trieu lagoon (Khanh Hoa province). 40 seedlings had been germinated in the Institute of
Oceanography nursery for one year. The seedlings planted on the shrimp pond banks (at the top
of the lagoon) grew better than at mangrove forest (at the east side of the lagoon). After 18
months of replanting, the survival rate of Lumnitzera littorea seedlings was 80% and 53.33% at
the shrimp pond banks and mangrove forest, respectively. The mean height of Lumnitzera
littorea seedlings reached 132.14 cm and 48.03 cm at the shrimp pond banks and mangrove
forest, respectively. The mean diameter of Lumnitzera littorea seedlings reached 3.06 cm and
1.32 cm at the shrimp pond banks and mangrove forest, respectively. The mean height growth
rate of Lumnitzera littorea seedlings was 6.91 cm/month and 1.62 cm/month at the shrimp pond
banks and mangrove forest, respectively. The mean diameter growth rate of Lumnitzera littorea
seedlings was 0.15 cm/month and 0.04 cm/month at the shrimp pond banks and mangrove
forest, respectively. Until April 2014, 24 trees of Lumnitzera littorea were replanted
successfully in Thuy Trieu lagoon, especially two of those trees flowered and born fruit.
.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_di_trong_loai_coc_do_lumnitzera_littorea_jack_voigt.pdf