KẾT LUẬN
Điều tra trên phạm vi cả nước trong các năm
2012 – 2017 trên 10 loài cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch của các cây trồng này đã phát
hiện được 203 loài sâu hại, trong đó đã xác định
được tên khoa học cho 188 loài (chiếm 92,61%
tổng sỗ loài thu thập được); đã phát hiện được
83 loài thiên địch, trong đó xác định được tên
khoa học của 70 loài (chiếm 84,34% tổng số loài
thu thập được), Đồng thời, đã phát hiện và giám
định được tên tác nhân gây bệnh của 110 loại
bệnh hại khác nhau trên các cây trồng và sản
phẩm cây trồng sau thu hoạch được điều tra.
Trong các cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch
đã điều tra, cây ngô và ngô hạt có số loài sâu hại
thu thập được nhiều nhất (88 loài), tiếp đến là
cây lúa và thóc (63 loài). Các cây chanh leo,
chuối và ớt cay có số loài sâu hại phát hiện được
là ít nhất và lần lượt tương ứng là 13, 14 và 15
loài. Số lượng loài thiên địch phát hiện được trên
cây ngô là nhiều nhất (47 loài), thứ hai là đậu
tương (34 loài) và lúa (29 loài), ít nhất là trên cây
chuối (8 loài), chanh leo (9 loài).
Cây lúa và thóc bảo quản có số lượng tác
nhân gây bệnh hại nhiều nhất (37 loài), tiếp theo
là mía, đậu tương và sản phẩm sau thu hoạch
của 2 loại cây trồng này (cùng có 20 loài), cây
sắn có số tác nhân gây hại thấp nhất trong các
cây trồng đã điều tra (5 loài).
Đối chiếu với những tài liệu đã công bố, đã
ghi nhận lần đầu khá nhiều loài sâu hại cho các
cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra,
nhiều nhất là trên dưa chuột (24 loài), sắn (22
loài), chanh leo (8 loài), cà chua (5 loài), chuối (3
loài), ớt cay (2 loài), mía (1 loài). Đồng thời lần
đầu ghi nhận danh lục thiên địch của sâu hại các
cây ớt (10 loài), chanh leo (9 loài), chuối (7 loài);
bổ sung vào danh lục thiên địch trên cà chua 5
loài, dưa chuột 13 loài, sắn 13 loài; bổ sung vào
danh lục bệnh hại trên ngô trước và sau thu
hoạch 3 loài, sắn 2 loài, dưa chuột 1 loài, quả
chuối sau thu hoạch 1 loài và chanh leo 6 loài.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả điều tra thành phần sâu, bệnh hại và thiên địch trên một số cây trồng chính và sản phẩn sau thu hoạch ở Việt Nam giai đoạn 2012 - 2017, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chất lượng cây trồng trong suốt quá trình sản
xuất và bảo quản nông sản trồng trọt. Theo ý
kiến của nhiều nhà khoa học và quản lý, trong
những năm gần đây, quá trình tổ chức lại sản
xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng nhiều giống cây
trồng mới và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật mới trong trồng trọt đã làm thay đổi rõ rệt
thành phần sâu bệnh hại trên nhiều loại cây trồng
ở các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam.
Những thay đổi này cùng với những tác động
của biến đổi khí hậu đã dẫn đến sự bùng phát
thành dịch trên diện rộng của một số sâu hại như
rầy nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng, sâu năn hại
lúa, nhện gié hại lúa, bọ xít vv và một số bệnh
hại như bệnh chổi rồng hại sắn, bệnh chồi cỏ
mía, bệnh đốm nâu thanh long, bệnh lúa lùn sọc
đen phương Nam, gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp nước ta.
Những hiểu biết cơ bản về thành phần sâu bệnh
hại và thiên địch của chúng là cơ sở khoa học để
xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng
chống sâu hại cây trồng một cách hiệu quả và an
toàn. Việc điều tra cơ bản thành phần sâu bệnh
hại và thiên địch của sâu hại trên các cây trồng
nông nghiệp của nước ta đã được thực hiện từ
nhiều năm trước đây và đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Cho đến nay, đã có một số lần
điều tra cơ bản về côn trùng và bệnh hại cây
trồng được tiến hành trên quy mô rộng tại Việt
Nam (1961, 1967-1968, 1977-1979, 1997-1998
và 2006-2010). Bên cạnh đó, nhiều công trình
nghiên cứu chuyên biệt về thành phần sâu bệnh
hại và thiên địch của chúng trên các cây trồng
nông nghiệp ở nước ta cũng đã được thực hiện.
Các cuộc điều tra cơ bản nêu trên và các nghiên
cứu chuyên biệt này đã xây dựng được danh lục
thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng
trên các cây trồng điều tra. Tuy nhiên, việc điều
tra cơ bản đồng thời cả thành phần sâu hại và
thiên địch cũng như các tác nhân gây bệnh cây
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
4
trồng mới chỉ được tiến hành trên một số loại cây
trồng, một số cây trồng mới được nhập nội/cây
trồng mới chưa rõ thành phần sâu bệnh hại và
thiên địch của chúng. Đồng thời, trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề minh bạch sinh
vật hại cây trồng và sản phẩm cây trồng sau thu
hoạch (đặc biệt đối với cây trồng phục vụ xuất
khẩu) và việc ngăn chặn sự xâm nhập của các
sinh vật hại ngoại lai đang là vấn đề cấp thiết của
nước ta với tư cách là thành viên của tổ chức
WTO. Để giải quyết được những vấn đề này thì
việc điều tra cơ bản thành phần sâu bệnh hại và
thiên địch trên cây trồng ở nước ta cần phải
được thực hiện thường xuyên và liên tục.
Bài báo này cung cấp kết quả điều tra thành
phần sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên
10 loại cây trồng (lúa, ngô, sắn, cà chua, dưa
chuột, ớt cay, đậu tương, mía, chuối và chanh
leo) và các loại sản phẩm sau thu hoạch của các
cây trồng này do Viện Bảo vệ thực hiện trong giai
đoạn 2012 – 2017.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Các loài động vật chân khớp, thiên địch của
chúng và các tác nhân gây bệnh cây trồng thu
thập được trên 10 loại cây trồng và các sản
phẩm sau thu hoạch của các cây trồng này được
điều tra.
- Các vật liệu và dụng cụ được sử dụng trong
điều tra cơ bản, làm mẫu và giám định sâu bệnh
hại và thiên địch của chúng, các hóa chất sử
dụng trong làm tiêu bản côn trùng và nhện, vi
sinh vật gây bệnh cây trồng.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra
Được tiến hành điều tra trong phạm vi cả
nước theo 7 vùng sinh thái (trung du miền núi
Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải Bắc
Trung bộ, duyên hại Nam Trung bộ, Tây
nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu
Long). Thành phần sâu bệnh hại cây trồng và
thiên địch của sâu hại trên cây trồng ngoài
đồng ruộng được điều tra theo tuyến trong
từng vùng sinh thái. Tại mỗi vùng sinh thái
chọn 1 - 3 tỉnh có diện tích lớn đại diện cho
từng loại cây trồng chính của vùng để làm
điểm điều tra. Tại mỗi tỉnh đã chọn cho từng
loại cây trồng, chọn 3 huyện và mỗi huyện
chọn 3 xã đại diện để điều tra. Thành phần sâu
bệnh hại và trên địch của chúng trên các sản
phẩm sau thu hoạch được tiến hành cùng địa
phương với các cây trồng ngoài đồng ruộng,
tại khu vực bảo quản nông sản ở các nông hộ
và các kho tập trung. Các điều tra được tiến
hành theo phương pháp điều tra cơ bản dịch
hại nông nghiệp của Viện Bảo vệ thực vật
(1997) và các tiêu chuẩn ngành có liên quan
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
2010a). Tiến hành điều tra thực địa ở các điểm
đã chọn, ghi chép số liệu, thu thập, xử lý mẫu
vật, ghi nhận mức độ phổ biến của chúng và
các thông tin về điều kiện canh tác, sinh thái có
liên quan.
Phương pháp làm mẫu tiêu bản và giám
định tên khoa học
Mẫu tiêu bản sâu bệnh hại và thiên địch được
làm theo phương pháp của Viện Bảo vệ thực vật
(1997). Các mẫu vật được các cán bộ
chuyên môn của Viện Bảo vệ thực vật giám định
tên khoa học theo các khóa phân loại ở các tài
liệu của Hoàng Đức Nhuận (1982), William
(2004, 2007), Wilson và Claridge (1991),
Blackman và Eastop (1994), Gressitt và Kimoto
(1963) và Towners et al., (1961), Nguy n Vũ
Thanh và nnk (1983), Trịnh Tam Kiệt và nnk
(2001), Barnett và Hunter (1998), Bradbury
(1986), Braun (1987, 1995, 1998), Brunt et al.
(1996), Burgess và Nelson (1983), Burgess et al.
(1994), Sutton (1980, 1992), Waterhouse
(1968),và đối chiếu với bộ mẫu côn trùng và
bệnh cây bảo quản tại Viện Bảo vệ thực vật.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tổng số các loài sâu, bệnh hại và thiên
địch của chúng đã phát hiện đƣợc
a. Số lượng các loài sâu hại
Kết quả điều tra thành phần sâu hại (côn
trùng và nhện nhỏ) trên 10 loại cây trồng (lúa,
ngô, sắn, cà chua, dưa chuột, ớt cay, đậu tương,
mía, chuối và chanh leo) và sản phẩm sau thu
hoạch (thóc, ngô hạt, sắn lát khô, đậu tương hạt)
trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2012 –
2017 đã phát hiện và thu thập được 203 loài sâu
hại thuộc 46 họ của 7 bộ côn trùng và bộ vet bét
(Acarina). Các loài đã phát hiện và thu thập được
tập trung nhiều nhất ở bộ cánh cứng Coleopter
(49 loài, chiếm 24,14% tổng số loài đã phát hiện
được), tiếp theo là bộ cánh vảy Lepidoptera (47
loài, chiếm 23,15%), bộ cánh đều Homoptera (33
loài, chiếm 16,26%), bộ cánh nửa Hemiptera (27
loài, chiếm 13,30%), bộ Cánh cứng Orthoptera
(21 loài, chiếm 10,34), bộ hai cánh Dipera (12
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
5
loài, chiếm 5,91%), bộ Cánh tơ Thysanoptera (9
loài, chiếm 4,44%), cuối cùng là bộ ve bét
Acarina có số loài phát hiện được là ít nhất (5
loài, chiếm 2,46%). Trong đó, đã định danh được
188 loài (chiếm 92,61% tổng số loài thu thập
được) và có 15 dạng loài (chiếm 7,39%) chưa
xác định được tên. Các loài chưa xác định được
tên chủ yếu tập trung ở bộ cánh cứng Coleoptera
(9 loài), còn lại các bộ khác chỉ có 1 – 2 loài
(bảng 1).
Bảng 1. Số lƣợng loài sâu hại chân khớp đã đƣợc phát hiện trên một số cây trồng
và sản phẩm sau thu hoạch ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
STT
Tên các bộ
Số họ
đã
thu
thập
Số loài đã thu
thập
Số loài đã xác định
được tên
Số loài chưa xác
định được tên
Số
loài
Tỷ lệ so
với tổng
số
Số loài
Tỷ lệ so
với tổng
số
Số
loài
Tỷ lệ so
với tổng
số
1 Orthoptera – Cánh cứng 4 21 10,34 19 10,11 2 13,33
2 Homoptera – Cánh đều 6 33 16,26 32 17,02 1 6,67
3 Hemiptera – Cánh nửa 5 27 13,30 26 13,83 1 6,67
4 Thysanoptera – Cánh tơ 2 9 4,43 9 4,79 0 0,0
5 Coleoptera – Cánh cứng 12 49 24,14 40 21,28 9 60,0
6 Lepidoptera – Cánh vảy 10 47 23,15 46 24,47 1 6,67
7 Diptera – Hai cánh 5 12 5,91 12 6,38 0 0,0
8 Acari - Ve bét (nhện nhỏ) 2 5 2,46 4 2,13 1 6,67
Tổng số 46 203 100,0 188 100 15 100,0
b. Số lượng các loài thiên địch
Song song với việc điều tra thành phần sâu
hại, thành phần thiên địch của các sâu hại trên
các cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch nêu
trên cũng đã được thực hiện. Đã phát hiện và
thu thập được 83 loài thiên địch thuộc 32 họ
của 10 bộ côn trùng, bộ ve bét Acarina, bộ
nhện lớn Araneida, bộ vi khuẩn Bacillales, bộ
nấm Moniliales và virus gây bệnh cho sâu hại.
Các loài thiên địch đã phát hiện và thu thập
được tập trung chủ yếu ở bộ cánh màng
Hymenoptera (22 loài, chiếm 26,51% tổng số
loài đã thu thập được), bộ cánh cứng
Coleoptera (19 loài, chiếm 22,89%) và bộ nhện
lớn Araneida (17 loài, chiếm 20,48%), đa số
các bộ còn lại chỉ có 1 - 3 loài đại diện (bảng
2). Có 13 dạng loài (chiếm 15,66% tổng số loài
đã phát hiện được) chưa xác định được trên
khoa học, trong đó nhiều nhất là bộ Araneida
có 7 loài (bảng 2).
Bảng 2. Số lƣợng loài thiên địch của sâu hại trên một số cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch đã đƣợc phát hiện ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
TT Tên các bộ
Số họ đã
thu thập
Số loài đã thu thập
Số loài đã xác
định được tên
Số loài chưa xác
định được tên
Số loài
Tỷ lệ so
với tổng
số
Số loài
Tỷ lệ
so với
tổng số
Số loài
Tỷ lệ
so với
tổng số
I Nhóm động vật chân khớp
1 Odonata 1 3 3,61 2 2,86 1 7,69
2 Mantodea 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
3 Orthoptera 2 3 3,61 3 4,29 0 0,0
4 Dermaptera 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
5 Hemiptera 5 7 8,43 7 10,0 0 0,0
6 Thysanoptera 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
7 Coleoptera 4 19 22,89 17 24,29 2 15,38
8 Neuroptera 2 2 2,41 2 2,86 0 0,0
9 Hymenoptera 5 22 26,51 19 27,14 3 23,08
10 Diptera 1 2 2,41 2 2,86 0 0,0
11 Acarina 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
12 Araneida 5 17 20,48 10 14,29 7 53,85
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
6
TT Tên các bộ
Số họ đã
thu thập
Số loài đã thu thập
Số loài đã xác
định được tên
Số loài chưa xác
định được tên
Số loài
Tỷ lệ so
với tổng
số
Số loài
Tỷ lệ
so với
tổng số
Số loài
Tỷ lệ
so với
tổng số
II Nhóm vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại
13 Virus 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
14 Bacillales 1 1 1,20 1 1,43 0 0,0
15 Moniliales 1 2 2,41 2 2,86 0 0,0
Tổng số 32 83 100,0 70 100,0 13 100,0
c. Số lượng các loại bệnh hại cây trồng
Kết quả điều tra thành phần vi sinh vật gây
bệnh hại cây trồng trên 10 loại cây trồng (lúa,
ngô, sắn, cà chua, dưa chuột, ớt cay, đậu tương,
mía, chuối và chanh leo) và sản phẩm sau thu
hoạch (thóc, ngô hạt, sắn lát khô, ớt quả khô,
đậu tương hạt, cây mía và quả chuối tươi) trên
phạm vi cả nước trong giai đoạn 2012 – 2017 đã
ghi nhận 110 loại bệnh hại. Tất cả các loại bệnh
phát hiện được đều đã giám định được tên khoa
học của các tác nhân gây bệnh (chiếm 100% số
loại bệnh ghi nhận được). Các tác nhân gây
bệnh của 110 loại bệnh hại thuộc 44 họ của 20
bộ nấm ký sinh thực vật, 4 bộ vi khuẩn hại thực
vật, 1 bộ Phytoplasma, vi-rút và 1 bộ tuyến trùng
ký sinh thực vật. Các tác nhân gây bệnh hại cây
trồng và sản phẩm cây trồng sau thu hoạch tập
trung chủ yếu vào nhóm nấm ký sinh thực vật với
88 loài thuộc 33 họ của 20 bộ khác nhau (chiếm
80,0% tổng số các loài vi sinh vật gây hại đã ghi
nhận được), tiếp theo là các loài thuộc nhóm vi
khuẩn hại thực vật (16 loài, chiếm 14,55%),
nhóm vi-rút hại thực vật (15 loài, 13,63%),(4 loài,
chiếm 3,64%) và cuối cùng là nhóm tuyến trùng
ký sinh thực vật(3 loài, chiếm 2,73%) (bảng 3).
Bảng 3. Số lƣợng loài vi sinh vật gây bệnh trên một số cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch đã đƣợc phát hiện ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017
STT
Tên các bộ
Số họ đã
thu thập
Số loài đã thu thập
Số loài đã xác định
được tên
Số loài
Tỷ lệ so với
tổng số
Số loài
Tỷ lệ so với
tổng số
I Nấm
1 Agonomycetales 2 12 10,91 12 10,91
2 Hyphales 2 11 10,0 11 10,0
3 Hypocreales 2 6 5,45 6 5,45
4 Apelenchida 1 1 0,91 1 0,91
5 Atheliales 1 1 0,91 1 0,91
6 Botryosphaeriales 1 1 0,91 1 0,91
7 Capnodiales 2 6 5,45 6 5,45
8 Erysiphales 2 3 2,73 3 2,73
9 Glomerellales 1 8 7,27 8 7,27
10 Helotiales 1 2 1,82 2 1,82
11 Microascales 1 1 0,91 1 0,91
12 Mucorales 1 1 0,91 1 0,91
13 Peronosporales 2 4 3,64 4 3,64
14 Pleosporales 2 5 4,54 5 4,54
15 Pythiales 1 2 1,82 2 1,82
16 Pucciniales 1 1 0,91 1 0,91
17 Sphaeriales 1 1 0,91 1 0,91
18 Sclerosporales 1 1 0,91 1 0,91
19 Uredinales 2 2 1,82 2 1,82
20 Ustilaginales 2 3 2,73 3 2,73
II Vi khuẩn
21 Burkholderiales 1 2 1,82 2 1,82
22 Enterobacteriales 1 3 2,73 3 2,73
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
7
STT
Tên các bộ
Số họ đã
thu thập
Số loài đã thu thập
Số loài đã xác định
được tên
Số loài
Tỷ lệ so với
tổng số
Số loài
Tỷ lệ so với
tổng số
23 Pseudomonadales 1 5 4,54 5 4,54
24 Xanthomonadales 1 6 5,45 6 5,45
III Phytoplasma
25 Acholeplasmatales 1 3 2,73 3 2,73
IV Vi-rút hại thực vật
26 Vi-rút 9 15 13,63 15 13,63
V Tuyến trùng hại thực vật
27 Tylenchida 1 4 3,64 4 3,64
Tổng số 44 110 100,0 44 100,0
3.2 Số lƣợng các loài sâu, bệnh hại và
thiên địch của chúng trên từng cây trồng và
sản phẩm sau thu hoạch ở Việt Nam đã điều
tra năm 2012 - 2017
Thành phần sâu bệnh hại và thiên địch của
chúng trên các cây trồng và sản phẩm sau thu
hoạch rất khác nhau. Đối với sâu hại, trong các
cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra,
cây ngô và ngô hạt có số loài sâu hại thu thập
được nhiều nhất (88 loài), tiếp đến là cây lúa và
thóc (63 loài). Các cây chanh leo, chuối và ớt cay
có số loài sâu hại phát hiện được là ít nhất và lần
lượt tương ứng là 13, 14 và 15 loài. Đối chiếu với
các kết quả điều tra đã công bố trước đây, kết
quả điều tra lần này đã bổ sung vào danh lục sâu
hại sắn trước và sau thu hoạch ở nước ta 22
loài, cà chua 5 loài, dưa chuột 24 loài, ớt cay 2
loài, mía 1 loài, chuối 3 loài và chanh leo 8 loài.
Đối với thiên địch, số lượng loài thiên địch phát
hiện được trên cây ngô cũng là nhiều nhất (47
loài), đứng thứ thứ hai là đậu tương (34 loài) và
thứ ba là lúa (29 loài), ít nhất là trên cây chuối (8
loài) và chanh leo (9 loài). Đồng thời, đối chiếu
với các kết quả đã công bố trước đây, kết quả
điều tra lần này cung cấp lần đầu những ghi
nhận về danh lục thiên địch của sâu hại các cây
ớt (10 loài), chanh leo (9 loài), chuối (7 loài); bổ
sung thiên địch trên cà chua (5 loài), dưa chuột
(13 loài), sắn (13 loài) (bảng 3). Đối với bệnh hại,
cây lúa và thóc bảo quản có số lượng tác nhân
gây bệnh hại nhiều nhất (37 loài), tiếp theo là mía
và đậu tương và sản phẩm sau thu hoạch của 2
loại cây trồng này (cùng có 20 loài), ngô và ngô
hạt bảo quản (17 loài). Trong khi đó, cà chua, dưa
chuột và chuối và các sản phẩm sau thu hoạch
của các cây trồng này đều có 12 tác nhân gây hại.
Cây sắn và sắn lát khô có số tác nhân gây hại
thấp nhất trong các cây trồng đã điều tra (5 loài).
Kết quả điều tra lần này bổ sung vào danh lục
bệnh hại trên ngô trước và sau thu hoạch 3 loài,
sắn 2 loài, dưa chuột 1 loài, quả chuối sau thu
hoạch 1 loài và, chanh leo 6 loài (bảng 4).
Bảng 4. Số lƣợng các loài sâu bệnh hại và thiên địch của chúng trên các cây trồng
và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra năm 2012 – 2017
Cây trồng và sản phẩm sau
thu hoạch
Sâu hại (loài) Thiên địch (loài) Bệnh hại (loại)
A B C A B C A B C
Lúa và thóc 63 61 0 29 26 0 37 37 0
Ngô và hạt ngô 88 86 0 47 44 0 17 17 3
Sắn và sắn lát khô 42 37 22 17 16 13 5 5 2
Cà chua 34 33 5 22 20 14 12 12 0
Dưa chuột 37 36 24 15 14 13 12 12 1
Ớt cay và quả ớt khô 15 13 2 11 10 10 7 7 0
Mía và cây mía 33 31 0 16 15 0 20 20 0
Đậu tương và hạt đậu tương 41 41 0 34 33 0 20 20 0
Chuối và quả chuối tươi 14 13 3 8 7 7 12 12 1
Chanh leo 13 12 8 9 9 9 11 11 6
Ghi chú: A = Số loài đã thu thập được; B = Số loài đã giám định được tên khoa học;
C = Ghi nhận lần đầu trên cây trồng/sản phẩm sau thu hoạch được điều tra.
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
8
Sâu hại lúa trước và sau thu hoạch (thóc):
Đã thu thập được 63 loài sâu hại trong đó có 61
loài đã giám định được tên khoa học, chiếm
96,83 % trong tổng số loài thu thập được, gồm
48 loài gây hại trên cây lúa và 13 loài gây hại trên
thóc thuộc 30 họ của 7 bộ côn trùng và bộ
Acarina. Đối chiếu với các công bố trước đây
(Viện Bảo vệ thực vật, 1976, 1999; Phạm Văn
Lầm, 2013; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, 2010b), trong lần điều tra này đã không ghi
nhận được thêm loài sâu hại mới nào trên lúa
trước và sau thu hoạch ở nước ta, các loài sâu
hại trên lúa trên đồng ruộng và trên thóc trong
bảo quản đều là những loài đã được ghi nhận
trước đây.
Thiên địch trên sâu hại lúa: Đã thu thập
được 29 loài thiên địch sâu hại lúa, trong đó đã
giám định được tên khoa học của 26 loài (chiếm
89,66% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 15
họ của 5 bộ côn trùng và bộ nhện Araneida. Đối
chiếu với kết quả đã công bố về thành phần thiên
địch của sâu hại lúa (Phạm Văn Lầm, 2002), điều
tra lần này cũng không ghi nhận thêm loài
thiên địch mới nào trên sâu hại lúa trước và
sau thu hoạch.
Bệnh hại lúa và thóc bảo quản: Đã ghi nhận
sự hiện diện và gây hại của 24 loại bệnh hại trên
cây lúa và và 13 bệnh hại trên thóc bảo quản sau
thu hoạch. Cả 37 loại bệnh này dều đã giám định
được tên khoa học (chiếm 100% số bệnh đã ghi
nhận được). Đối chiếu với kết quả đã công bố về
thành phần bệnh hại lúa và thóc bảo quản (Viện
Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk,
1999; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
2010b) điều tra lần này cũng không ghi nhận
được thêm loại bệnh mới nào trên lúa và thóc
bảo quản sau thu hoạch ở nước ta.
Sâu hại trên ngô trước và sau thu hoạch
(ngô hạt): Đã thu thập được 88 loài sâu hại trên
ngô trước và sau thu hoạch ở một số tỉnh trồng
ngô ở nước ta, trong đó đã xác định tên khoa
học của 86 loài (chiếm 97,72% tổng số loài đã
thu thập được, gồm có 71 loài gây hại trên ngô ở
giai đoạn trước thu hoạch và có 15 loài gây hại
trên ngô hạt bảo quản sau thu hoạch) thuộc 28
họ của 6 bộ côn trùng và bộ ve bét Acarina. Đối
chiếu với các kết quả điều tra trước đây (Viện
Bảo vệ thực vât, 1976; Phạm Văn Lầm 2013,
Nguy n Văn Liêm và nnk, 2008) điều tra lần này
cũng không ghi nhận thêm được loài sâu hại mới
nào trên ngô trước và sau thu hoạch ở Việt Nam.
Thiên địch trên sâu hại ngô trước và sau
thu hoạch: Đã thu thập được 47 loài thiên địch
sâu hại ngô, trong đó có 44 loài thiên địch đã xác
định được tên khoa học (chiếm 93,62% tổng số
loài đã thu thập được) thuộc 22 họ của 8 bộ côn
trùng, bộ Araneida, bộ vi khuẩn Bacillales và bộ
vi-rút Bacculoviridae. Tương tự như kết quả điều
tra thành phần sâu hại, lần điều tra này cũng
không ghi nhận thêm được nào thiên địch mới
nào trên sâu hại ngô trước và sau thu hoạch ở
Việt Nam so với các công bố trước đây (Phạm
Văn Lầm, 1996, 2002).
Bệnh hại trên cây ngô và ngô hạt bảo quản
sau thu hoạch: Đã ghi nhận có 10 loại bệnh gây
hại trên cây ngô và 7 loại bệnh hại trên hạt ngô
trong khu vực bảo quản. Cả 17 loại bệnh này đều
đã giám định được tên khoa học (chiếm 100% số
bệnh đã phát hiện được). Kết quả điều tra lần
này đã ghi nhận thêm 3 bệnh hại mới (1 bệnh
trên cây ngô và 2 bệnh hại ngô hạt bảo quản sau
thu hoạch) so với các công bố trước đây (Viện
Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và nnk,
1999). Đó là bệnh cháy lá Pseudomonas avenae
Manns, bệnh mốc hạt Rhizopus sp. và bệnh mốc
hạt Curvularia sp.
Sâu hại trên sắn trước và sau thu hoạch
(sắn lát khô): Đã thu thập được 42 loài sâu hại
(côn trùng và nhện nhỏ) trong đó có 37 loài đã
xác định được tên khoa học (chiếm 88,10% tổng
số loài đã thu thập được) thuộc 18 họ của 6 bộ
côn trùng và bộ nhện nhỏ Acarina. Trên đồng
ruộng cây sắn bị gây hại bởi 21 loài sâu hại còn
trong khu vực bảo quản lát sắn khô bị 10 loài sâu
(mọt) gây hại. So với các công bố trước đây,
thành phần sâu hại trên sắn ghi nhận được trong
lần điều tra này phong phú hơn nhiều: thu thêm
10 loài sâu hại trên sắn sau thu hoạch và số loài
sâu hại trên sắn trước thu hoạch cũng ghi nhận
được nhiều hơn. Theo Phạm Văn Lầm (2013,
2014), đến nay các nghiên cứu ở nước ta mới
chỉ ghi nhận được 6 loài thuộc 4 họ của 3 bộ côn
trùng và nhện nhỏ gây hại trên sắn. Đó là các
loài bọ phấn trắng thuốc lá Bemissia tabaci
(Gennadius), rệp sáp bột vằn Ferrisia virgata
(Cockerell), rệp sáp bột hồng Phenacoccus
manihoti Matile-Ferrero, bọ cánh cam Anomala
sp. bọ đa lớn Lepidiota signatata Fabricius, nhện
đỏ Tetranychus urticae Koch. Điều tra các năm
2013-2015 của Lê Thị Tuyết Nhung và nnk
(2015) cũng đã ghi nhận được 10 loài sâu hại
sắn, trong đó 4 loài cũng được ghi nhận trong lần
điều tra này là các loài rệp sáp bột hồng hại sắn
P. manihoti, sâu xanh Helicoverpa armigera
(Hübner), sâu khoang Spodoptera litura
(Fabricius), nhện đỏ T. urticae, còn 6 loài khác
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
9
chưa bắt gặp trong lần điều tra này gồm các loài
mối Coptotermes sp., bọ phấn trắng lớn
Aleurodicus dispersus Russel bọ phấn trắng
thuốc lá Bemisia tabaci (Gennadius), rệp sáp bột
vằn Ferrisia virgata (Cockerell), rệp sáp giả đu đủ
Paracoccus marginatus Williams et Willink và rệp
sáp giả đuôi dài Pseudococcus jackbeardsleyi
Gimpel et Miller. Đối chiếu với các tài liệu đã
công bố (Phạm Văn Lầm, 2013, 2014; Lê Thị
Tuyết Nhung và nnk, 2015), kết quả điều tra lần
này đã bổ sung vào danh mục sâu hại sắn trước
và sau thu hoạch ở nước ta là 22 loài. Đó là các
loài nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae (Nietner),
bọ lá bốn vệt trắng Monolepta signata Olivier, bọ
hung đen Alissonotum impressicolle Arrow, bọ
cánh cam xanh Anomala cupripes Hope, bọ hung
đục gốc Holotrichia sinensis Hope, bọ xít gai vai
chấm trắng Cletus punctiger (Dallas), bọ xít gai
vai dài Cletus trigonus (Thunberg), bọ xít dài (bọ
xít hôi) Leptocorisa acuta (Thunberg), rầy xanh
đuôi đen hai chấm lớn Nephotettix nigropictus
Stal, sâu róm đường chỉ đỏ Euproctis scintillans
(Walker), cào cào nhỏ cánh dài Atractomorpha
sinensis Bolivar, châu chấu lúa Oxya chinensis
(Thunberg), mọt cà phê Araecerus fasciculatus
(deGeer), mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica
(Fabricius), mọt râu dài Cryptolestes pusillus
(Schönherr), mọt gạo Sitophilus oryzae
(Linnaeus), mọt ngô Sitophilus zeamais
Motschulsky, mọt gạo thòi đuôi Carpophilus
dimidiatus (Fabricius), mọt gạo dẹt Ahasverus
advena (Waltl), mọt có sừng Gnathocerus
cornutus (Fabricius), ngài gạo Corcyra
cephalonica (Stainton) và mạt bột Acarus siro
Linnaeus.
Thiên địch trên sâu hại sắn trước thu
hoạch: Đã thu thập được 17 loài thiên địch của
sâu hại sắn. Trong đó xác định được tên khoa
học của 16 loài (chiếm 94,12% tổng số loài đã
thu thập được) thuộc 13 họ của 6 bộ côn trùng,
bộ nhện lớn Araneida và bộ nhện nhỏ Acarina.
Điều tra 2013-2015 của Lê Thị Tuyết Nhung và
nnk (2015) đã ghi nhận 10 loài thiên địch, trong
đó có 2 loài cũng được ghi nhận trong điều tra
lần này là các loài Bọ rùa 6 vệt đen Menochilus
sexmaculatus (Fabr.) và Bọ rùa đỏ Micraspis
discolor (Fabr.), còn 8 loài khác gồm dế cây
Oecanthus sp., bọ xít cổ ngỗng Rhinocoris
fuscipes (Fabricius), bọ rùa 2 chấm vàng
Cryptogonus orbiculus Gyllenhal, bọ rùa đen nhỏ
Stethorus punctillum Weise, bọ mắt vàng
Pleisiochrysa ramburi, sâu ăn rệp sáp Spalgis
epeus Westwood, ong ký sinh Anagyrus lopezi
(de Santis), ong vàng Acergophagus papaya
Williams & Granara chưa bắt gặp trong đợt điều
tra lần này. Đối chiếu với kết quả điều tra của Lê
Thị Tuyết Nhung và nnk (2015) và kết quả điều
tra lần này đã bổ sung thêm 13 loài thiên địch
vào danh lục thiên địch sâu hại sắn của nước ta.
Các thiên địch của sâu hại sắn được ghi nhận
lần đầu bao gồm: nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius
cucumeris (Oudemans), nhện vân lưng hình mác
Araneus inustus (Koch), nhện linh miêu vân xiên
Oxyopes javanus Thorell, nhện sói vân đinh ba
Pardosa pseudoannulata (Boes. et Str.),
nhện nhẩy vằn lưng Bianor hotingchiehi
Schenkel, bọ vằn hổ Cicindela aurulenta
Fabricius, bọ rùa chữ nhân Coccinella
transversalis Fabricius, bọ rùa Nhật Bản
Propylea japonica (Thunberg), bọ đuôi kìm
Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít Orius ianthe
Distant, bọ xít ăn sâu Harpactor trisicolor Reuter,
ong kén trắng Microplitis manilae Ash. và chuồn
chuồn Agriocnemis femina (Brauer).
Bệnh hại trên cây sắn và sắn lát khô bảo
quản sau thu hoạch: Đã thu thập và giám định
được 5 loại bệnh hại trên cây sắn ở các vùng
điều tra. So với các tài liệu đã công bố trước đây
(Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà Minh Trung và
nnk, 1999), lần điều tra này bổ sung thêm 2 bệnh
mới trên sắn là bệnh thối củ Fusarium sp., bệnh
cháy lá Xanthomonas axonopodis pv. manihotis
(Bondar).
Sâu hại cà chua trước thu hoạch: Đã thu
thập được 34 loài sâu hại cà chua, định danh
được 33 loài (chiếm 97,06% tổng số loài đã thu
thập được) thuộc 15 họ của 6 bộ côn trùng. Đối
chiếu với danh lục 29 loài sâu hại cà chua đã
điều tra được trong các năm1977-1978 (Viện
Bảo vệ thực vật, 1999), thì đợt điều tra 2013-
2014 có 12 loài giống với kết quả điều tra năm
1977 - 1978, còn lại là 13 loài mới. Đồng thời có
16 loài của kết quả điều tra năm 1977 - 1978
không ghi nhận được ở đợt điều tra này. Đó là
các loài cào cào lớn Acrida cinerea (Thunberg),
châu chấu
Heteropternis respondens (Walker), châu
chấu di cư Đông Nam Á Locusta migratoria
manilensis (Meyen), châu chấu cánh ngắn
Pseudoxya diminuta (Walker), châu chấu u ngực
Trilophidia annulata (Thunberg), dế mèn nhỏ
Gryllus testaceus (Walker), rệp đào Myzus
persicae (Sulzer), rầy xanh đuôi đen 2 chấm lớn
Nephottix nigropictus Stal, rầy xanh đuôi đen
2 chấm nhỏ Nephottix virescens (Distant), bọ
xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri (Gmelin), bọ
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
10
rùa ăn lá 28 chấm to Epilachna
vigintioctomaculata Motschulsky, bọ nhảy sọc
cong Phyllotreta striolata (Fabricius), sâu sa rừng
Acherontia lachesis (Fabricius), sâu sa khoai
lang Agrius convolvuli (Linnaeus), sâu đo giả
Chalciope hyppasia Cramer, sâu đo giả Mocis
undata (Fabricius). Đợt điều tra lần này ghi nhận
có 17 loài giống và có 10 loài khác so với danh
lục sâu hại cà chua của Phạm Văn Lầm (2013)
tổng hợp (44 loài). Đồng thời có 25 loài trong
danh lục tổng hợp của của Phạm Văn Lầm
(2013) nhưng không ghi nhận được ở lần điều
tra này. Đó là các loài cào cào lớn, châu chấu di
cư Đông Á, châu chấu cánh ngắn, châu chấu u
ngực, dế mèn lớn, rầy xanh đuôi đen hai chấm
lớn, rầy xanh đuôi đen hai chấm nhỏ, bọ phấn
trắng Parabemisia myricae (Kuwana), rệp muôi
Aphis fabae Scopoli, rệp muội cà chua
Aulacorthum solani Kaltenbach, rệp đào, bọ xít
xanh vai đỏ, bọ trĩ Thrips imaginis Bagnall, bọ rùa
ăn lá 28 chấm to, bọ nhảy sọc cong, sâu sa rừng,
sâu đo giả Chalciope hyppasia Cramer, sâu
khoang Spodoptera litura (Fabricius), ruồi đục
quả họ bầu bí Bactrocera cucurbitae Coquillett,
ruồi đục quả Bactrocera tau (Walker), ruồi đục lá
Chromatomyia horticola Goureau, ruồi đục lá rau
Litriomyza bryoniae (Kaltenbach), ruồi đục lá rau
(Litriomyza sativae Blanchard), ruồi đục lá rau
(Litriomyza trifolii Burgess), nhện nhỏ trắng
Polyphagotarsonemus latus (Banks). Sự sai khác
trên có thể là do phạm vi của vùng điều tra của
các đợt điều tra là khác nhau. Tuy nhiên, có thể
thấy đã có những thay đổi nhất định về thành
phần sâu hại cà chua trong những năm gần đây
với xu thế các loài sâu hại miệng nhai kích thước
lớn ngày càng hiện diện ít đi trên đồng ruộng. Đối
chiếu với danh lục sâu hại cà chua của Viện Bảo
vệ thực vật (1999) và danh lục tổng hợp của
Phạm Văn Lầm (2013) thì đợt điều tra lần này đã
ghi nhận thêm 6 loài sâu hại mới trên cà chua ở
nước ta. Đó là các loài châu chấu lúa Oxya
chinensis (Thunberg), bọ xít Anoplocnemis
phasiana (Fabricius), bọ xít xanh Nezara viridula
(Linnaeus), bọ đùn phân lên lưng Lema
coromandeliana, bọ cánh cam Anomala cupripes
Hope và sâu róm lưng gù Orgya postica
(Walker).
Thiên địch của sâu hại cà chua: Đã thu thập
được 22 loài thiên địch sâu hại cà chua, xác định
được tên khoa học của 20 loài thuộc 16 họ của 7
bộ côn trùng và bộ nhện Aranaea và bộ vi khuẩn
Bacillales và bộ nấm Hypocreales. Đối chiếu với
các công bố trước đây, đã bổ sung thêm vào
danh lục các thiên địch của sâu hại cà chua ở
Việt Nam 13 loài ghi nhận lần đầu. Đó là các loài
nhện vân lưng hình mác Araneus inustus (Koch),
nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus
Thorell, nhện sói vân đinh ba Pardosa
pseudoannulata (Boes. et Str.), nhện nhảy vằn
lưng Bianor hotingchiehi Schenkel, nhện chân
dài bụng thon Tetragnatha javana (Thorell), bọ
rùa 6 vệt đen Menochilus sexmaculatus
(Fabricius), bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica
(Thunberg),
bọ đuôi kìm Anisolabis annulipes (Lucas), bọ
xít hoa bắt mồi Eocanthecona furcellata Wolff,
ong kén trắng Apanteles antipoda Ashmead, bọ
mắt vàng Chrysopa sp., bọ ngựa Mantis religiosa
Linnaeus, chuồn chuồn kim mình xanh đuôi đỏ
Agriocnemis pygmaea Rambur.
Bệnh hại cà chua: Đã thu thập và xác định
được có 12 loại bệnh hại trên cây cà chua trên
đồng ruộng ở các vùng điều tra,. Đối chiếu với
các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật,
1975; Hà Minh Trung và nnk, 1999) , lần điều tra
này không ghi nhận thêm bệnh hại mới nào trên
cây cà chua ở nước ta.
Sâu hại trên dưa chuột trước thu hoạch:
Đã thu thập được 37 loài sâu hại trong đó có 36
loài đã giám định tên khoa học (chiếm 97,30%
tổng số các loài đã thu thập được). Các loài này
thuộc 17 họ của 7 bộ côn trùng và bộ ve bét
Acarina. Theo tổng kết của Phạm Văn Lầm
(2013), sâu hại cây dưa chuột ở nước ta có 13
loài của 7 thuộc 4 bộ côn trùng và bộ Acarine.
Kết quả điều
tra lần này bổ sung thêm 24 loài sâu hại trên
cây dưa chuột ở nước ta, gồm: nhện đỏ hai
chấm Tetranychus urticae Koch, bọ lá thụt đầu
màu xanh Colasposoma dauricum
auripenne(Motschulsky), bọ nhảy sọc cong
Phyllotreta striolata Fabricius, bọ lá bốn vệt trắng
Monolepta signata Olivier, câu cấu xanh lớn
Hypomeces squamosus (Fabricius), câu cấu
xanh nhỏ Corigetus sieversi Reitter, bọ cánh cam
xanh Anomala cupripes Hope, bọ hung đen
Alissonotum impressicolle Arrow, ruồi đục thân
Ophiomyia sp., bọ xít gai vai Cleutus pugnator
Fabricius, bọ xít gai vai chấm trắng Cletus
punctiger (Dallas), bọ xít gai vai dài Cletus
trigonus (Thunberg), bọ xít xanh Nezara viridula
(Linnaeus), bọ xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri
(Gmelin), bọ xít xanh cánh gụ Plautia crossota
(Dallas), bọ phấn gai đen Aleurocanthus
spiniferus (Quaintance), rầy xanh lá mạ
Empoasca flavescens (Fabr.), sâu róm nâu
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
11
Amsacta lactinea (Cramer), sâu róm đường chỉ
đỏ Euproctis scintillans (Walker), sâu róm bốn gù
vàng Orgyia postica (Walker), Cào cào nhỏ cánh
dài Atractomorpha sinensis Bolivar, châu chấu
lúa Oxya chinensis (Thunberg), dế mèn lớn
Tarbinskiellus portentosus (Lichtenstein) và bọ trĩ
Frankliniella williamsi Hood.
Thiên địch trên sâu hại dưa chuột: Đã thu
thập được 15 loài thiên địch, trong đó định danh
được 14 loài (chiếm 93,33% tổng số loài đã thu
thập được) thuộc 11 họ của 6 bộ côn trùng và bộ
nhện Araneida và bộ ve bét Acarina. Theo kết
quả điều tra của Cao Hoàng Yến Nhi và nnk
(2014), thành phần thiên địch trên râu ăn quả
(bầu, bí, dưa leo) tại Hóc Môn – Tp Hồ Chí Minh
gồm 9 loài thiên địch thuộc 7 họ của 3 bộ côn
trùng và bộ nhện lớn Araneidae. Tuy nhiên, tất
cả các loài thiên địch ghi nhận được trong điều
tra của các tác giả này đều chưa được xác định
đến tên loài cụ thể. Các thiên địch của sâu hại
dưa chuột được ghi nhận lần đầu trong lần điều
tra này bao gồm: nhện nhỏ Amblyseius
cucumeris (Oudemans), nhện vân lưng hình mác
Araneus inustus (Koch), Nhện linh miêu vân xiên
Oxypes javanus Thorell, nhện sói vân đinh ba
Pardosa pseudoannulata (Boes. et Str.), bọ rùa 6
vệt đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ
rùa đỏ Micraspis discolor (Fabricius), bọ rùa Nhật
Bản Propylea japonica (Thunberg), cánh cứng
cánh ngắn Paederus fuscipes Curtis, bọ đuôi kìm
Anisolabis annulipes (Lucas), bọ xít hoa Orius
ianthe Distant, ong kén trắng Apanteles antipoda
Ashmead, bọ mắt vàng Chrysopa sp. và chuồn
chuồn Agriocnemis femina (Brauer).
Bệnh hại trên cây dưa chuột: Đã ghi nhận
và giám định được 12 loại bệnh hại trên dưa
chuột ở các vùng điều tra. Lần điều tra này đã
ghi nhận thêm 1 bệnh hại mới trên cây cà chua
so với các công bố trước đây (Hà Minh Trung và
nnk, 1999) đó là bệnh đốm lá vi khuẩn
Pseudomonas larchrymans Smith & Bryan.
Sâu hại trên ớt cay trước thu hoạch: Đã
thu thập được 15 loài sâu hại trên cây ớt, trong
đó đã định danh được 13 loài (chiếm 86,67%)
thuộc 11 họ của 7 bộ côn trùng. Theo kết quả
điều tra năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ thực
vật, thành phần sâu hại trên ớt chỉ có 6 loài,
trong đó có 4 loài gây hại mạnh là bọ xít ớt, sâu
xám, bọ rùa ăn lá 28 chấm, bọ xít vai gồ; 2 loài
gây hại ít là dế dũi và sâu khoang. Kết quả điều
tra lần này đã ghi nhận sự hiện diện của tất cả
các loài sâu hại ớt đã phát hiện được ở lần điều
tra trên và bổ sung thêm 5 loài mới. Theo tổng
kết của Phạm Văn Lầm (2013), ở Việt Nam có 13
loài sâu hại ớt thuộc 12 họ của 8 bộ côn trùng và
nhện nhỏ. Kết quả điều tra lần này có 11 loài
trùng với danh lục tổng hợp của Phạm Văn Lầm
(2013) và bổ sung 02 loài vào danh lục sâu hại ớt
ở Việt Nam đó là cào cào nhỏ (Atractomorpha
chinensis Bolivar) và bọ cánh cam (Anomala
cupripes Hope). Tuy nhiên, kết quả điều tra làn
này lại không ghi nhận sự hiện diện của 2 loài
sâu hại là nhện nhỏ trắng Polyphagotarsonemus
latus (Banks) và nhện đỏ hai chấm Tetranychus
urticae Koch đã được Phạm Văn Lầm (2013) liệt
kê. Tổng hợp các kết quả công bố của Viện
BVTV (1976), Phạm Văn Lầm (2013) và kết quả
điều tra lần này, đến nay đã ghi nhận thành phần
sâu hại trên cây ớt cay ở Việt Nam gồm có 15
loài. Thiên địch trên sâu hại ớt: Đã thu thập
được 11 loài thiên địch sâu hại ớt cay, trong đó
xác định tên khoa học của 10 loài (chiếm
90,91% tổng số loài đã thu thập được) thuộc 7
họ của 5
bộ côn trùng, 1 bộ nhện lớn Araneida. Đây là
kết quả ghi nhận lần đầu các loài thiên địch trên
sâu hại cây ớt cay ở nước ta. Chúng gồm các
loài nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus
Thorell, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis
Fabricius, Bọ rùa 6 vệt đen Menochilus
sexmaculatus(Fabricius), bọ rùa đỏ Micraspis
discolor (Fabricius), bọ rùa Nhật Bản Propylea
japonica (Thunberg), cánh cứng cánh ngắn
Paederus fuscipes Curtis, bọ đuôi kìm Anisolabis
annulipes (Lucas), bọ xít hoa Orius ianthe
Distant, ong kén trắng Apanteles antipoda
Ashmead và chuồn chuồn kim mình xanh đuôi đỏ
Agriocnemis pygmaea Rambur.
Bệnh hại ớt: Đã điều tra và giám định được
5 loại bệnh gây hại trên cây ớt trước thu hoạch
và 2 bệnh gây hại trên quả ớt khô bảo quản sau
thu hoạch ở các vùng điều tra. Kết quả điều tra
lần này không ghi nhận thêm bệnh hại mới nào
trên cây ớt cay và sản phẩm sau thu hoạch so
với các công bố trước đây (Hà Minh Trung và
nnk, 1999).
Sâu hại mía trước thu hoạch: Đã thu thập
được 33 loài sâu hại trong đó có 31 loài đã giám
định tên khoa học (chiếm 93,94% tổng số các
loài đã thu thập được) thuộc 15 họ của 5 bộ côn
trùng. Kết quả điều tra lần này không ghi nhận
thêm loài sâu hại mới nào trên mía ở nước ta,
các loài sâu hại trên mía đã điều tra giám định
được trong lần điều tra này đều là những loài đã
được ghi nhận trước đây.
Thiên địch trên sâu hại mía: Đã thu thập
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
12
được 16 loài thiên địch, trong đó giám định được
tên khoa học của 15 loài (chiếm 93,75%) thuộc 7
họ của 4 bộ côn trùng và bộ nhện Araneida. Lần
điều tra này cũng không ghi nhận thêm được loài
thiên địch mới nào trên sâu hại mía, các loài đã
giám định được đều là những loài thiên địch đã
được ghi nhận trước đây.
Bệnh hại trên cây mía: Đã điều tra và giám
định được có 7 bệnh gây hại trên mía trước thu
hoạch và một bệnh gây hại trên mía sau thu
hoạch. Lần điều tra này cũng không ghi nhận
thêm loại bệnh hại mới nào trên cây mía so với
các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật,
1975, 1999; Hà Minh Trung và nnk, 1999).
Sâu hại trên cây đậu tương trước và sau
thu hoạch (đậu tương hạt): Đã thu thập được
41 loài sâu hại, trong đó đã xác định tên khoa
học của 41 loài thuộc 19 họ của 5 bộ côn trùng
và bộ ve bét Acarina. Trong 40 loài sâu hại đã
ghi nhận được, có 35 loài gây hại trên cây đậu
tương trước thu hoạch và 5 loài gây hại trên hạt
đậu tương bảo quản sau thu hoạch. Kết quả
điều tra lần này cũng không ghi nhận được loài
sâu hại mới nào trên đậu tương trước và sau
thu hoạch.
Thiên địch trên sâu hại đậu tương: Đã thu
được 34 loài thiên địchvà định danh được 33 loài
(chiếm 97,06% tổng số loài đã thu thập được)
thuộc 16 họ của 5 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn
Aranaea. Trong lần điều tra này cũng không ghi
nhận thêm loài thiên địch mới nào trên sâu hại
đậu tương ở nước ta.
Bệnh hại cây đậu tương và hạt đậu tương
bảo quản sau thu hoạch: Đã thu thập và giám
định được 10 bệnh gây hại trên đậu tương ngoài
đồng ruộng và 10 bệnh hại hạt đậu tương bảo
quản sau thu hoạch. So với các kết quả đã công
bố trước đây (Viện Bảo vệ thực vật, 1975; Hà
Minh Trung và nnk, 1999), lần điều tra này cũng
không ghi nhận thêm được bệnh hại đậu tương
mới nào trên cây đậu tượng ngoài đồng ruộng và
hạt đậu tương bảo quản sau thu hoạch.
Sâu hại chuối trước thu hoạch: Đã ghi
nhận được 14 loài sâu hại chuối, định danh được
13 loài (chiếm 92,86% tổng số loài đã thu thập
được) của 8 họ thuộc 6 bộ côn trùng. Đối chiếu
với các công bố trước đây về sâu hại chuối ở
nước ta, kết quả điều tra lần này đã ghi nhận lần
đầu 3 sâu hại trên chuối ở nước ta. Đó là các loài
bọ xít xanh Nezara viridula (Linnaeus), rệp muội
bông Aphis gossypii Glover và rệp muội đen
Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe.
Thiên địch trên sâu hại chuối: Đã thu thập
được 8 loài thiên địch sâu hại chuối, trong đó xác
định được tên khoa học của 7 loài (chiếm
87,50% tổng số loài đã thu thập được) của 5 họ
thuộc 3 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn Araneida.
Đây là kết quả ghi nhận lần đầu các loài thiên
địch trên sâu hại chuối ở nước ta. Các loài thiên
địch của sâu hại chuối được ghi nhận lần đầu
gồm:
nhện vân lưng hình mác Araneus inustus
(Koch), nhện linh miêu vân xiên Oxyopes javanus
Thorell, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis
Fabricius, bọ rùa 6 vệt đen Menochilus
sexmaculatus (Fabricius), bọ rùa đỏ Micraspis
discolor (Fabricius), ong đen Telenomus rudus
Le và bọ mắt vàng Chrysopa sp..
Bệnh hại cây chuối và quả chuối sau thu
hoạch: Đã điều tra và giám định được 8 loại
bệnh gây hại trên cây chuối trước thu hoạch và 3
loại bệnh gây hại trên quả chuối sau thu hoạch.
So với các công bố trước đây (Viện Bảo vệ thực
vật, 1975; hà Minh Trung và nnk, 1999), lần điều
tra này ghi nhận thêm bệnh thối quả ceracystis
Ceratocystis paradoxa (Dade) Moreau
Sâu hại trên cây chanh leo trước thu
hoạch: Đã thu thập được 13 loài sâu hại trên
chanh leo, trong đó xác định được tên khoa học
của 12 loài (chiếm 92,31% tổng số loài đã thu
thập được). Các loài thuộc 6 họ của 3 bộ côn
trùng và 1 bộ nhện nhỏ Acarina. Kết quả điều tra
trong nghiên cứu này thu thập được số loài sâu
hại chanh leo ít hơn so với nghiên cứu của
Nguy n Tuấn Lộc và nnk (2017). Theo các tác
giả này, trong năm 2015 – 2016 tại vùng Quế
Phong – Nghệ An đã thu thập và định danh 23
loài sâu hại chanh leo thuộc 16 họ của 9 bộ côn
trùng và bộ ve bét Acarina (Nguy n Tuấn Lộc và
nnk, 2017). Đối chiếu với kết quả của các tác giả
này thì đã có 8
loài sâu hại được ghi nhận lần đầu trên cây
chanh leo ở nước ta trong lần điều tra này. Đó là
các loài nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus
(Boisduval), bọ phấn gai đen Aleurocanthus
spiniferus Quaintance, bọ phấn trắng cam
Dialeurodes citri (Ashmead), rệp muội xanh cam
Aphis spiraecola Patch, rệp muội nâu đen
Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe, rệp
sáp vảy đen Parlatoria ziziphi (Lucas), rệp sáp
vảy trắng Unaspis citri (Comstock) và bọ trĩ
Scirtothips dorsalis Hood.
Thiên địch trên sâu hại chanh leo: Đã thu
thập và giám định được tên khoa học của 9 loài
thiên địch của sâu hại chanh leo. Đây là kết quả
ghi nhận lần đầu các loài thiên địch trên sâu hại
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
13
chanh leo ở nước ta, các loài thiên địch ghi nhận
lần đầu gồm: nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius
cucumeris (Oudemans), nhện linh miêu vân xiên
Oxyopes javanus Thorell, Bọ rùa chữ nhân
Coccinella transversalis Fabricius, bọ rùa 6 vệt
đen Menochilus sexmaculatus (Fabricius), bọ rùa
đỏ Micraspis discolor (Fabricius), bọ rùa đen nhỏ
Pseudoscymnus sp., bọ cánh cứng Oligota sp.,
bọ mắt vàng Chrysopa sp. và bọ trĩ bắt mồi sáu
chấm Scolothrips sp.
Bệnh hại trên cây chanh leo: Đã phát hiện
và giám định được 11 bệnh gây hại trên chanh
leo. So với các công bố trước đây (Nguy n Tuấn
Lộc và nnk, 2017)., lần điều tra này ghi nhận
thêm 6 bệnh hại mới trên chanh leo ở nước ta
gồm bệnh đốm xám Septoria passiflorae Syd.
Bệnh đốm nâu Alternaria passiflorae Simmonds,
Bệnh héo rũ Fusarium avenacearum (Fr.) Sacc.,
Bệnh đốm dầu vi khuẩn Pseudomonas
passiflorae Reid, Bệnh quăn lá Euphorbia
Euphorbia leaf curl virus, Bệnh cứng quả (hóa
bần vỏ quả) Potyvirus.
4. KẾT LUẬN
Điều tra trên phạm vi cả nước trong các năm
2012 – 2017 trên 10 loài cây trồng và sản phẩm
sau thu hoạch của các cây trồng này đã phát
hiện được 203 loài sâu hại, trong đó đã xác định
được tên khoa học cho 188 loài (chiếm 92,61%
tổng sỗ loài thu thập được); đã phát hiện được
83 loài thiên địch, trong đó xác định được tên
khoa học của 70 loài (chiếm 84,34% tổng số loài
thu thập được), Đồng thời, đã phát hiện và giám
định được tên tác nhân gây bệnh của 110 loại
bệnh hại khác nhau trên các cây trồng và sản
phẩm cây trồng sau thu hoạch được điều tra.
Trong các cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch
đã điều tra, cây ngô và ngô hạt có số loài sâu hại
thu thập được nhiều nhất (88 loài), tiếp đến là
cây lúa và thóc (63 loài). Các cây chanh leo,
chuối và ớt cay có số loài sâu hại phát hiện được
là ít nhất và lần lượt tương ứng là 13, 14 và 15
loài. Số lượng loài thiên địch phát hiện được trên
cây ngô là nhiều nhất (47 loài), thứ hai là đậu
tương (34 loài) và lúa (29 loài), ít nhất là trên cây
chuối (8 loài), chanh leo (9 loài).
Cây lúa và thóc bảo quản có số lượng tác
nhân gây bệnh hại nhiều nhất (37 loài), tiếp theo
là mía, đậu tương và sản phẩm sau thu hoạch
của 2 loại cây trồng này (cùng có 20 loài), cây
sắn có số tác nhân gây hại thấp nhất trong các
cây trồng đã điều tra (5 loài).
Đối chiếu với những tài liệu đã công bố, đã
ghi nhận lần đầu khá nhiều loài sâu hại cho các
cây trồng và sản phẩm sau thu hoạch đã điều tra,
nhiều nhất là trên dưa chuột (24 loài), sắn (22
loài), chanh leo (8 loài), cà chua (5 loài), chuối (3
loài), ớt cay (2 loài), mía (1 loài). Đồng thời lần
đầu ghi nhận danh lục thiên địch của sâu hại các
cây ớt (10 loài), chanh leo (9 loài), chuối (7 loài);
bổ sung vào danh lục thiên địch trên cà chua 5
loài, dưa chuột 13 loài, sắn 13 loài; bổ sung vào
danh lục bệnh hại trên ngô trước và sau thu
hoạch 3 loài, sắn 2 loài, dưa chuột 1 loài, quả
chuối sau thu hoạch 1 loài và chanh leo 6 loài.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được Trung
tâm KOPIA Việt Nam tài trợ kinh phí trong khuôn
khổ Dự án hợp tác Kỹ thuật giữa Trung tâm
KOPIA Việt Nam và Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam “Điều tra thành phần sâu bệnh hại cây
trồng nông nghiệp và sản phẩm sau thu hoạch ở
Việt Nam (2012 – 2017)”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010a.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra
phát hiện dịch hại cây trồng. QCVN-01-
38:2010/BNNPTNT.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010b.
Danh lục sinh vật hại trên một số cây trồng và sản
phẩm cây trồng sau thu hoạch ở Việt Nam (Điều tra
năm 2006 – 2010). Nxb Nông nghiệp, 1188 trang.
3. Phạm Văn Lầm, 1996. Góp phần nghiên cứu về
thiên địch của sâu hại ngô. Tạp chí Bảo vệ thực vật.
số 5. tr 41-45.
4. Phạm Văn Lầm, 2002. Kết quả định danh thiên
địch của sâu hại thu được trên một số cây trồng chính
giai đoạn 1981-2002. Tài nguyên thiên địch của sâu
hại: Nghiên cứu và ứng dụng. Quyển 1. Nxb Nông
nghiệp. Hà Nội. tr 7-57.
5. Phạm Văn Lầm, 2013. Các loài côn trùng và
nhện nhỏ gây hại cây trồng phát hiện ở Việt Nam. Nxb
Nông nghiệp, 420 trang.
6. Phạm Văn Lầm, 2014. Thành phần loài chân đốt
ăn thực vật (Phytophagous) phát hiện được trên cây
trồng nông nghiệp chủ yếu ở Việt Nam. Báo cáo Khoa
học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 8, Hà
Nội 10 - 11 tháng 4 năm 2014. Nxb Nông nghiệp, Hà
Nội, 449 – 460.
7. Nguy n Văn Liêm, Nguy n Kim Hoa, Trần Thị
Hường, Nguy n Thị Hiền. 2008. Thành phần và
mức độ gây hại của các loài mọt trên ngô bảo quản
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
14
tại hộ gia đình ở Bắc Hà - Lào Cai. Báo cáo Khoa
học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 6, Hà
Nội 9 - 10 tháng 5 năm 2008. NXB Nông nghiệp, Hà
Nội, 634 - 638.
8. Nguy n Tuấn Lộc, Nguy n Duy Khánh, Hà
Viết Cường, Nguy n Văn Liêm, Võ Thị Dung và
CS. 2017. Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành
phần sâu, bệnh hại cây chanh leo tại huyện Quế
Phong, tỉnh Nghệ An. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số
4, tr 17 - 26.
9. Cao Hoàng Yến Nhi, Lê Thị Bích Liên, Đặng Thị
Kim Chi, Trương Thành Đạt, Nguy n Thị Thanh Thảo,
Trịnh Đức Thịnh, Đặng Thị Tình, Nguy n Thanh Bạch,
Trần Hậu Toàn, Nguy n Đức Nam, Nguy n Ngọc Bảo
Châu. 2014. Khảo sát thiên địch và sâu hại rau ở một số
vườn râu canh tác an toàn huyện Hóc môn và đánh giá
khả năng ký sinh của ong ký sinh Costesia plutellae
Kurdjumov. Tạp chí Khoa học – Trường Đại học mở Tp.
Hồ Chí Minh, Số 4 (37), tr 19 – 29.
10. Hoàng Đức Nhuận, 1982. Bọ rùa -
Coccinellidae ở Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật.
211 trang.
11. Lê Thị Tuyết Nhung, Trương Thị Hương Lan,
Lã Văn Hào, Lê Hồng Khanh, 2015. Thành phần sâu
hại và thiên địch của chúng trên sắn ở Việt Nam. Báo
cáo Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật lần thứ 6, Nxb Khoa học tự nhiên và
Công nghệ, Hà Nội, tr 1551 - 1555.
12. Hà Minh Trung, Lê Văn Thuyết và Đặng Vũ Thị
Thanh. 1999. Kết quả điều tra bệnh cây ở các tỉnh phía
Nam 1977-1979. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
13. Viện Bảo vệ thực vật. 1975. Kết quả điều tra
bệnh cây 1967-1968. Nxb Nông thôn
14. Viện Bảo vệ thực vật, 1976. Kết quả điều tra
côn trùng 1967-1968. Nxb Nông thôn, tr.430-433.
15. Viện Bảo vệ thực vật, 1999. Kết quả điều tra
côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977-
1978. Nxb Nông nghiệp.
16. Viện Bảo vệ thực vật, 1977. Phương pháp
nghiên cứu bảo vệ thực vật. Tập I. Phương pháp điều
tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của
chúng. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
17. Viện Bảo vệ thực vật, 1999. Kết quả điều tra
Côn trùng và Bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977-
1978, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, tr.180-181.
18. Barnett, H.L. and Hunter, B.B. 1998. Illustrated
genera of imperfect fungi. 217 pp. 4
th
ed., The
American Phytopathological Society, St. Paul,
Minnesota, USA.
19. Blackman R.L. and V.F. Eastop, 1994. Aphid
on the world’s tree – An identification and information
Guide. CABI.
20. Bradbury J.F. 1986. Guide to plant pathogenic
bacteria, CAB International Mycological Institute, Kew,
Surrey, UK. 632 pp.
21. Braun, U. 1987. A monograph of the
Erysiphales (powdery mildews). J. Cramer, Berlin.
700 pp.
22. Braun, U. 1995. A monograph of Cercosporella,
Ramularia, and allied genera (phytopathogenic
Hyphomycetes). Vol. 1. Pub. IHW-Verlag Eching bei
München. 333 pp.
23. Braun, U. 1998. A monograph of Cercosporella,
Ramularia and allied genera (Phytopathogenic
Hyphomycetes), Vol 2. Pub. IHW-Verlag Eching bei
München. 493 pp.
24. Brunt, A.A., Crabtree, K., Dallwitz, M.J., Gibbs,
A.J. and Watson, L. 1996. Viruses of Plants –
Descriptions and lists from the VIDE database. CABI.
25. Burgess, L.W., Summerell, B.A., Bullock, S.,
Gott, K.P. and Backhouse, D. 1994. Laboratory
manual for Fusarium research. University of Sydney
Press, Australia. 133 pp
26. Gressitt J.L. and S. Kimoto, 1963. Pacific
insects monograph – The Chrysomelidae (Coleoptera)
of China and Korea. Entomology Department Berrice.
P. Bishop Meseum USA.8.
27. Sutton, B.C. 1992. The genus Glomerella and its
anamorph Colletotrichum. In: Colletotrichum - biology,
epidemiology and control (Ed. by Bailey, J.; Jeger, M.),
pp. 1-26. CAB International, Wallingford, UK.
28. Towners H., M. Towners, and V.K. Gupta,
1961. A catalogue and reclassification of the Indo-
Australian Chneumonidae. The American
Entomological Institute USA.
29. Waterhouse, G.M. 1968. The genus Pythium
pringsheim diagnoses (or descriptions) and figures
from the original papers. C.M.I. Mycol. Pap. 110, 1-71.
30. William W.W., 2007. Identification of whiteflies
(Hemiptera: Aleyzodidae) at APEC Workshop on
Whiteflies and Mealybugs in Kuala Lumpur, Malaysia.
31. William D.J., 2004. Mealybugs of Southern
Asia. Southdene SPN. BHO.
32. Wilson, M.R. and M.F. Claridge, 1991.
Handbook for the Identification of leafhoppers and
planthoppers of rice. CABI.
33. Wyniger R. 1962. Pests of crops in warm
climates and their control. Acta Tropica.
Supplementum 7, Verlag fur Recht und Gesellschaft
AG. Basel.
34. William D.J., 2004. Mealybugs of Southern
Asia. Southdene SPN. BHO.
Phản biện: TS. Nguyễn Thị Thủy
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_dieu_tra_thanh_phan_sau_benh_hai_va_thien_dich_tren.pdf