Kết quả nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp phòng trừ một số sâu hại quan trọng trên cà phê ở phía Bắc
KẾT LUẬN
- Thu thập và xác định đƣợc 24 loài sâu hại cà
phê chè. Các loài sâu hại cà phê quan trọng nhất hiện
nay cho sản xuất là sâu đục thân, sâu tiện vỏ và một
số loài rệp sáp.
- Giống cà phê Catimor bị hại do sâu đục thân
thấp ở những năm đầu, từ năm thứ 4 trở đi bị
SĐT gây hại ở phần giữa thân và ngọn. Sâu tiện
vỏ hàng năm xuất hiện ở tất cả các vùng trồng cà
phê của Sơn La. Nếu không phòng trừ, tỷ lệ hại
trung bình từ 8 - 23%.
- Thời gian phát sinh của 2 loài rệp sáp giả P.
citri và rệp sáp nâu mềm P. nigra bắt đầu từ đầu
mùa mƣa và có đỉnh cao gây cháy từ tháng 7 đến
tháng 9.
- Rệp sáp nâu mềm khi chỉ số gây hại ở cấp 4
đã làm giảm năng suất cà phê trên 60%, ngoài ra
chúng ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sinh trƣởng
phát triển cây cà phê cho các năm sau.
- Biện pháp mới do Viện bảo vệ thực vật
nghiên cứu đã đƣợc ứng dụng để phòng trừ các
sâu hại quan trọng là thuốc Diazinon 50 EC và
Supracid 40 EC kết hợp với dầu khoáng trừ sâu
tiện vỏ, rệp sáp nâu mềm và rệp sáp giả có hiệu
quả cao không ảnh hƣởng đến cây trồng, giá
thành hạ sử dụng đơn giản đƣợc sản xuất chấp
nhận.
Đã ứng dụng kết quả của biện pháp mới trong
phòng trừ sâu hại chính cà phê cho 6.750 ha cà
phê chè cho Sơn La và Nghệ
An, là những vùng có diện tích cà phê chè lớn,
làm giảm lƣợng thuốc trừ sâu đáng kể, tiết kiệm
đƣợc 317.250.000 đ, làm tăng năng suất từ 20 -
35% cà phê hạt
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp phòng trừ một số sâu hại quan trọng trên cà phê ở phía Bắc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỘT SỐ
SÂU HẠI QUAN TRỌNG TRÊN CÀ PHÊ Ở PHÍA BẮC
Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm
Viện BVTV
Abstract
24 species insects infested coffee in Northern Vietnam were found out. Experimental results show that
Diazinon 50 EC, Supracide 40 EC combined with oil DC - tronplus can be used to control important insects
such as Dihammus cervinus Hope, Parasaissetia nigra Niemer, Planococus citri Risso.
Keywords: insects, coffee, control, pesticides.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà phê chè bị rất nhiều đối tƣợng sâu bệnh phá
hoại cả trên và dƣới mặt đất. Chính vì vậy trong
những năm qua, diện tích cà phê chè ở nhiều địa
phƣơng tăng chậm, năng suất thấp, đầu tƣ cho công
tác bảo vệ thực vật cao. Để giúp sản xuất có biện
pháp hữu hiệu phòng trừ những đối tƣợng sâu hại
chính, Viện Bảo vệ Thực vật đã tiến hành nghiên
cứu và triển khai các mô hình áp dụng các biện
pháp mới trừ sâu hại quan trọng, giúp sản xuất duy
trì năng suất, diện tích và sản xuất ra sản phẩm chất
lƣợng cao phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng.
II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập, xác định thành phần sâu hại cà phê chè,
nghiên cứu sinh học, sinh thái, tiến hành theo
phƣơng pháp nghiên cứu sinh thái côn trùng đã
chuẩn hoá của Viện BVTV. Xây dựng mô hình
phòng trừ đƣợc tiến hành theo PP bố trí thí nghiệm
đồng ruộng. Hiệu quả các loại thuốc hoá học đƣợc
hiệu đính theo công thức ABBOT (trong phòng) và
Henderson, Tilton (ngoài đồng ruộng).
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Một số sâu hại chủ yếu trên cà phê chè
(1997 - 2000) ở miền Bắc VN
Thu thập và định loại đƣợc 24 loài sâu hại cà
phê chè, trong đó có 3 loại hại thân, 1 loài hại
gốc, 2 loài hại cành, 2 loài cắn cây non, 1 loài hại
quả và 15 loài hại lá. Có 4 loại thƣờng xuyên có
mặt trên vƣờn cà phê và gây thiệt hại có ý nghĩa
kinh tế quan trọng đó là sâu đục thân, sâu tiện vỏ
và một số loài rệp (rệp sáp giả, rệp nâu mềm,
ngoài ra ở một số vùng mọt đục hạt cà phê có
mật độ và tỷ lệ hại rất cao.
2. Phát sinh và gây hại của các loài sâu hại
quan trọng
Sâu đục thân (SĐT) Xylotrechus quadripes
Trƣởng thành sâu đục thân Xylotrechus
quadripes hoạt động trong biên độ nhiệt độ từ 25
- 36oC. Phát sinh 2 đợt chính, đợt 1 vào tháng 4 -
5, đợt 2 vào tháng 9 - 10, đỉnh cao sâu non vào
tháng 6 - 7. Cà phê Catimor từ năm thứ 3 trở đi
bắt đầu bị hại từ 3 - 5% số cây, sang năm thứ 4
thiệt hại trên 10% số cây (tuỳ vùng sinh thái)
vùng cà phê Phủ Quỳ thƣờng bị sâu đục thân gây
hại nặng, và cứ nhƣ vậy tăng lên ở các năm sau,
vƣờn cà phê đến thời kỳ thu hoạch chính bị sâu
đục thân hại trên 60% số cây, có nơi hại lên đến
100% số cây (bảng 1).
Bảng 1. Tỷ lệ hại do sâu đục thân gây ra cho cà phê ở các tuổi khác nhau.
(Giống Catmor, 1999 - 2000)
Tuổi cây
(năm)
Tỷ lệ cây bị hại do sau đục thân tại ba vùng nghiên cứu (%)
Tây Bắc Đông Bắc Miền Trung
1999 2000 1999 2000 1999 2000
1 -2
3
4
5
6
-
2.4
3.6
-
-
-
4.0
9.0
8.0
11.0
-
3.2
4.4
-
-
-
2.0
6.0
13.0
16.0
-
2.8
2.0
-
-
Sâu tiện vỏ (STV) Dihammus cervinus
Sâu tiện vỏ Dihammus cervinus ghi nhận ở
nhiều vùng trồng cà phê chè nhƣ Lai Châu, Sơn
La, Yên Bái, Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên
- Huế. Tại Sơn La, vẫn là sâu hại chủ yếu, thƣờng
xuyên phát sinh thành dịch gây hại nặng cho cà
phê chè tập trung ở thời kỳ đầu từ 1 đến 3 năm
tuổi. vũ hoá từ giữa tháng 3 kết thúc vào cuối
tháng 5 đầu tháng 6. Sâu non phá hoại từ tháng 4
năm trƣớc đến tháng 5 năm sau (1 năm có 1 lứa).
Cà phê năm thứ hai đã bị hại 20 - 26% số cây
(bảng 2). Đây là loài sâu hại nguy hiểm nhất cho
các vƣờn cà phê chè ở các tỉnh miền núi Tây Bắc
Việt Nam.
Bảng 2. Tỷ lệ hại do sâu tiện vỏ gây ra trên cà phê chè Catimor 2 tuổi
(Sơn La 1996 - 1999)
TT
Tỷ lệ cây bị hại (%)
Điểm điều tra
1996 1999
Địa thế
trung bình
Địa thế cao Địa thế Trung
bình
Địa thế
cao
1
2
3
4
5
6
Chiềng Ban (Bản Nam)
Búng Phiêng (Chiềng Đen)
Chiềng Pấc (Tòng Cọ)
Phỏm Lái (Mô Cổng)
Sông Mã (Xốp Khộp)
Phù Yên
26.6
12.4
8.5
5.5
-
-
44.0
26.0
17.0
8.0
-
-
8.0
14.0
6.0
9.0
13.0
2.0
26.0
23.0
46.0
10.0
38.0
6.0
Trung bình 13.3 25.8 8.7 24.8
Rệp hại cà phê
Hàng năm có hàng ngàn ha cà phê chè bị
nhiễm rệp nặng phải phun thuốc phòng trừ. Kết
quả điều tra, đã xác định đƣợc 6 loài rệp hại cà
phê chè là rệp xanh mềm, Rệp vẩy, rệp sáp nâu
lồi, rệp muội đen, trong đó rệp sáp giả và rệp sáp
nâu mềm là các loài rệp hại quan trọng nhất.
Những năm khô hạn, rệp thƣờng phát sinh và gây
hại nặng ở hầu hết các vùng trồng cà phê.
Tình hình gây hại của các loài rệp sáp giả.
Trong 6 loài rệp thu thập đƣợc, có 2 loài
thƣờng xuyên phát sinh và gây thành dịch phải
phòng trừ, đó là: Rệp sáp giả Planococcus citri
và rệp sáp nâu mềm Paraasaissetia nigra. Hai
loài rệp này không chỉ hại cà phê chè mà còn hại
tất cả các giống cà phê trồng phổ biến trên nhiều
vùng trong cả nƣớc. Những năm hạn hán kéo dài,
tỷ lệ hại do chúng gây ra càng nặng. Chúng hại
cà phê từ tuổi nhỏ đến cà phê ở giai đoạn kinh
doanh. Tại Sơn La, cà phê chè bị hại từ 11 - 69%
số cây ở tất cả các tuổi (Bảng 3).
Bảng 3. Tỉ lệ và mức độ gây thiệt hại của rệp sáp
Planococcus citri (Sơn La 1999 - 2000)
Địa điểm
Tuổi cây
Chiềng Ban Chiềng Đen Chiềng Pấc Mô Cổng
Cây bị
hại (%)
Mức độ
Cây bị
hại (%)
Mức độ
Cây bị
hại (%)
Mức độ
Cây bị
hại (%)
Mức độ
Cây 1 tuổi
(Trồng năm 99)
Cây 3 tuổi
(Trồng năm 98)
Cây 5 tuổi
(Trồng năm 96)
41.0
54.5
36.0
nặng
nặng
nặng
32.5
69.0
47.5
nặng
nặng
nặng
19.0
15.5
10.5
TB
TB
TB
11.5
23.0
6.0
TB
TB
TB
Loài xoài rệp sáp nâu mềm (Parasaissetia
Nigra). Thƣờng xuyên phát sinh thành dịch trên
diện rộng phải phòng trừ. Một rệp cái có khả
năng đẻ từ 75 - 115 trứng (kết quả nuôi tại Viện
Bảo vệ thực vật). Vòng đời từ 28 - 35 ngày trong vụ
hè (từ tháng 5 đến tháng 9) ở nhiệt độ nuôi trung
bình 27,5 - 29, 2 và ẩm độ trung bình 78 - 82%.
Rệp nâu mềm có đỉnh cao gây cháy từ tháng 7 -
tháng 10 hàng năm. Tỷ lệ cây bị hại từ 22 đến 57%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cây cà phê bị
rệp sáp nâu mềm hại ở cấp 4 làm giảm trên 66%
năng suất. Có thể nói rệp sáp khi có mật độ cao
thì vai trò gây hại của chúng rất lớn, chúng không
chỉ làm giảm năng suất cà phê ngay trong thời
gian đó, mà còn ảnh hƣởng đến năng suất cho cả
giai đoạn năm sau, vì khi bị hại nặng cây cà phê
không sinh trƣởng phát triển đƣợc, đôi khi bị chết
và khả năng phục hồi là rất khó nếu ngƣời sản
xuất không có đủ điều kiện chăm sóc tốt.
Đặc điểm phát sinh của 2 loài rệp sáp
Hai loài rệp sáp nâu mềm và rệp sáp giả
thƣờng xuyên tồn tại qua đông tại chỗ nên rệp
thƣờng gây hại cao và thành dịch ngay tại những
nơi, những vùng trồng cà phê năm trƣớc bị hại
nặng. Cả 2 loài đều phát sinh vào đầu mùa mƣa
và có đỉnh cao vào tháng 7 - 8, sau đó số lƣợng
quần thể giảm dần (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1. Diễn biến mức độ hại của
hai loài rệp sáp h.citri và P.nigra
Sơn La năm 2000
Ghi chú: Chỉ số hại tính theo thang 5 cấp:
Cấp 0: không bị hại
Cấp 1: < 25% diện tích bị hại
Cấp 2: 25 - 50% diện tích bị hại
Cấp 3: 50 - 75 % diện tích bị hại
Cấp 4: > 75% diện tích bị hại
3. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng các
biện pháp mới trong phòng trừ các sâu hại
quan trọng trên cà phê
Việc phòng trừ các loài sâu hại cà phê quan
trọng nhƣ sâu đục thân đã có rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu và đã đạt đƣợc những thành
công đáng kể, tuy nhiên, các kết quả đó cũng chỉ
đƣợc áp dụng trong những năm 90 trở về trƣớc.
Sau đó giống cà phê catimor ra đời có tính chống
chịu tốt hơn, các biện pháp trồng dầy đƣợc ứng
dụng, điều đó đã hạn chế một phần sâu đục thân
gây hại. Bên cạnh đó vấn đề môi trƣờng và sức
khoẻ con ngƣời đƣợc quan tâm hơn, thì việc sử
dụng các thuốc độc hại nhƣ 666... trộn với bùn và
phân để quét đã chấm dứt. Viện bảo vệ thực vật
đã nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phòng trừ
sâu đục thân, sâu tiện vỏ, rệp hại đạt hiệu quả cao
cả về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật và hiệu quả tốt dể
bảo vệ môi trƣờng (Bảng 4)
Bảng 4. Hiệu quả trừ sâu tiện vỏ (Sơn La, 1999)
TT Tên thuốc sử dụng Nồng độ % sâu chết sau 1 tuần
1
2
3
4
Diazinon 50EC + HH
Diazinon 50 EC + HH
Supracid 40EC + HH
Supracid 40EC + HH
0.5: 0.5: 100
1:1:100
0.5: 0.5:100
1:1:100
97.7
88.6
95.5
86.6
* Các loại thuốc trên + HH dùng dầu diezen
Bảng 5. Hiệu lực trừ rệp sáp nâu của một số loại thuốc (Sơn La, tháng 8/1999)
TT Công thức Lƣợng pha Nồng độ
% sâu chết
sau 72 h
1
2
3
4
Diazinon 40EC + dầu khoáng
Supracid 40 EC + dầu khoáng
Caltex
HD3
0.5 + 0.5
0.5 + 0.5
1:200
1:200
1:200
1:100
87.25
96.34
82.97
68.01
Ghi chú: - 0.5 thuốc + 0.5 dầu Diezen
- Lượng dùng 50cc/ cây tương đương 200 lít thuốc đã pha.
- Thí nghiệm trên lô cà phê 3 tuổi.
Các loại thuốc nhƣ Diazinon 50 EC,
supracid 40 EC nếu dùng đơn lẻ thì hiệu quả
phòng trừ không cao nhƣng, khi kết hợp các
loại thuốc này với dầu khoáng, phun đúng thời
điểm thì lƣợng thuốc giảm đi 1/2 mà hiệu quả
phòng trừ tăng lên từ 10 - 20%. Điều đó đã
giúp sản xuất giảm chi phí đầu tƣ, bảo vệ đƣợc
môi trƣờng và tăng hiệu quả của biện pháp
phòng trừ.
Ứng dụng giải pháp phòng trừ mới để phòng
trừ sâu hại quan trọng trên cà phê (1997 -
2000) cho thấy biện pháp không chỉ đạt về mặt
kỹ thuật là làm giảm tỷ lệ bị hại do các loài sâu
hại quan trọng gây ra cho trên 6.750 ha cà phê,
mà còn giảm đƣợc 1/2 lƣợng thuốc trừ sâu trên
một đơn vị diện tích so với các kỹ thuật khuyến
cáo cũ, đã làm lợi cho sản xuất trên 317 triệu
đồng. (Bảng 6 - 7)
Bảng 6. Chi phí Bảo vệ thực vật cho 1 ha phun 2 lần trừ sâu tiện vỏ và sâu đục thân
TT Nội dung
Sử dụng Diazinon và
HH 0.5: 0,5 (1)
Không sử dụng hỗn hợp
(2) Chênh lệch
(2-1) Số lƣợng
(kg)
Thành tiền
(đ)
Số lƣợng
1/ha
Thành tiền
(đ)
1 Thuốc Diazinon 50 EC 1 kg 63.000 2 126.000
2
3
Dầu Dizen D
Chi phí khác (công và dụng
cụ đóng gói)*
Tổng cộng
1 kg
-
3.600
27.000
94.000
-
-
-
-
126.000
+32.000
* Không tính quản lý phí, vận chuyển và công phun do nông dân bỏ ra.
Bảng 7. Chi phí Bảo vệ thực vật cho 1 ha phun 1 lần trừ rệp sáp
TT Nội dung
Thuốc sử dụng và hỗn
hợp
Không sử dụng
hỗn hợp
Chênh lệch
Số lƣợng
Thành tiền
(đ)
Số lƣợng
Thành tiền
(đ)
1
2
3
Thuốc Supracid 40 EC
Dầu Diezen *
Chi phí khác (công và dụng
cụ đóng gói) * *
Tổng cộng
0.5
0.5
-
87.500
2.000
27.000
116.500
1
-
-
170.000
-
-
170.000
+53.000
Ghi chú: ** Không tính công vận chuyển
* 0.5 thuốc + 0.5 dầu Diezen.
V. KẾT LUẬN
- Thu thập và xác định đƣợc 24 loài sâu hại cà
phê chè. Các loài sâu hại cà phê quan trọng nhất hiện
nay cho sản xuất là sâu đục thân, sâu tiện vỏ và một
số loài rệp sáp.
- Giống cà phê Catimor bị hại do sâu đục thân
thấp ở những năm đầu, từ năm thứ 4 trở đi bị
SĐT gây hại ở phần giữa thân và ngọn. Sâu tiện
vỏ hàng năm xuất hiện ở tất cả các vùng trồng cà
phê của Sơn La. Nếu không phòng trừ, tỷ lệ hại
trung bình từ 8 - 23%.
- Thời gian phát sinh của 2 loài rệp sáp giả P.
citri và rệp sáp nâu mềm P. nigra bắt đầu từ đầu
mùa mƣa và có đỉnh cao gây cháy từ tháng 7 đến
tháng 9.
- Rệp sáp nâu mềm khi chỉ số gây hại ở cấp 4
đã làm giảm năng suất cà phê trên 60%, ngoài ra
chúng ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sinh trƣởng
phát triển cây cà phê cho các năm sau.
- Biện pháp mới do Viện bảo vệ thực vật
nghiên cứu đã đƣợc ứng dụng để phòng trừ các
sâu hại quan trọng là thuốc Diazinon 50 EC và
Supracid 40 EC kết hợp với dầu khoáng trừ sâu
tiện vỏ, rệp sáp nâu mềm và rệp sáp giả có hiệu
quả cao không ảnh hƣởng đến cây trồng, giá
thành hạ sử dụng đơn giản đƣợc sản xuất chấp
nhận.
Đã ứng dụng kết quả của biện pháp mới trong
phòng trừ sâu hại chính cà phê cho 6.750 ha cà
phê chè cho Sơn La và Nghệ
An, là những vùng có diện tích cà phê chè lớn,
làm giảm lƣợng thuốc trừ sâu đáng kể, tiết kiệm
đƣợc 317.250.000 đ, làm tăng năng suất từ 20 -
35% cà phê hạt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đoàn Triệu Nhạn, Hoàng Thanh Tiệm,
Phan Quốc Sủng, 1999. Cây cà phê ở Việt Nam.
NXB Nông nghiệp.
2. Nguyễn Huy Phát, 2000. Sâu hại cà phê và
kẻ thù tự nhiên (côn trùng ký sinh, côn trùng và
nhện bắt mồi ăn thịt) sâu hại chính cà phê ở Buôn
Ma Thuột, Dak Lak. Luận văn thạc sỹ khoa học
nông nghiệp.
3. Nguyễn Thị Chắt và CTV, 2003. Rệp sáp
gây hại cà phê và biện pháp phòng trị chúng trên
địa bàn một số tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Kỷ yếu hội nghị khoa học chuyên ngành bảo vệ
thực vật.
4. Vũ Văn Tố, 2000. Nghiên cứu rệp sáp
(Pseudococcus citri Risso) hại quả cà phê và biện
pháp phòng trừ bằng hoá học tại tỉnh Dak Lak và
Gia Lai. Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp.
5. cropprofiles/ docs/
Prcoffee.html. Crop Profile for Coffec in Puerto
Rico.
6. Pest Management Notes No.9. Growing
coffee with IPM. A briefing for the IPM in
Developing Project funded by the European
Commission Environment in Developing
Countris Budget.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_nghien_cuu_va_ung_dung_cac_bien_phap_phong_tru_mot_s.pdf