Kết luận
Từ kết quả ở mô hình cải tạo đồng
cỏ thâm canh tại Buôn Đôn (Đăk Lăk)
cho thấy, các nông hộ thuộc xã Ea
Hour, Ewer đã cải thiện hoàn toàn
kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác
giống cỏ voi xanh Đài Loan và cỏ
VA06. Các giống cỏ này có chất lượng
và trữ lượng lớn hơn so với giống cỏ
voi mà người dân đã và đang tự trồng
tại các địa phương. Diện tích trồng cỏ
VA06 đạt 3.300 m2, cỏ voi xanh Đài
Loan đạt 2.000 m2. Các hạt giống cỏ
Mulato II, Mombasa Ghi-nê và Ruzi
cũng được đưa vào gieo trồng, trong
đó ghi nhận sự thành công đối với cỏ
Ghi-nê và Mulato II. Hom giống cỏ voi
xanh đã được người dân khai thác để
nhân rộng mô hình tại địa phương.
Ở mô hình cải tạo đồng cỏ chăn
thả tại trại bò Ea Sô, việc áp dụng
kỹ thuật cải tạo sơ bộ đồng cỏ chăn
thả cho triển vọng tốt đối với các
vùng chăn thả hiện nay, cải thiện
được 50% sản lượng cỏ cho nhu cầu
chăn thả đại gia súc. Quy trình chăn
thả luân phiên được áp dụng với thời
gian chăn thả tối đa 3-4 ngày/lô và
thời gian cỏ tái sinh 30-40 ngày, 11
luân kỳ/năm. Việc chăn thả đại gia
súc theo luân kỳ và chia nhóm đã đáp
ứng được các yêu cầu cho tái sinh
đồng cỏ và đảm bảo đủ thức ăn cho
đàn gia súc. Với diện tích 2 ha, các
giống cỏ đưa vào mô hình bao gồm:
Mulato II, Mombasa Ghi-nê và Ruzi
có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng
suất cao hơn hẳn so với đối chứng.
Trong đó, cỏ Mulato II đạt năng suất
khoảng 370 tấn/ha/năm, cỏ Ghi-nê
đạt khoảng 190 tấn/ha/năm, cỏ Ruzi
đạt khoảng 90 tấn/ha/năm.
Như vậy, qua 2 năm thực hiện mô
hình cho thấy, cả 2 mô hình: cải tạo
đồng cỏ chăn thả quy mô trang trại
và cải tạo đồng cỏ thâm canh quy
mô nông hộ đều có hiệu quả rõ ràng,
có tính khả thi, cần nhân rộng ở địa
phương nhằm đáp ứng tốt hơn nữa
nguồn thức ăn cho đại gia súc, nhất
là vào mùa khô ở Tây Nguyên
3 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 28 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kết quả xây dựng các mô hình cải tạo đồng cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc tại Tây Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
77
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Soá 1+2 naêm 2020
Mở đầu
Với định hướng phát triển đàn
đại gia súc trong những năm gần
đây, Tây Nguyên đã trở thành trung
tâm chăn nuôi gia súc mới của cả
nước. Tuy nhiên, các nguồn thức
ăn tự nhiên, chủ yếu là đồng cỏ đã
không cung cấp đủ dinh dưỡng cho
đàn đại gia súc, đặc biệt là trong mùa
khô, vì vậy, trồng cỏ được kỳ vọng là
phương án hữu hiệu nhất để duy trì
nguồn cung cấp thức ăn cho chúng,
nhất là trong giai đoạn thiếu thức ăn
tự nhiên, tập trung vào các tháng cuối
mùa khô (tháng 2 - tháng 4). Chăn
nuôi đại gia súc ở Tây Nguyên phần
lớn ở quy mô nông hộ, phân tán, nhỏ
lẻ, phương thức chăn nuôi chủ yếu
là quảng canh, trình độ người chăn
nuôi còn lạc hậu. Đối với người dân
và các trang trại lâu năm, việc chăn
thả gần như dựa hoàn toàn vào khả
năng tự tái sinh của các nhóm cỏ tự
nhiên mà không có bất kỳ biện pháp
kỹ thuật nào được áp dụng nhằm cải
thiện chất lượng đồng cỏ. Bên cạnh
những hạn chế trong việc ứng dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn
nuôi gia súc, quỹ đất dành cho phát
triển đồng cỏ chăn thả, đồng cỏ thâm
canh chưa được đưa vào quy hoạch,
cả 5 tỉnh Tây Nguyên đều không có
quy hoạch vùng chăn thả, không có
số liệu về đồng cỏ thâm canh. Đồng
cỏ chăn thả suy giảm chất lượng, trữ
lượng, không áp dụng chăn thả luân
phiên hoặc quản lý đồng cỏ. Đồng cỏ
thâm canh manh mún, giống thoái
hóa, áp dụng không đúng kỹ thuật.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và xây
dựng các mô hình cải tạo các đồng
cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc phù
hợp với các điều kiện tự nhiên và trình
độ dân trí của đồng bào tại chỗ ở Tây
Nguyên có ý nghĩa thực tiễn và xã hội
không nhỏ.
Qua 2 năm thực hiện, đề tài
TN17/T05 đã xây dựng thành công 2
mô hình cải tạo đồng cỏ tại tỉnh Đăk
Lăk, bao gồm: “Xây dựng mô hình
thí điểm về quản lý và cải thiện chất
lượng đồng cỏ chăn nuôi đại gia súc
quy mô nông hộ” (triển khai tại huyện
Buôn Đôn) và “Xây dựng mô hình thí
điểm cải tạo và quản lý thảm thực vật
kém chất lượng vùng chăn thả đại
gia súc theo luân phiên quy mô trang
trại” (triển khai tại huyện Ea Kar).
Các mô hình cải tạo đồng cỏ phục vụ chăn
nuôi đại gia súc ở Tây Nguyên
Mô hình thí điểm về quản lý và
cải thiện chất lượng đồng cỏ chăn
nuôi đại gia súc quy mô nông hộ
Với sự phối hợp thực hiện của
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đăk Lăk
và Trạm khuyến nông huyện Buôn
Đôn, đề tài đã xây dựng được mô hình
thí điểm về quản lý và cải thiện chất
lượng đồng cỏ chăn nuôi đại gia súc
tại 3 nông hộ. Diện tích trồng cỏ VA06
đạt 3.300 m2, cỏ voi xanh Đài Loan
đạt 2.000 m2.
Các thí nghiệm được triển khai
trong mô hình bao gồm cả thực
nghiệm và đối chứng về tỷ lệ nảy
mầm của hom cỏ; tỷ lệ nảy mầm của
các hạt giống cỏ; tỷ lệ sống của các
giống cỏ; chiều cao và sinh khối cỏ.
Kết quả cho thấy, các hom cỏ chỉ sau
2-4 ngày được tưới nước đầy đủ đã
mọc mầm với tỷ lệ nảy mầm lần lượt
là: cỏ VA06 98-99%, cỏ voi xanh Đài
Loan 97-99%, cỏ voi thường 60-88%.
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống cỏ Ruzi
đạt 80%, hạt giống cỏ Mombasa Ghi-
nê 91% và Mulato II 83%. Sau khi
nảy mầm 60 ngày, trong điều kiện
KếT QUả XâY DựNG CáC Mô HìNH Cải Tạo ĐồNG Cỏ
PHụC Vụ CHăN NUôi Đại GiA SúC Tại TâY NGUYêN
Trần Thị Thúy Vân1, Vũ Anh Tài1, Bùi Quang Tuấn2
1viện Địa lý, viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ việt Nam
2học viện Nông nghiệp việt Nam
Qua 2 năm thực hiện, đề tài “Nghiên cứu cải tạo, quản lý thảm cỏ tự nhiên và chế biến thức ăn từ các nguyên
liệu sẵn có phục vụ phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, voi) quy mô tập trung và quy mô nông hộ,
tạo sinh kế bền vững cho người dân Tây Nguyên”, mã số TN17/T05 thuộc Chương trình “Khoa học và công
nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế”, mã số: KHCN-
TN/16-20 đã xây dựng thành công mô hình cải tạo đồng cỏ chăn thả quy mô trang trại và mô hình cải tạo
đồng cỏ thâm canh quy mô nông hộ. Các mô hình đều cho thấy hiệu quả rõ ràng, có tính khả thi, cần được
nhân rộng ở vùng Tây Nguyên nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nguồn thức ăn cho đại gia súc, nhất là vào mùa khô.
78
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Soá 1+2 naêm 2020
Bàn giao hạt giống cỏ voi xanh Đài Loan cho hộ gia đình.
được chăm sóc đầy đủ, các giống cỏ
voi bao gồm cả cỏ voi thường, cỏ voi
VA06 vả cỏ voi xanh Đài Loan đều đạt
tỷ lệ sống cao, trung bình 99-100%.
Các giống cỏ gieo từ hạt không đạt
được sức sống cao như các giống
cỏ gieo hom. Tuy nhiên, sau các lần
gieo hạt, có thể khẳng định, tất cả
các giống cỏ đều có thể nảy mầm tốt
và sống sót qua mùa khô năm 2018-
2019. Sau khi các giống cỏ đã đưa
vào khai thác (ít nhất một lần) thì đều
sống tốt qua giai đoạn mùa khô này.
Kết quả đo chiều cao và cân sinh khối
của cỏ cho thấy: tăng trưởng chiều
cao trung bình của cỏ VA06 đạt 205
cm/chu kỳ vào mùa mưa và 180 cm/
chu kỳ vào mùa khô. Sinh khối chất
xanh trung bình của cỏ VA06 đạt 77
tấn/ha/chu kỳ khai thác vào mùa mưa
(60 ngày) và 64 tấn/ha/chu kỳ khai
thác vào mùa khô (90 ngày), trung
bình đạt khoảng 580-600 tấn/ha/năm.
Tỷ lệ sinh khối lá cỏ VA06 đạt khoảng
48,7%. Tăng trưởng chiều cao trung
bình của cỏ voi xanh Đài Loan đạt
209 cm/chu kỳ vào mùa mưa và 179
cm/chu kỳ vào mùa khô. Tăng trưởng
sinh khối của cỏ voi xanh Đài Loan
đạt trung bình 96 tấn/lứa cắt vào mùa
mưa và 83 tấn/lứa cắt vào mùa khô,
năng suất cả năm ở các hộ dao động
trong khoảng 740-750 tấn/ha/năm
và tỷ lệ sinh khối lá cỏ voi xanh đạt
khoảng 49%.
Mô hình thí điểm cải tạo và quản
lý thảm thực vật kém chất lượng
vùng chăn thả đại gia súc theo luân
phiên quy mô trang trại
Đơn vị thực hiện mô hình là trại bò
Ea Sô, trực thuộc Trung tâm Giống
cây trồng vật nuôi Đắk Lắk, xã Ea Sô,
huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk; đơn vị
phối hợp là Trung tâm Khuyến nông
tỉnh Đăk Lăk. Mô hình bao gồm: đồng
cỏ cải tạo sơ bộ (1 ha gieo trồng cỏ
Ruzi), đồng cỏ không cải tạo, để đối
chứng (1,5 ha) và đồng cỏ cải tạo
hoàn toàn (1 ha, gieo 3 giống cỏ: Ghi
nê - 3.000 m2, Mulato II - 4.000 m2 và
Ruzi - 3.000 m2); diện tích thí nghiệm
chăn thả luân phiên tổng số 36,9 ha
trên 17 lô.
Các thí nghiệm được triển khai
trong mô hình bao gồm cả thực
nghiệm và đối chứng về tỷ lệ nảy
mầm của các hạt giống cỏ; tỷ lệ
sống của các giống cỏ; tăng trưởng
sinh khối cỏ, lượng cỏ được gia súc
sử dụng; theo dõi, giám sát, quản
lý chăn thả luân phiên. Kết quả cho
thấy, tỷ lệ nảy mầm của cùng một loại
hạt giống cỏ ở các công thức cải tạo
khác nhau cũng như của các giống cỏ
khác nhau ở cùng một công thức cải
tạo là có sự khác nhau. Ở thí nghiệm
cải tạo sơ bộ, do cỏ dại không được
diệt trừ nên tỷ lệ nảy mầm của cỏ
Ruzi chỉ đạt 70%, thấp hơn so với ở ô
cải tạo hoàn toàn (79%). Hạt giống cỏ
Mombasa Ghi-nê có tỷ lệ nảy mầm
tốt nhất (88%), trong khi đó cỏ Mulato
II có tỷ lệ nảy mầm thấp hơn nhiều
(65%). Tỷ lệ sống cao nhất là giống
cỏ Mombasa Ghi-nê, đạt 92% cho
thấy rất phù hợp với mô hình cải tạo
hoàn toàn; cỏ Ruzi cũng đạt trên 90%
ở cả thí nghiệm cải tạo sơ bộ và cải
tạo hoàn toàn, giống cỏ này có thể là
chủ lực cho việc mở rộng biện pháp
cải tạo đồng cỏ chăn thả tự nhiên nói
chung ở Tây Nguyên. Cỏ Mulato II có
tỷ lệ sống đạt 80% và qua 3 lần trồng
dặm thì tỷ lệ che phủ của cỏ Mulato
II cũng đạt trên 95% diện tích gieo
trồng. Về khả năng chống chịu sâu
bệnh, trong quá trình thực hiện mô
hình, ngoại trừ một số khu vực nhỏ cỏ
bị tác nhân gây hại là châu chấu với
diện tích và mức độ thiệt hại không
đáng kể, các khu vực còn lại không bị
tác động của sâu, bệnh và côn trùng
khác. Sau mỗi luân phiên, tốc độ sinh
trưởng và tổng sinh khối của các loại
cỏ ở các thí nghiệm được tổng kết như
sau: 1) Tăng trưởng chung của cỏ ở
các thí nghiệm trong mùa khô thường
cao hơn so với mùa mưa là bởi ở
Ea Kar vẫn có mưa vào mùa khô.
2) Cỏ Ruzi trong thí nghiệm cải tạo
hoàn toàn có tốc độ tăng trưởng đạt
3 tấn/ha (sinh khối tương đương 90
tấn/ha/năm), thấp hơn so với khuyến
cáo của nhà sản xuất (150-180 tấn/
ha/năm); cỏ mùa mưa tăng trưởng
kém hơn mùa khô nhưng cao hơn rất
nhiều so với đối chứng. 3) Cỏ Ruzi
trong thí nghiệm cải tạo sơ bộ có tốc
độ tăng trưởng đạt 2,5 tấn/ha (sinh
khối tương đương 63 tấn/ha/năm),
thấp hơn so với khuyến cáo của
nhà sản xuất (150-180 tấn/ha/năm);
tăng trưởng hai mùa không khác biệt
nhau nhiều, thấp hơn nhiều so với
tăng trưởng của cỏ trong thí nghiệm
cải tạo hoàn toàn nhưng lại cao hơn
nhiều so với đối chứng. Điều đó cho
thấy sự khác biệt giữa cải tạo hoàn
79
Soá 1+2 naêm 2020
toàn và cải tạo sơ bộ. Sự xâm hại của
cỏ dại và côn trùng làm tỷ lệ sống và
năng suất chung của cỏ thấp hơn so
với cải tạo hoàn toàn, tuy nhiên hiệu
quả cải tạo so với đối chứng là rất rõ
ràng. 4) Cỏ Mombasa Ghi-nê trong
thí nghiệm cải tạo hoàn toàn có tốc
độ tăng trưởng đạt 3,9 tấn/ha (sinh
khối tương đương 190 tấn/ha/năm),
phù hợp với khuyến cáo của nhà sản
xuất (180-220 tấn/ha/năm). Tăng
trưởng trong mùa mưa thấp hơn so
với mùa khô. 5) Cỏ Mulato II trong thí
nghiệm cải tạo hoàn toàn có tốc độ
tăng trưởng xanh đạt 4,6 tấn/ha (sinh
khối tương đương khoảng 370 tấn/ha/
năm), cao hơn so với khuyến cáo của
nhà sản xuất (300-350 tấn/ha/năm),
cho thấy sinh khối của cỏ này là rất
lớn nếu so sánh với đối chứng và các
giống cỏ khác, sự chênh lệch về sinh
trưởng trong mùa mưa và mùa khô
cũng không nhiều, cho thấy sức sống
của giống cỏ này là rất tốt. 6) Cỏ đối
chứng chỉ đạt mức tăng trưởng trung
bình 1,7 tấn/ha (tương đương khoảng
33 tấn/ha/năm), có sự chênh lệch khá
lớn về tăng trưởng giữa hai mùa và
năng suất thấp hơn nhiều so với các
thí nghiệm, cho thấy đối với các giống
cỏ, các biện pháp kỹ thuật đều mang
lại hiệu quả tích cực, rõ ràng trong
việc cải thiện chất lượng của đồng cỏ.
Trong thời gian thí nghiệm trồng
cỏ, đã thực hiện luân kỳ chăn thả
cho các lô, áp dụng 4 ngày/lô và chia
đàn gia súc thành 2 nhóm (nhóm 1
là bò sinh sản và bê con, nhóm 2 là
bò khác). Sau khi kết thúc lịch chăn
thả 11 luân kỳ/năm, căn cứ vào cơ
cấu đàn gia súc lúc đó (do bê non
đã trưởng thành, hoặc có bê non mới
sinh ra hay một số gia súc được bán
đi, nhập mới dẫn đến phá vỡ cấu trúc
đàn) và trữ lượng cỏ của các lô để xây
dựng lại lịch chăn thả của năm tới cho
phù hợp.
Kết luận
Từ kết quả ở mô hình cải tạo đồng
cỏ thâm canh tại Buôn Đôn (Đăk Lăk)
cho thấy, các nông hộ thuộc xã Ea
Hour, Ewer đã cải thiện hoàn toàn
kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác
giống cỏ voi xanh Đài Loan và cỏ
VA06. Các giống cỏ này có chất lượng
và trữ lượng lớn hơn so với giống cỏ
voi mà người dân đã và đang tự trồng
tại các địa phương. Diện tích trồng cỏ
VA06 đạt 3.300 m2, cỏ voi xanh Đài
Loan đạt 2.000 m2. Các hạt giống cỏ
Mulato II, Mombasa Ghi-nê và Ruzi
cũng được đưa vào gieo trồng, trong
đó ghi nhận sự thành công đối với cỏ
Ghi-nê và Mulato II. Hom giống cỏ voi
xanh đã được người dân khai thác để
nhân rộng mô hình tại địa phương.
Ở mô hình cải tạo đồng cỏ chăn
thả tại trại bò Ea Sô, việc áp dụng
kỹ thuật cải tạo sơ bộ đồng cỏ chăn
thả cho triển vọng tốt đối với các
vùng chăn thả hiện nay, cải thiện
được 50% sản lượng cỏ cho nhu cầu
chăn thả đại gia súc. Quy trình chăn
thả luân phiên được áp dụng với thời
gian chăn thả tối đa 3-4 ngày/lô và
thời gian cỏ tái sinh 30-40 ngày, 11
luân kỳ/năm. Việc chăn thả đại gia
súc theo luân kỳ và chia nhóm đã đáp
ứng được các yêu cầu cho tái sinh
đồng cỏ và đảm bảo đủ thức ăn cho
đàn gia súc. Với diện tích 2 ha, các
giống cỏ đưa vào mô hình bao gồm:
Mulato II, Mombasa Ghi-nê và Ruzi
có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng
suất cao hơn hẳn so với đối chứng.
Trong đó, cỏ Mulato II đạt năng suất
khoảng 370 tấn/ha/năm, cỏ Ghi-nê
đạt khoảng 190 tấn/ha/năm, cỏ Ruzi
đạt khoảng 90 tấn/ha/năm.
Như vậy, qua 2 năm thực hiện mô
hình cho thấy, cả 2 mô hình: cải tạo
đồng cỏ chăn thả quy mô trang trại
và cải tạo đồng cỏ thâm canh quy
mô nông hộ đều có hiệu quả rõ ràng,
có tính khả thi, cần nhân rộng ở địa
phương nhằm đáp ứng tốt hơn nữa
nguồn thức ăn cho đại gia súc, nhất
là vào mùa khô ở Tây Nguyên ?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khổng Văn Đĩnh, Trương Quốc Hiệu,
Vũ Kim Thoa, Nguyễn Thị Mận, Phạm Văn
Quyến (1997), Nghiên cứu xác định giá trị
dinh dưỡng của cỏ Ruzi trên vùng đất xám
Sông Bé, Báo cáo đề tài Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
2. Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc
Hà, Bùi Văn Chính, Lê Văn Ngọc, Hoàng
Thị Lãng, Lê Văn Chúng (1998), Nghiên
cứu đánh giá năng suất và giá trị dinh
dưỡng của cỏ Ruzi ở vùng đồi Ba Vì, Kết
quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi
1996-1997, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
3. Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình, Lê Văn
Chung, Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc
Hà, Hoàng Thị Lảng, Lê Văn Ngọc, Nguyễn
Văn Quang (1999), Tính năng sản xuất và
một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất
chất xanh và hạt cỏ Ghi nê TD58, Báo cáo
khoa học Chăn nuôi thú y 1998-1999, Phần
dinh dưỡng và thức ăn, Nhà xuất bản Nông
nghiệp.
4. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Bùi
Xuân An, Ngô Văn Mận (1985), “Kết quả
nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập
nội”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông
nghiệp, 8, tr.26-35.
5. Dự án JICA hỗ trợ dân làng quản lý
rừng bền vững tại Tây Nguyên (2008), Tài
liệu khuyến nông cho các hoạt động cải
thiện sinh kế cho người dân khu vực Tây
Nguyên, JICA và Cục Lâm nghiệp.
6. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang
Hiển, Trần Quang Nhung (2002), Giáo trình
đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, Nhà xuất
bản Nông nghiệp.
Cỏ ruzi phát triển tốt ở mô hình thí nghiệm cải tạo sơ bộ tại trại bò Ea Sô.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ket_qua_xay_dung_cac_mo_hinh_cai_tao_dong_co_phuc_vu_chan_nu.pdf