Ở thời điểm 15 NSBT khả năng tiết enzyme
β-glucanase của tất cả các chủng xạ khuẩn
vẫn tiếp tục tăng. Các chủng xạ khuẩn LM6
(7,750 mm); LM25 (7,125 mm) và LV74 (7,250
mm) có BKVPG không khác biệt ý nghĩa thống
kê với nhau.
Dựa vào kết quả thí nghiệm trên cho thấy tất
cả các chủng xạ khuẩn đối kháng tốt với nấm
Fusarium solani đều có khả năng tiết enzyme β-
glucanase do đó, chúng có khả năng đối kháng
với nấm F. solani cao do việc tiết ezmyne làm vỡ
vách tế bào của nấm. Theo nghiên cứu của Đinh
Hồng Thái và Lê Minh Tường (2016), cho rằng
tất cả 5 chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng
với nấm Phytophthora sp. gây bệnh cháy lá, thối
thân cây sen đều có khả năng tiết enzyme β-
glucanase phân giải β-glucan. Theo
Gobalakrishnan và ctv., (2013), 5 chủng xạ
khuẩn thí nghiệm có khả năng đối kháng cao với
nấm Fusarium oxysporum f. sp. ciceri đều có khả
năng tiết enzyme β 1,3-glucanase.
Qua kết quả bảng 3 và bảng 4 cho thấy, cả 3
chủng xạ khuẩn đối kháng tốt với nấm F. solani
đều có khả năng sinh enzyme chitinase và β–
glucanase. Thành phần quan trọng trong vách tế
bào nấm thật chính là chitin và β–glucan nên khi
sử dụng các chủng xạ khuẩn này trong phòng trị
bệnh vàng lá thối rễ thì enzyme chitinase và β–
glucanase sẽ phát huy tác dụng phân hủy chitin
và β–glucan làm phá vỡ vách tế bào nấm bệnh.
Đây là đặc tính quan trọng trong cơ chế đấu
tranh sinh học phòng trừ nấm bệnh của xạ khuẩn
góp phần tăng hiệu quả đối kháng của xạ khuẩn
đối với bệnh.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Ba (03) chủng xạ khuẩn LM6, LM25 và LV74
có khả năng đối kháng cao với nấm Fusarium
solani gây bệnh vàng lá thối rễ cây có múi và cả
3 chủng này đều có khả năng tiết enzyme
chitinase và β–glucanase.
Đề nghị khảo sát khả năng phòng trị bệnh
vàng lá thối rễ của 3 chủng trên ở điều kiện
nhà lưới
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với nấm Fusarium Solani gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
26
18. Nwanze K.F., K. Leuschner, H.C. Ezumah,
1979. PANS, 25(2):125-130.
19. Parsa S., T. Kondo, A. Winotai, 2012. PloS
ONE, 7(10): e47675.
20. Sartiami D., G.W. Watson, R.M.N. Mohamad,
H.Y. Mohd, A.B. Idris, 2015. Zootaxa, 3957(2): 235-238.
21. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Thị Vượng, Lê Xuân
Vị, 2010. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 4: 5-8.
22. Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang, 2014. Tạp
chí Bảo vệ thực vật, 6: 26-30.
23. Wardani N., A. Rauf, I.W. Winasa, S. Santoso,
2014. J. HPT Tropika, Vol.14(1): 64-70.
24. Б рxce иуc Н. С., 1963. Прaктичеcкий
определитель кокцид (Coccoidea) культурных
растений и лесных пород СССР. Издательст АН
СССР, М ск а- Ле и град, 54-66 c.
25. т В. В., 1969. Экология насекомых.
М ск а, Издательст “Высшая шк ла”
Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm
KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM
Fusarium solani GÂY BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ TRÊN CÂY CÓ MÖI
Assessment of Antibacterial Activity of Actinomycetes Isolates on Fusarium
solani Causing Rot Root Disease on Citrus
Lê Minh Tƣờng
1
, Nguyễn Ngọc Sơn
2
, Lê Thị Ngọc Xuân
1
và Nguyễn Trƣờng Sơn
3
Ngày nhận bài: 07.06.2018 Ngày chấp nhận đăng: 18.06.2018
Abstract
The objective of the research was to screen actinomycetes able to control rot root disease on citrus caused
by Fusarium solani. Two hundred and twenty four (224) isolates were collected from citrus field in some
province of Mekong Delta. There are 22 of 224 isolates in total presented antagonistic activity against F.solani
and 3 Actinomyces isolates LM6, LM25 and LV74 showed higher stabler antagonistic ability with radiuses of
inhibition zones reaches 5.9mm, 5.8mm and 5.5mm and antagonistic efficacy reaches 58.33%, 60.44% and
54.92% respectively at 7 days after co-culture. On the other hand, chitinase activity of the LM6, LM25 and
LV74 actinomycetes isolates was performed on chitin medium. The result indicated that, 3 actinomyces
isolates had the chitinolytic activity and LM25 isolate showed the highest chitinolytic activity with the chitin lyse
halo radius of 22.7mm at 7 days after testing. Beside, the testing β-glucanase productivity of these
Actinomycetes on β-glucan medium showed that LM6 isolate was the best with the β-glucan lyses halo radius
of 7.12mm at 13 days after testing.
Keywords: Actinomyces, chitinase, Fusarium solani, rot root disease on Citrus, β-glucanase
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với sự
phát triển diện tích là sự xuất hiện nhiều loại sâu
bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây có múi trong
đó, bệnh vàng lá thối rễ hại cây có múi là một
trong những bệnh hại quan trọng nhất (Nguyễn
Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002). Hiện
1. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường
Đại học Cần Thơ
2. Sinh viên Đại học ngành Bảo vệ thực vật khóa 39,
trường Đại học Cần Thơ
3. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tỉnh Kiên Giang
nay, việc phòng và trị bệnh vàng lá thối rễ trên
cây có múi chủ yếu dựa vào tập quán của người
nông dân và biện pháp sử dụng thuốc hóa học.
Nhưng việc lạm dụng thuốc hóa học dẫn đến
những hậu quả như thay đổi tính độc của mầm
bệnh, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi
trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và
không mang lại hiệu quả kinh tế. Gần đây việc áp
dụng phòng trừ sinh học vào việc quản lí bệnh
hại được xem là một chiến lược lâu dài vì an
toàn với con người và không gây ô nhiễm môi
trường. Trong đó, xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật
được cho là có nhiều tiềm năng lớn như xạ
khuẩn có thể tiết ra các enzyme như chitinase,
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
27
glucanse, β-1,3-gluncanase có thể ức chế nhiều
mầm bệnh (Quecine và cs., 2008). Theo kết quả
nghiên cứu của Lê Minh Tường và cs., (2016)
cho rằng, một số chủng xạ khuẩn thuộc chi
Streptommyces được phân lập từ đất vừa có
hiệu quả phòng trị bệnh hại trên lúa (bệnh đạo
ôn, bệnh cháy bìa lá, bệnh đốm vằn), bệnh thán
thư gây hại trên cây trồng (ớt, xoài, sen, gấc)
vừa có khả năng tiết ra enzyme như chitinase,
glucanase, cellulase Tuy nhiên, ứng dụng xạ
khuẩn trong phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ trên
cây có múi chưa được nghiên cứu nhiều. Do đó,
nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra các
chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm
F. solani gây bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi
từ đó làm tiền đề cho những nghiên cứu sau
nhằm tìm ra sản phẩm sinh học vừa có khả năng
quản lý bệnh vàng lá thối rễ cây có múi nói riêng
và vừa có khả năng quản lý bệnh có nguồn gốc
từ đất nói chung.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
Nguồn nấm Fusarium solani: chủng nấm F.
solani do phòng thí nghiệm Bệnh Cây, Bộ
môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần
Thơ cung cấp. Theo Nguyễn Ngọc Sơn (2017)
đây là chủng nấm được thu thập từ mẫu bệnh
vàng lá thối rễ trên cây Cam Xoàn ở huyện
Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang có khả năng gây
bệnh nặng nhất trong số 10 chủng nấm phân
lập được.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá khả năng đối kháng của các
chủng xạ khuẩn với nấm Fusarium solani gây
bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi trong điều
kiện phòng thí nghiệm
- Thu thập và phân lập xạ khuẩn: Thu mẫu đất
trên những vườn trồng cây có múi (cam, quýt,
bưởi) có diện tích lớn hơn 1,000m
2
ở một số tỉnh
ĐBSCL như: Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long và
Đồng Tháp. Chọn đất ở những gốc cây có múi
khỏe và thu ở độ sâu từ 10 - 25cm. Các mẫu đất
ở nhưng vườn khác nhau được cho vào từng túi
nilon riêng và mang về phòng thí nghiệm tiến
hành phân lập theo phương pháp của Hsu và
Lockwook (1975).
Tiến hành thí nghiệm: Những chủng xạ
khuẩn được nuôi cấy trong môi trường MS trong
6 ngày, xác định mật số và chuyển về huyền
phù bào tử xạ khuẩn là 10
8
cfu/ml. Chủng nấm
F. solani được nuôi cấy trong môi trường PDA
trong 5 ngày.
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí hoàn
toàn ngẫu nhiên với 5 lần lặp lại, mỗi công thức
là một chủng xạ khuẩn có triển vọng. Khoanh
khẩn ty nấm F. solani có đường kính 5mm được
đặt vào giữa đĩa petri có chứa 10ml môi trường
PDA. Khoanh giấy thấm có đường kính 5 mm
được tẩm huyền phù các chủng xạ khuẩn đối
kháng được đặt đối xứng với khoanh khẩn ty
nấm và cách thành đĩa 1cm. Ở nghiệm thức đối
chứng thì thay khoanh giấy thấm tẩm xạ khuẩn
bằng khoanh giấy thấm tẩm nước cất thanh
trùng. Sau đó, các đĩa Petri thí nghiệm được đặt
ở điều kiện nhiệt độ khoảng 28
o
C.
Chỉ tiêu ghi nhận: Đo bán kính vòng vô khuẩn
ở các thời điểm 3, 4, 5, 6 và 7 ngày sau khi bố trí
thí nghiệm.
Tính hiệu suất đối kháng (Moayedi và ctv.,
2009) ở các thời điểm 3, 4, 5, 6 và 7 ngày sau
khi bố trí thí nghiệm.
BKTNđc – BKTNxk
HSĐK (%) =-------------------------------- x 100
BKTNđc
Trong đó: BKTNđc: bán kính tản nấm phát
triển về phía đối chứng.
BKTNxk: bán kính tản nấm phát triển về phía
xạ khuẩn.
2.2.2 Khảo sát khả năng phân giải chitin của
các chủng xạ khuẩn triển vọng
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí hoàn
toàn ngẫu nhiên với 5 lần lặp lại, mỗi công thức
là một chủng xạ khuẩn có triển vọng.
Tiến hành thí nghiệm: Những chủng xạ khuẩn
được nuôi cấy trong môi trường MS trong 6
ngày, xác định mật số và chuyển về huyền phù
bào tử xạ khuẩn là 10
8
cfu/ml
Cách thực hiện: Dùng kẹp chuyên dụng cho
các khoanh giấy thấm có đường kính 5mm vào
dung dịch huyền phù xạ khuẩn mật số 10
8
cfu/ml. Sau đó, đặt các khoanh giấy thấm lên
đĩa Petri có chứa 10 ml môi trường chitin agar
thành 3 điểm cách đều nhau. Mỗi điểm tương
ứng 1 khoanh giấy thấm chứa 1 chủng xạ
khuẩn. Các đĩa Petri thí nghiệm được đặt ở điều
kiện nhiệt độ khoảng 28
o
C. Xác định hoạt tính
enzyme chitinase ở từng thời điểm ghi nhận chỉ
tiêu bằng cách tráng thuốc nhuộm Lugol lên đĩa
thạch, đổ bỏ phần dung dịch Lugol thừa và
tráng bề mặt agar lại với nước.
Chỉ tiêu ghi nhận: Đo bán kính vùng không bắt
màu thuốc nhuộm Lugol là vòng phân giải chitin ở
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
28
các thời điểm 3, 5 và 7 ngày sau bố trí thí nghiệm.
2.2.3. Khảo sát khả năng phân giải β-glucan
của các chủng xạ khuẩn triển vọng.
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 lần lặp lại, mỗi công
thức là một chủng xạ khuẩn có triển vọng.
Tiến hành thí nghiệm: Những chủng xạ khuẩn
được nuôi cấy trong môi trường MS trong 6
ngày, xác định mật số và chuyển về huyền phù
bào tử xạ khuẩn là 10
8
cfu/ml
Cách thực hiện: Dùng kẹp chuyên dụng cho các
khoanh giấy thấm có đường kính 5mm vào dung
dịch huyền phù xạ khuẩn mật số 10
8
cfu/ml. Sau
đó, đặt các khoanh giấy thấm lên đĩa Petri có chứa
10 ml môi trường β-glucan agar thành 3 điểm cách
đều nhau. Mỗi điểm tương ứng 1 khoanh giấy thấm
chứa 1 chủng xạ khuẩn. Các đĩa Petri thí nghiệm
được đặt ở điều kiện nhiệt độ khoảng 28
o
C. Xác
định hoạt tính enzyme β-glucanase ở từng thời
điểm ghi nhận chỉ tiêu bằng cách tráng với dung
dịch thuốc thử Congo – red 0,6% lên đĩa thạch, đổ
bỏ phần dung dịch Congo – red 0,6% thừa và tráng
bề mặt agar lại với nước.
Chỉ tiêu ghi nhận: Đo bán kính vùng không
bắt màu thuốc thử Congo – red 0,6% là vòng
phân giải β-glucan ở các thời điểm 11, 13 và 15
ngày sau bố trí thí nghiệm.
2.3. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsofl
Office Excel. Phân tích bằng phần mềm thống kê
MSTATC qua phép thử Duncan.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khả năng đối kháng của các chủng xạ
khuẩn với nấm Fusarium solani trong điều
kiện phòng thí nghiệm
Kết quả đã phân lập được 224 chủng xạ
khuẩn từ đất vườn trồng cây có múi ở một số
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đánh giá
nhanh khả năng đối kháng của 224 chủng xạ
khuẩn đã chọn được 22 chủng xạ khuẩn thực sự
thể hiện khả năng đối kháng với nấm F. solani
thông qua chỉ tiêu bán kính đối kháng (BKVVK)
và hiệu suất đối kháng (HSĐK). Khả năng đối
kháng của 22 chủng xạ khuẩn với nấm F. solani
được trình bày ở bảng 1.
3.1.1 Bán kính vòng vô khuẩn (BKVVK)
Tại thời điểm 3 ngày sau khi bố trí thí nghiệm
(NSBT), các chủng xạ khuẩn đều thể hiện khả
năng đối kháng với nấm F. solani với nhiều mức
độ khác nhau (bảng 1). Trong đó, 3 chủng xạ
khuẩn LM6, LM25 và LV74 có BKVVK lần lượt là
15,3mm; 15,7mm và 15,1mm tuy không khác biệt
ý nghĩa thống kê so với 3 chủng xạ khuẩn BM3,
BM6, BM7, nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với các chủng xạ khuẩn thí nghiệm còn lại. Tại
thời điểm 4 NSBT, 2 chủng xạ khuẩn LM25 và
LV74 đều có cùng BKVVK là 12,3mm cao hơn và
khác biệt so với các chủng còn lại. Kế đến là
chủng LM6 có BKVVK là 11,2mm. Tại thời điểm
5 NSBT, 2 chủng LM6 và LM25 có BKVVK lần
lượt là 8,9mm và 8,8mm cao hơn và khác biệt ý
nghĩa thống kê so với các chủng xạ khuẩn còn
lại. Kế đến là chủng LV74 có BKVVK là 8,5mm.
Tại thời điểm 6 NSBT, 2 chủng LM6 và LM25 vẫn
có BKVVK cao nhất lần lượt là 5,9mm và 5,8mm
và khác biệt ý nghĩa thống kê so với các chủng
xạ khuẩn còn lại. Kế đến là chủng LV74 có
BKVVK là 5,5mm. Tại thời điểm 7 NSBT, LM25
vẫn là chủng xạ khuẩn có BKVVK cao nhất là 4,5
mm kế đến là 2 chủng LM6 và LV74 với BKVVK
đều là 3,7mm.
Bảng 1. Khả năng đối kháng của 22 chủng xạ khuẩn đối với nấm Fusarium solani
qua từng thời điểm khảo sát
STT
Nghiệm
thức
Bán kính vòng vô khuẩn qua từng thời điểm khảo sát (mm)
3 NSBT 4 NSBT 5 NSBT 6 NSBT 7 NSBT
1 BM3 14,9abc 10,7 c 7,6 c 4,3 c 2,5 c
2 BM6 14,5a-e 6,9 ghi 4,0 h 2,2 ef 1,1 fg
3 BM7 14,6a-d 6,5 i 3,2 i 2,3 e 1,7 e
4 BM17 13,6 c-f 8,7 f 5,0 f 1,0 h 1,0 g
5 BM25 12,2 ghi 5,1 k 1,4 l 1,0 h 1,0 fg
6 BM30 13,6 c-f 9,3 e 4,1 gh 1,0 h 1,0 fg
7 BM31 12,8 f-i 4,7 k 1,0 m 1,0 h 1,0 fg
8 BM32 12,1 ghi 7,2 gh 1,7 kl 1,0 h 1,0 fg
9 BT5 13,2 e-h 6,0 j 1,9 k 1,0 h 1,0 fg
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
29
STT
Nghiệm
thức
Bán kính vòng vô khuẩn qua từng thời điểm khảo sát (mm)
3 NSBT 4 NSBT 5 NSBT 6 NSBT 7 NSBT
10 CT12 13,4 d-g 6,7 hi 3,2 i 2,0 fg 1,0 fg
11 CT26 11,9 hi 8,4 f 4,4 g 2,2 ef 1,9 d
12 LM6 15,3a 11,2 b 8,8a 5,8a 3,7 b
13 LM25 15,7a 12,3a 8,9a 5,9a 4,5a
14 LV25 12,2 ghi 7,4 g 4,2 gh 1,9 g 1,2 f
15 LV71 12,6 f-i 6,8 hi 3,3 i 1,0 h 1,0 fg
16 LV74 15,1ab 12,3a 8,5 b 5,5 b 3,7 b
17 TO4 13,4 d-g 8,6 f 4,2 gh 1,0 h 1,0 fg
18 TO6 13,6 c-f 9,4 e 6,4 d 3,1 d 1,9 d
19 TO7 11,8 i 10,2 d 6,0 e 1,0 h 1,0 fg
20 TO23 12,0 hi 4,9 k 2,6 j 1,2 h 1,0 fg
21 TO26 12,0 hi 6,8 hi 2,4 j 1,0 h 1,0 fg
22 TO27 13,9 b-f 8,6 f 6,4 d 1,2 h 1,2 f
23 ĐC 0,0 j 0,0 l 0,0 n 0,0 i 0,0 h
Mức ý nghĩa
CV(%)
* * * * *
7,33 4,97 5,72 9,03 9,58
Ghi chú: Các số trong cùng một cột được theo sau bởi một hoặc nhiều chữ cái giống nhau thì
không khác biệt qua các phép kiểm định Duncan *: khác biệt mức ý nghĩa 5%. NSBT: Ngày sau khi bố
trí thí nghiệm
3.1.2 Hiệu suất đối kháng (HSĐK)
Kết quả Bảng 2 cho thấy tất cả 22 chủng xạ
khuẩn đều có hiệu suất đối kháng với nấm
F.solani qua từng thời điểm khảo sát với nhiều
mức độ khác nhau.
Tại thời điểm 3 NSBT, chủng xạ khuẩn LM25
thể hiện hiệu xuất đối kháng cao nhất với HSĐK
là 71,88%. Kế đến là chủng LM6 (62,14%) cao
hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các
nghiệm thức còn lại. Tại thời điểm 4 NSBT, 2
chủng xạ khuẩn LM25 và LV74 có HSĐK đều là
69,53% cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với các nghiệm thức còn lại. Tại thời điểm 5
NSBT, chủng LM25 vẫn là chủng xạ khuẩn có
HSĐK cao nhất là 68,72%. Kế đến là 2 chủng xạ
khuẩn LM6 và LV74 có HSĐK lần lượt là 59,32%
và 61,89% cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống
kê so với các nghiệm thức còn lại. Tại thời điểm
6 NSBT, chủng xạ khuẩn có hiệu suất đối kháng
cao nhất là LM25 đạt 62,08%, kế đó là chủng
LM6 (58,44%) và chủng LV74 (56,00%). Tại thời
điểm 7 NSBT, 2 chủng xạ khuẩn LM6 và LM25
có HSĐK cao nhất lần lượt là chủng 58,33% và
60,44%. Kế đến là chủng LV74 có HSĐK là
54,92% cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với các nghiệm thức còn lại.
Bảng 2. Hiệu suất đối kháng của 22 chủng xạ khuẩn đối với nấm Fusarium solani
qua các thời điểm khảo sát
STT
Nghiệm
thức
Hiệu xuất đối kháng qua từng thời điểm khảo sát (%)
3 NSBT 4 NSBT 5 NSBT 6 NSBT 7 NSBT
1 BM3 56,38 cd 55,69 cd 55,59 c 53,55 d 50,09 c
2 BM6 45,29 k 57,32 bc 51,20 d 50,87 e 50,00 c
3 BM7 55,28 cde 54,41 d 53,40 cd 52,74 de 49,86 c
4 BM17 46,39 jk 45,44 fgh 44,42 efghi 43,55 gh 40,63 fgh
5 BM25 46,19 jk 44,44 gh 43,17 ghi 39,77 ij 38,93 gh
6 BM30 52,86 efg 48,47 e 47,49 e 46,66 f 39,03 gh
7 BM31 47,24 jk 43,62 hi 43,55 ghi 37,92 j 33,42 i
8 BM32 51,63 fgh 44,44 gh 41,76 i 41,64 hi 38,90 gh
9 BT5 49,15 hij 44,19 h 44,00 fghi 43,81 gh 40,15 fgh
10 CT12 46,25 jk 45,24 fgh 44,89 efghi 44,54 fg 37,57 h
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
30
STT
Nghiệm
thức
Hiệu xuất đối kháng qua từng thời điểm khảo sát (%)
3 NSBT 4 NSBT 5 NSBT 6 NSBT 7 NSBT
11 CT26 47,52 ijk 45,33 fgh 43,78 fghi 43,40 gh 40,67 fgh
12 LM6 62,14 b 59,80 b 59,32 b 58,44 b 58,33a
13 LM25 71,88a 69,53a 68,72a 62,08a 60,44a
14 LV25 37,30 m 40,17 j 42,54 hi 42,98 gh 43,55 def
15 LV71 37,23 m 41,49 ij 41,73 i 45,19 fg 46,22 d
16 LV74 57,89 c 69,53a 61,89 b 56,00 c 54,92 b
17 TO4 48,93 hij 46,98 efg 46,33 efg 44,00 gh 43,94 def
18 TO6 50,41 ghi 47,87 ef 46,56 efg 43,77 gh 41,29 efgh
19 TO7 54,78 de 48,69 e 45,50 efgh 44,00 fgh 40,19 fgh
20 TO23 37,03 m 40,41 j 41,71 i 42,50 gh 44,89 de
21 TO26 40,63 l 42,95 hi 43,87 fghi 44,60 fg 44,89 de
22 TO27 54,38 def 48,96 e 47,11 ef 42,34 gh 42,18 efg
23 ĐC 0,00 n 0,00 k 0,00 j 0,00 k 0,00 j
Mức ý nghĩa
CV(%)
* * * * *
4,69 4,07 5,06 4,26 6,16
Ghi chú: Các số trong cùng một cột được theo sau bởi một hoặc nhiều chữ cái giống nhau thì
không khác biệt qua các phép kiểm định Duncan *: khác biệt mức ý nghĩa 5%. NSBT: Ngày sau khi bố
trí thí nghiệm
Tóm lại, qua kết quả bảng 1 và bảng 2 cho
thấy các chủng xạ khuẩn thí nghiệm đều có khả
năng đối kháng với nấm F. solani gây bệnh vàng
lá thối rễ trên cây có múi. Trong đó 3 chủng LM6,
LM25 và LV74 thể hiện khả năng đối kháng cao
với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 3,7mm;
4,5mm và 3,7mm và hiệu suất đối kháng lần lượt
là 58,33%; 60,44% và 54,92% đến thời điểm 7
ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Như vây, 3 chủng
xạ khuẩn LM6, LM25 và LV74 được sử dụng cho
các thí nghiệm sau. Khả năng đối kháng của các
chủng xạ khuẩn này có thể được giải thích là do
khả năng tiết ra một số enzyme phá vỡ vách tế
bào nấm. Theo Taechowisan và cs., (2003)
nghiên cứu khả năng ức chế nấm của xạ khuẩn
nhờ khả năng tiết enzyme chitinase phá hủy
vách tế bào nấm. Tương tự ghi nhận của El-
Mehalawy và cs., (2004) cũng cho rằng nhờ khả
năng tiết enzyme chitinase và β-glucanase của
xạ khuân đã phá hủy vách tế bào của nấm
Cephelosporium maydis gây héo muộn trên bắp.
Nghiên cứu của Park và cs., (2012) còn chỉ ra
rằng chủng Streptomyces torulosus PCKOK-
0324 tiết ra enzyme β-glucanase có khả năng
kháng và gây ức chế đối với nấm Phytophthora
capsici và Rhizoctonia solani gây bệnh thối rễ
trên ớt. Theo nghiên cứu của Julaluk và cs.,
(2012) cho thấy rằng chủng xạ khuẩn
Streptomyces sp. P4. có khả năng phá vỡ vách
tế bào của nấm Fusarium oxyporum bằng cách
tiết ra enzyme chitinase phân giải chitin.
3.2 Khả năng phân giải chitin của các
chủng xạ khuẩn triển vọng
Kết quả đánh giá khả năng phân giải chitin
của các chủng xạ khuẩn thí nghiệm được thể
hiện qua bảng 3. Ở thời điểm 3 NSBT, cả 3
chủng xạ khuẩn LM6, LM25, LV74 đều có khả
năng phân giải chitin và khác biệt ý nghĩa thống
kê với nhau. Trong đó, chủng xạ khuẩn LM25 có
bán kính vòng phân giải (BKVPG) cao nhất là
12,30 mm. Kế tiếp là chủng xạ khuẩn LV74 với
BKVPG là 11,75 mm. Thấp nhất là chủng xạ
khuẩn LM6 với BKVPG là 9,15 mm.
Ở thời điểm 5 NSBT, các chủng xạ khuẩn đều
có BKVPG tăng. Trong đó, chủng xạ khuẩn LM25
(16,25mm) và LV74 (15,15mm) có BKVPG cao
và không khác biệt ý nghĩa thống kê với nhau.
Chủng xạ khuẩn LM6 có BKVPG thấp nhất là
13,30 mm, khác biệt thống kê với hai chủng xạ
khuẩn còn lại.
Đến thời điểm 7 NSBT, BKVPG của 3 chủng
xạ khuẩn vẫn tiếp tục tăng, dao động trong
khoảng 18,35mm đến 19,62mm. Các chủng xạ
khuẩn có BKVPG không khác biệt ý nghĩa thống
kê với nhau.
Ở thời điểm 9 NSBT, vòng phân giải của tất
cả các chủng xạ khuẩn đã tăng cao. Trong đó,
chủng xạ khuẩn LM25 thể hiện khả năng phân
giải chitin cao nhất với BKVPG là 22,70 mm;
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
31
khác biệt với tất cả các nghiệm thức còn lại. Hai
chủng xạ khuẩn LM6 (21,20mm), LV74 (21,20
mm) có BKVPG thấp hơn chủng xạ khuẩn LM25
và không khác biệt ý nghĩa thống kê với nhau
Bảng 3. Bán kính vòng phân giải chitin của 3 chủng xạ khuẩn triển vọng
qua các thời điểm khảo sát
STT NT
Bán kính vòng phân giải chitin (mm) qua các thời điểm khảo sát
3 NSBT 5 NSBT 7 NSBT 9 NSBT
1 LM6 9,15 c 13,30 b 18,35 21,20 b
2 LM25 12,30a 16,25a 19,62 22,70a
3 LV74 11,75 b 15,15a 18,35 21,20 b
CV(%) 3,06 8,42 5,06 3,23
Ý nghĩa F tính * * ns *
Ghi chú: trong cùng một cột các chữ cái theo sau giống nhau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê
qua phép thử Duncans ở mức ý nghĩa 5%; NSBT: Ngày sau khi bố trí thí nghiệm
Kết quả thí nghiệm trên cho thấy các chủng xạ
khuẩn có khả năng đối kháng tốt với nấm
Fusarium solani đều có khả năng phân giải chitin
một trong những thành phần quan trọng trong
vách tế bào nấm. Chủng xạ khuẩn LM25 có khả
năng phân giải cao nhất với BKVPG là 22,70mm
ở thời điểm 9NSBT. Theo nghiên cứu của Nguyễn
Hồng Quí và Lê Minh Tường (2016), cho rằng
chủng xạ khuẩn HG10 có khả năng đối kháng với
nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên
Xoài đều có khả năng tiết enzyme chitinase phân
giải chitin. Theo Julaluk và Hataichanoke (2012)
cũng cho rằng thành tế bào của nấm Fusarium
oxysporum bị phá vỡ ngày càng tăng do
Streptomyces sp. P4 đã tiết ra các enzyme thủy
phân trong đó có chitinase đóng vai trò quan trọng
trong việc ức chế sự phát triển của nấm.
3.3 Khả năng phân giải β – glucan của các
chủng xạ khuẩn triển vọng
Kết quả đánh giá khả năng phân giải β-
glucan của các chủng xạ khuẩn được trình bày
ở bảng 4. Vào thời điểm 11 NSBT, 3 chủng xạ
khuẩn LM6, LM25 và LV74 có BKVPG β-glucan
cao tương đương nhau lần lượt là 5,31mm;
4,87mm và 4,87mm. Thời điểm 13 NSBT,
BKVPG β-glucan của các chủng đều tăng, dao
động trong khoảng 5,31mm đến 7,12mm.
Trong đó, BKVPG của chủng xạ khuẩn LM6
cao nhất là 7,12mm và khác biệt ý nghĩa thống
kê với tất cả các chủng còn lại. Hai chủng
LM25, LV74 có BKVPG lần lượt là 5,93mm;
5,31mm và không khác biệt ý nghĩa thống kê
với nhau.
Bảng 4. Bán kính vòng phân giải β-glucan của 3 chủng xạ khuẩn triển vọng
qua các thời điểm khảo sát
STT Nghiệm thức
Bán kính vòng phân giải β-glucan (mm)
qua các thời điểm khảo sát
11NSBT 13NSBT 15NSBT
1 LM6 5,31 7,12a 7,75
2 LM25 4,87 5,93 b 7,12
3 LV74 4,87 5,31 b 7,25
CV(%) 12,72 9,86 10,04
Ý nghĩa F tính ns * ns
Ghi chú: Trong cùng một cột các chữ theo sau giống nhau không khác biệt ý nghĩa theo phép thử
Duncans ở mức ý nghĩa 5%. NSBT: Ngày sau khi bố trí thí nghiệm
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
32
Ở thời điểm 15 NSBT khả năng tiết enzyme
β-glucanase của tất cả các chủng xạ khuẩn
vẫn tiếp tục tăng. Các chủng xạ khuẩn LM6
(7,750 mm); LM25 (7,125 mm) và LV74 (7,250
mm) có BKVPG không khác biệt ý nghĩa thống
kê với nhau.
Dựa vào kết quả thí nghiệm trên cho thấy tất
cả các chủng xạ khuẩn đối kháng tốt với nấm
Fusarium solani đều có khả năng tiết enzyme β-
glucanase do đó, chúng có khả năng đối kháng
với nấm F. solani cao do việc tiết ezmyne làm vỡ
vách tế bào của nấm. Theo nghiên cứu của Đinh
Hồng Thái và Lê Minh Tường (2016), cho rằng
tất cả 5 chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng
với nấm Phytophthora sp. gây bệnh cháy lá, thối
thân cây sen đều có khả năng tiết enzyme β-
glucanase phân giải β-glucan. Theo
Gobalakrishnan và ctv., (2013), 5 chủng xạ
khuẩn thí nghiệm có khả năng đối kháng cao với
nấm Fusarium oxysporum f. sp. ciceri đều có khả
năng tiết enzyme β 1,3-glucanase.
Qua kết quả bảng 3 và bảng 4 cho thấy, cả 3
chủng xạ khuẩn đối kháng tốt với nấm F. solani
đều có khả năng sinh enzyme chitinase và β–
glucanase. Thành phần quan trọng trong vách tế
bào nấm thật chính là chitin và β–glucan nên khi
sử dụng các chủng xạ khuẩn này trong phòng trị
bệnh vàng lá thối rễ thì enzyme chitinase và β–
glucanase sẽ phát huy tác dụng phân hủy chitin
và β–glucan làm phá vỡ vách tế bào nấm bệnh.
Đây là đặc tính quan trọng trong cơ chế đấu
tranh sinh học phòng trừ nấm bệnh của xạ khuẩn
góp phần tăng hiệu quả đối kháng của xạ khuẩn
đối với bệnh.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Ba (03) chủng xạ khuẩn LM6, LM25 và LV74
có khả năng đối kháng cao với nấm Fusarium
solani gây bệnh vàng lá thối rễ cây có múi và cả
3 chủng này đều có khả năng tiết enzyme
chitinase và β–glucanase.
Đề nghị khảo sát khả năng phòng trị bệnh
vàng lá thối rễ của 3 chủng trên ở điều kiện
nhà lưới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Hồng Thái và Lê Minh Tường, 2016. Khảo
sát khả năng đối kháng của xạ khuẩn đối với nấm
Phytophthora sp. gây bệnh cháy lá, thối thân trên cây
sen. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Số
chuyên đề: Nông nghiệp (Tập 3): 20-27.
2. Gopalakrishnan, S., V. Srinivas, M.S. Vidya and
A. Rathore, 2013. Plant growth-promoting activities of
Streptomyces spp. in sorghum and rice. SpringerPlus,
2(1): 574.
3. Hsu, S. C and J. L. Lockwood, 1975. Powdered
Chitin Agar as a Selective Medium for Enumeration of
Actinomycetes in Water and Soil. Appl Microbiology,
Mar., 422–426.
4. Julaluk Tang-um and Hataichanoke Niamsup,
2012. Chitinase production and antifungal potential of
endophytic streptomyces train P4. Maejo Int. J. Sci.
Technol., 6(01): 95-104.
5. Lê Minh Tường, Đinh Hồng Thái, Lý Văn
Giang và Phạm Tuấn Vũ, 2016. Quản lý dịch hại cây
trồng thân thiện môi trường. (Chủ biên: Nguyễn Thị
Thu Cúc và Lê Văn Vàng). NXB Đại học Cần Thơ.
Trang 203-217
6. Moayedi G. and R. Mostowfizadeh-ghalamfarsa,
2009. Antagonistic Activities of Trichoderma spp. on
Phytophthora root rot of sugar beet. Iran Agricultural
Research 28(2) 21-38.
7. Nguyền Hồng Quí và Lê Minh Tường, 2016.
Đánh giá khả năng phòng trị của xạ khuẩn đối với
bệnh thán thư trên xoài do nấm Colletotrichum sp. gây
ra. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Số
chuyên đề: Nông nghiệp (Tập 3): 120-127.
8. .Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh,
2002. Dịch hại trên cam, quýt, chanh, bưởi & IPM.
NXB Nông nghiệp.
9. Trần Văn Hâu, 2009. Giáo trình Xử lý ra hoa
Cây ăn trái. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
250 trang.
10. Park, Jae KweonKim, Jeong-DongPark, Yong
IlKim, Se-Kwon, 2012. Purification and characterization
of a 1,3-β-d-glucanase from Streptomyces torulosus
PCPOK-0324. 87(2): 1641-1648.
11. Quecine, M.C., W.L. Araújo, J. Marcon, C.S.
Gai, J.L. Azevedo, A.A. Pizzirani-Kleiner. Chitinolytic
activity of endophytic Streptomyces and potential for
biocontrol. Lett Appl Microbiol. 2008.
12. Taechowisan, T., N. Chuaychot, S. Chanaphat,
A. Wanbanjob and P. Tantiwachwutikul, 2003.
Antagonistic effects of Streptomyces sp. SRM1 on
Colletotrichum musae,. Biotechnology 8(1), 86-92.
Phản biện: TS. Hà Minh Thanh
Các file đính kèm theo tài liệu này:
kha_nang_doi_khang_cua_cac_chung_xa_khuan_doi_voi_nam_fusari.pdf