Thời điểm 3 NSTN, tất cả các chủng xạ đều
cho khả năng phân giải lipid với bán kính vòng
phân giải dao động từ 3,08 – 5,09 mm. Chủng
LV-ĐT15 có bán kính vòng phân giải là 5,09 mm
tuy không khác biệt ý nghĩa thống kê so với
chủng CM-AG22 nhưng có bán kính vòng phân
giải cao hơn so với 2 chủng xạ khuẩn còn lại.
Đến thời điểm 5 NSTN, các chủng xạ khuẩn thí
nghiệm có bán kính vòng phân giải lipid tiếp tục
tăng cao. Trong đó, chủng LV-ĐT15 có khả năng
tiết enzyme lipase cao nhất với bán kính vòng
phân giải là 8,53 mm. Tiếp đó là chủng CM-AG22
với bán kính vòng phân giải là 6,97 mm khác biệt
ý nghĩa thống kê với 2 chủng xạ khuẩn thí
nghiệm còn lại. Ở thời điểm 7 NSTN, khả năng
phân giải lipid của 4 chủng xạ khuẩn tăng vượt
trội và dao động trong khoảng 9,95 – 10,87 mm.
Trong đó, chủng LV-ĐT15 có bán kính vòng phân
giải là 11,14 mm tuy không khác biệt ý nghĩa
thống kê so với chủng CM-AG22 nhưng có bán
kính vòng phân giải cao hơn so với 2 chủng xạ
khuẩn còn lại. Ở thời điểm 9 NSTN (hình 3),
vòng phân giải lipid vẫn tiếp tục tăng lên và dao
động từ 11,71 – 14,05 mm. Trong đó, chủng LV-
ĐT15 vẫn duy trì khả năng tiết lipase cao nhất,
với bán kính vòng phân giải là 14,05 mm tuy
không khác biệt ý nghĩa so với chủng CM-AG22
có bán kính vòng phân giải là 13,75 mm nhưng
khác biệt ý nghĩa thống kê so 2 chủng xạ khuẩn
còn lại.
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy, cả 4 chủng
xạ khuẩn thí nghiệm đều có khả năng tiết
enzyme lipase và tăng dần qua các thời điểm
khảo sát. Trong đó, 2 chủng xạ khuẩn LV-ĐT15
và CM-AG22 có bán kính vòng phân giải lipid cao
và kéo dài đến thời điểm 9 ngày sau khi bố trí thí
nghiệm. Theo Nguyễn Lân Dũng và ctv., (2002),
lipid là thành phần quan trọng của màng sinh
chất hay màng tế bào chất (Cytoplasmic
membrane, CM) ở vi khuẩn cũng tương tự như ở
các sinh vật khác. Như vậy, việc ức chế và tiêu
diệt mầm bệnh thông qua cơ chế tiết enzyme
lipase phân giải lipid trên vách tế bào của mầm
bệnh của xạ khuẩn là có khả năng và đáng xem
xét và kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng 4
chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với tác
nhân gây bệnh thối nhũn củ khoai môn thông qua
cơ chế tiết enzyme lipase phân giải lipid của
màng sinh chất hay màng tế bào chất ở vi khuẩn
Erwinia sp. Theo nghiên cứu của Huỳnh Hào
Quang (2017), cho thấy 6 chủng xạ khuẩn CT07-
HG, LM13-HG, CT09-HG, CTA1-HG, HB3-BL và
CT2-HG có khả năng đối kháng với vi khuẩn
Xanthomonas campestris pv. citri gây bệnh loét
trên cam, quýt cũng có khả năng tiết enzyme
lipase và chủng CTA1-HG có bán kính vòng
phân giải lipid cao nhất trong số 6 chủng xạ
khuẩn thí nghiệm.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn erwinia SP gây bệnh thối nhũn củ khoai môn (colocasia esculenta), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
27
Biological control of the cassava mealybug,
Phenacoccus manihoti, in Africa: Review of field
studies. Integrated Pest Management for Tropical root
and tuber crops (Eds. Hahn S.K., Caveness F.E.).
IITA, Ibadan, Nigeria: 42-50.
6. R. Souissi& B. Le Ru¨, 1997. Effect of host
plants on fecundity and development of Apoanagyrus
lopezi, an endoparasitoid of the cassava mealybug
Phenacoccus manihoti. Entomologia Experimentalis et
Applicata 82: 235–238.
Phản biện: TS. Lê Xuân Vị
KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI VI KHUẨN
Erwinia sp. GÂY BỆNH THỐI NHŨN CỦ KHOAI MÔN (Colocasia esculenta)
Evaluation Antibacterial Activity of Actinomyces Isolates on Erwinia sp.
Causing Bacterial Soft Rot Disease on Taro (Colocasia esculenta)
Lê Minh Phƣơng
1
, Nguyễn Trƣờng Sơn
2
và Lê Minh Tƣờng
3
Ngày nhận bài: 05.8.2019 Ngày chấp nhận: 15.9.2019
Abstract
The research was conducted in the laboratory of Plant Protection Department, Can Tho University that were to
screen actinomycetes able to control Bacterial soft rot disease on Taro (Colocasia esculenta) caused by Erwinia
sp.. There were 20 per 123 isolates in total that were ability against Erwinia sp. in laboratory condition.
Determination antagonistic ability of 20 actinomyces isolates in controlling Erwinia sp. with 5 replications, the
results found that 4 isolates CM-AG22, LV-ĐT24, LV-ĐT15 and DH-TV4 have high antagonistic ability with radius
of inhibition zones reaches 48.32 mm; 6.40 mm; 5.82 mm and 4.37 mm respectively, at 7 days after inoculation.
On the other hand, protease activity assay was tested on Casein medium with 5 replications. The results found
that all testing isolates could produce protease and the CM-AG22 isolate has expressed the highest proteinolytic
activity with the protein lyses halo radius of 15.08 mm at 9 days after testing. Beside, the lipase activity assay was
also checked on Tween 80 agar medium with 5 replications. The results indicated that 4 testing isolates could
produce lipase and 2 isolates CM-AG22 và LV-ĐT15 have expressed the lipidolytic activity, with the lipid lyses
halo radius of 14.05 mm and 13.75 mm respectively, at 9 days after testing.
Keywords: Actinomyces, bacterial soft rot disease on taro, Erwinia sp., lipid, protein.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Trong những năm gần đây, ở Đồng bằng
sông Cửu Long song song với sự phát triển diện
tích trồng khoai môn thì các loại bệnh hại đang
diễn biến phức tạp và ảnh hưởng nghiêm trọng
đến năng suất và chất lượng của cây khoai môn.
1. Học viên cao học ngành Bảo vệ Thực vật, trường
Đại học Cần Thơ
2. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Kiên Giang
3. Khoa Nông Nghiệp, trường Đại học Cần Thơ
Trong đó, đáng lo ngại nhất là bệnh thối nhũn củ
khoai môn do vi khuẩn Erwinia sp. gây ra làm
thất thu và ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
môn. Bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa mưa
giai đoạn cây được 2,5 tháng tuổi đến thu hoạch
đặc biệt là gây hại nặng ở những ruộng bón
nhiều phân đạm. Để đối phó với bệnh, nông dân
phải sử dụng thuốc hóa học dẫn đến các ảnh
hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe của
người tiêu dùng. Theo Phạm Văn Kim (2000),
hậu quả của việc lạm dụng thuốc hóa học còn
giết chết các vi sinh vật đối kháng với dịch bệnh,
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
28
từ đó làm mất cân bằng sinh thái và dịch bệnh dễ
bộc phát. Do đó, việc áp dụng các biện pháp sinh
học để phòng và trị bệnh là rất cần thiết để bảo
vệ môi trường và sức khỏe của con người. Trong
số các vi sinh vật được áp dụng trong lĩnh vực
phòng trừ sinh học bệnh cây thì xạ khuẩn
(Actinomycetes) được xem là tác nhân có triển
vọng trong việc quản lý một số bệnh hại thực vật
bởi chúng sở hữu nhiều cơ chế đối kháng với
mầm bệnh như: tiết kháng sinh, enzyme ngoại
bào, tiết hợp chất chuyển hóa thứ cấp, cạnh
tranh, ký sinh (Lam, 2006) và kích thích cây
trồng phát triển (Palaniyandi, 2013). Theo nghiên
cứu của Yan Min et al., (2000), đã cho thấy hoạt
tính đối kháng của 26 chủng Streptomyces sp.
chống lại vi khuẩn Erwinia carotovora trên cải
bắp ở Trung Quốc là chất kháng sinh. Ngoài ra,
Zamanian et al., (2005) đã xác định loài
Streptomyces plicatus có khả năng đối kháng với
vi khuẩn Erwinia carotovora gây hại cây trồng
trong điều kiện in vitro bằng cách tiết ra ynzyme
protease và lipase. Gần đây, trong nhiều nghiên
cứu đã công bố cũng cho rằng xạ khuẩn có khả
năng quản lý bệnh do vi khuẩn gây hại cây trồng
như vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh
héo xanh trên cây khoai lang (Huỳnh Trường
Giang, 2017), vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv.
oryzae gây bệnh cháy bìa lá lúa (Nguyễn Thị Mỹ
Ngân, 2014), vi khuẩn Xanthomonas campestris
pv. citri gây bệnh loét trên cam, quýt (Huỳnh Hào
Quang, 2018). Do đó, việc nghiên cứu và ứng
dụng xạ khuẩn trong quản lý bệnh thối nhũn củ
khoai môn là rất cần thiết và cấp bách.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 Địa điểm và vật liệu nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm:
Phòng thí nghiệm bệnh cây, Bộ môn Bảo vệ
Thực vật, trường Đại học Cần Thơ
2.1.2.Vật liệu:
- Mẫu đất dùng để phân lập xạ khuẩn được
lấy xung quanh rễ cây khoai môn, lấy sâu cách
mặt đất từ 10 – 25 cm.
- Nguồn vi khuẩn Erwinia sp. là chủng vi
khuẩn nhận từ Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa
Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ. Theo
Nguyễn Thu Hồng (2019), chủng vi khuẩn này
được thu thập từ củ khoai môn bị bệnh tại xã Hội
An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp và đã
được xác định theo quy trình Kock là có triệu
chứng điển hình của bệnh thối nhũn củ khoai
môn do vi khuẩn Erwinia sp. gây ra và là chủng vi
khuẩn có khả năng gây hại nặng nhất trong số 8
chủng vi khuẩn gây bệnh thối nhũn củ khoai môn
phân lập được.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá khả năng đối kháng của các
chủng xạ khuẩn đối với Erwinia sp. trong điều
kiện phòng thí nghiệm
* Thu thập và phân lập xạ khuẩn: Thu mẫu
đất trên những ruộng trồng khoai môn có diện
tích lớn hơn 1,000m
2
ở một số tỉnh ĐBSCL như:
Trà Vinh, An Giang và Đồng Tháp. Chọn đất ở
những gốc cây khỏe và thu ở độ sâu từ 10 – 25
cm. Các mẫu đất ở những ruộng khác nhau
được cho vào từng túi nilon riêng và mang về
phòng thí nghiệm tiến hành phân lập theo
phương pháp của Hsu và Lockwook (1975) như
sau: Cân 4 gam đất + 40 ml nước cất thanh trùng
cho vào ống Facol 50 ml. Lắc trong 30 phút. Pha
loãng ở 4 nồng độ: 10
-1
,10
-2
, 10
-3
, 10
-4
. Rút 50 µl
huyền phù ở nồng độ 10
-3
và 10
-4
cho vào đĩa
petri chứa môi trường ISP4. Đĩa được ủ khoảng
2 - 3 ngày, sau đó tách ròng bằng cách dùng đũa
cấy vi khuẩn đã khử trùng vạch xạ khuẩn lên đĩa
chứa môi trường MS. Sau đó khoảng 1 tuần,
dùng đũa cấy vi khuẩn đã khử trùng chuyển
khuẩn lạc xạ khuẩn đã tách ròng vào ống nghiệm
chứa môi trường MS đổ mặt nghiêng và bảo
quản ở 8
0
C để sử dụng cho các thí nghiệm sau.
* Chuẩn bị thí nghiệm: Các chủng xạ khuẩn
được nuôi cấy trên môi trường MS trong 6 ngày,
xác định mật số và chuyển về huyền phù bào tử
xạ khuẩn là 10
8
cfu/ml. Vi khuẩn Erwinia sp.
được nuôi cấy trên đĩa petri chứa môi trường
King’s B trong 48 giờ, cho 5ml nước cất thanh
trùng vào đĩa, thu được huyền phù, sau đó tiến
hành điều chỉnh để đưa về huyền phù có
OD600 nm = 0,3.
* Thực hiện thí nghiệm: Hòa 50 ml huyền phù
vi khuẩn Erwinia sp. (OD600 nm = 0,3) cùng 10 ml
môi trường King’B lỏng vào đĩa petri, lắc đều, để
nguội. Sau đó tạo giếng trên đĩa petri bằng dụng
cụ đục tròn có đường kính 5 mm, dùng pipet hút
10 µl huyền phù xạ khuẩn (mật số 10
8
cfu/ml) cho
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
29
vào giếng vừa đục, mỗi giếng là 1 chủng xạ
khuẩn khác nhau. Đĩa petri được đặt trong điều
kiện nhiệt độ phòng.
* Chỉ tiêu theo dõi: Đo bán kính vòng vô
khuẩn ở các thời điểm 1, 2, 3, 5 và 7 sau ngày
bố trí thí nghiệm.
2.2.2. Khảo sát khả năng tiết enzyme
protease của các chủng xạ khuẩn có triển vọng
trên môi trường thạch
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 lần nhắc, mỗi nghiệm
thức là 1 chủng xạ khuẩn vùng rễ có triễn vọng.
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp
của Mitra và Chakrabartty (2005): Xạ khuẩn sau
khi được nuôi cấy trong đĩa petri 6 ngày trên môi
trường MS, thu huyền phù xạ khuẩn. Thực hiện
phương pháp pha loãng, nuôi cấy xạ khuẩn trên
môi trường MS, xác định mật số xạ khuẩn bằng
cách đếm các khuẩn lạc mọc trên môi trường
nuôi cấy và chuyển về mật số xạ khuẩn cần dùng
là 10
8
cfu/ml. Xạ khuẩn được cấy thành 3 điểm
trên đĩa Petri chứa môi trường Casein, mỗi điểm
là một khoanh giấy thấm (có đường kính 5 mm)
có tẩm huyền phù xạ khuẩn.
* Chỉ tiêu theo dõi: Tiến hành đo bán kính
vòng phân giải protein ở thời điểm 3, 5, 7 và 9
ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Tại mỗi thời điểm
lấy chỉ tiêu thí nghiệm, tiến hành trãi đều dung
dịch TCA (Tricloro acid) lên bề mặt đĩa Petri trí
nghiệm, sau đó để yên khoảng 30 giây ở nhiệt độ
phòng và xác định hoạt tính protease do xạ
khuẩn tiết ra trên môi trường thạch bằng cách đo
bán kính vùng không bắt màu với dung dịch TCA
và đó chính là vùng phân giải protein.
2.2.3 Khảo sát khả năng tiết enzyme lipase
của các chủng xạ khuẩn có triển vọng
* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 lần nhắc, mỗi nghiệm
thức là 1 chủng xạ khuẩn vùng rễ có triễn vọng.
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp
của (Ertuğrul và ctv., 2007): Xạ khuẩn sau khi
được nuôi cấy trong đĩa petri 6 ngày trên môi
trường MS, thu huyền phù xạ khuẩn (mật số 10
8
cfu/ml). Xạ khuẩn được cấy thành 3 điểm, mỗi
điểm là một khoanh giấy thấm (có đường kính 5
mm) có tẩm huyền phù xạ khuẩn trên đĩa petri có
chứa môi trường Tween 80 agar.
* Chỉ tiêu theo dõi: Đo bán kính vòng phân
giải lipid ở thời điểm 3, 5, 7 và 9 ngày sau khi bố
trí thí nghiệm.
2.4 Xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp, xử lý sơ bộ bằng phần
mềm Excel. Thống kê phân tích ANOVA và so
sánh sự khác biệt giữa các trung bình nghiệm
thức theo từng cách bố trí thí nghiệm bằng phần
mềm MSTATC.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khả năng đối kháng của xạ khuẩn
đối với vi khuẩn Erwinia sp. gây bệnh thối
nhũn củ khoai môn trong điều kiện phòng
thí nghiệm
Kết quả đánh giá nhanh khả năng đối kháng
của các chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn
Erwinia sp. gây bệnh thối nhũn củ khoai môn
cho thấy có 20 chủng xạ khuẩn thực sự có khả
năng đối kháng trong tổng số 120 chủng xạ
khuẩn thí nghiệm (103 chủng xạ khuẩn phân lập
và 17 chủng xạ khuẩn nhận từ bộ môn Bảo vệ
thực vật).
Tiếp tục sử dụng 20 chủng xạ khuẩn này để
đánh giá khả năng đối kháng với vi khuẩn
Erwinia sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm với
5 lần lặp lại. Kết quả được ghi nhận thông qua
bán kính vòng vô khuẩn (BKVVK) ở các thời
điểm 1, 3, 5 và 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm
(NSTN) và được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Bán kính (mm) vòng vô khuẩn của các chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn
Erwinia sp. qua các thời điểm khảo sát
TT
Nghiệm
thức
Bán kính (mm) vòng vô khuẩn qua các thời điểm khảo sát
1 NSTN 2 NSTN 3 NSTN 5 NSTN 7 NSTN
1 CM-AG5 0,00 j 1,37 ef 1,12 ef 0,00 h 0,00 f
2 CM-AG15 0,62 hi 1,37 ef 1,57 d 1,85 e 1,65 e
3 CM-AG22 7,82a 8,05a 8,10a 8,60a 8,32a
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
30
TT
Nghiệm
thức
Bán kính (mm) vòng vô khuẩn qua các thời điểm khảo sát
1 NSTN 2 NSTN 3 NSTN 5 NSTN 7 NSTN
4 DH-TV4 6,42 c 6,05 c 5,82 c 5,45 d 4,37 d
5 DH-TV5 1,87 e 1,12 f 0,62 h 0,00 h 0,00 f
6 LV-ĐT6 0,30 ij 0,50 gh 0,00 i 0,00 h 0,00 f
7 LV-ĐT15 5,02 d 5,50 d 5,77 c 6,22 c 5,82 c
8 LV-ĐT20 2,22 e 1,15 f 0,97 fg 0,35 g 0,00 f
9 LV-ĐT23 0,82 gh 1,30 ef 1,65 d 0,12 h 0,00 f
10 LV-ĐT24 7,30 b 7,05 b 6,92 b 6,87 b 6,40 b
11 TC-AG2 0,45 hij 0,00 i 0,00 i 0,00 h 0,00 f
12 TC-AG3 0,00 j 0,47 gh 0,00 i 0,00 h 0,00 f
13 TC-AG4 0,45 ij 0,00 i 0,00 i 0,00 h 0,00 f
14 TC-AG5 0,12 ij 0,00 i 0,00 i 0,00 h 0,00 f
15 TC-AG11 1,32 f 1,52 e 1,27 e 0,87 f 0,00 f
16 TC-AG22 1,80 e 1,47 ef 0,87 g 0,00 h 0,00 f
17 TC-TV1 0,25 ij 0,00 i 0,00 i 0,00 h 0,00 f
18 TC-TV2 0,47 hij 0,30 hi 0,00 i 0,00 h 0,00 f
19 TĐ16 1,12 fg 0,70 g 0,00 i 0,00 h 0,00 f
20 TTr7 0,50 hij 1,27 ef 0,92 fg 0,00 h 0,00 f
Mức ý nghĩa ** ** ** ** **
CV (%) 12,09 11,54 8,83 8,84 10,61
Ghi chú: Các số trong cùng một cột được theo sau bởi một hoặc nhiều chữ cái giống nhau thì
không khác biệt qua phép kiểm định Duncan, ** khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.
Ở thời điểm 1 ngày sau khi bố trí thí nghiệm
(NSTN), ghi nhận được 18 chủng thể hiện khả
năng đối kháng với vi khuẩn Erwinia sp. với
BKVVK dao động từ 0,12 đến 7,82 mm. Trong
đó, chủng CM-AG22 có BKVVK cao nhất là 7,82
mm, kế đến là các chủng xạ khuẩn LV-ĐT24,
DH-TV4, LV-ĐT15 có BKVVK lần lượt là 7,30
mm; 6,42 mm; 5,02 mm cao hơn và khác biệt ý
nghĩa so với các nghiệm thức còn lại. Ở thời
điểm 2 NSTN, ghi nhận được 16 chủng xạ khuẩn
thể hiện khả năng đối kháng với vi khuẩn Erwinia
sp. trong đó chủng xạ khuẩn CM-AG22 vẫn duy
trì khả năng đối kháng mạnh nhất với BKVVK là
8,05 mm, tiếp đến là chủng LV-ĐT24 có BKVVK
là 7,05 mm cao hơn và khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Kết quả
tương tự ở thời điểm 3 NSTN, 2 chủng xạ khuẩn
CM-AG22 và LV-ĐT24 vẫn thể hiện khả năng đối
kháng cao hơn với BKVVK lần lượt là 8,1 mm và
6,92 mm và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với
các nghiệm thức còn lại. Đến 5 NSTN, chỉ có 8
chủng xạ khuẩn thể hiện khả năng đối kháng với
vi khuẩn Erwinia sp. là CM-AG22, LV-ĐT24, DH-
TV4, LV-ĐT15, LV-ĐT20, DH-TV5, TC-AG22 và
TC-AG11; trong đó, 3 chủng xạ khuẩn CM-AG22,
LV-ĐT24, DH-TV4 có BVVVK cao lần lượt là
8,6mm; 6,87 mm và 6,22 mm cao hơn và khác
biệt ý nghĩa so với các chủng còn lại. Đến thời
điểm 7 NSTN, khả năng đối kháng với vi khuẩn
Erwinia sp. của các chủng xạ khuẩn giảm dần và
chỉ còn 5 chủng xạ khuẩn thể hiện khả năng đối
kháng. Trong đó, chủng CM-AG22 vẫn duy trì
khả năng đối kháng cao nhất với BKVVK là 8,32
mm, kế đến là chủng LV-ĐT24 có BKVVK là 6,4
mm, LV- ĐT15 có BKVVK là 5,82 mm, chủng
DH-TV4 có BKVVK là 4,37 mm cao hơn và khác
biệt có ý nghĩa thống kê với các chủng còn lại
(Hình 1)
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
31
.
Hình 1. Khả năng đối kháng của các chủng xạ khuẩn đối với vi khuẩn Erwinia sp.
gây bệnh thối củ khoai môn ở thời điểm 7 ngày sau khi bố trí thí nghiệm
Nhìn chung, 20 chủng xạ khuẩn đều có khả
năng đối kháng với vi khuẩn Erwinia sp. gây
bệnh thối nhũn củ khoai môn ở những mức độ
khác nhau qua các thời điểm khảo sát. Nổi bật
nhất là 4 chủng xạ khuẩn CM-AG22, LV-ĐT24,
DH-TV4 và LV-ĐT15 thể hiện khả năng đối
kháng với vi khuẩn Erwinia sp. tốt nhất với
BKVVK cao và thời gian duy trì khả năng đối
kháng bền vững đến thời điểm 7 ngày sau thí
nghiệm. Khả năng đối kháng của xạ khuẩn đối
với vi khuẩn gây bệnh cây trồng đã được nhiều
nghiên cứu trước đây chứng minh. Huỳnh
Trường Giang, (2017) đã phân lập và tuyển chọn
21 trong tổng số 198 chủng xạ khuẩn phân lập từ
đất có khả năng đối kháng với vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây bệnh héo xanh trên khoai
lang. Trong đó, 3 chủng xạ khuẩn TTr44, TT9,
TT11, và TT11 cho hiệu quả đối kháng cao nhất
và duy trì đến 5 NSTN với bán kính vòng vô
khuẩn lần lượt là 4,51mm, 3,37mm, 3,25 mm.
Theo Nguyễn Xuân Cảnh và ctv., (2017) đã
nghiên cứu sử dụng phương pháp khuyếch tán
trên đĩa thạch và xác định được 05 chủng trong
số 192 chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng lại
vi khuẩn Erwinia carotovora gây bệnh thối nhũn
trên cây trồng, trong đó chủng L2.5 có hoạt tính
mạnh nhất. Phạm Minh Lý, (2016) cũng ghi nhận
6 chủng xạ khuẩn LV-ĐT1, LM-HG6, TÔ-VL5,
TS-AG4, BT-CT1, BT-CT5 có khả đối kháng với
vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây
bệnh cháy bìa lá lúa thông qua cơ chế tiết enzym
ngoại bào là protease, lipase và cellulase.
Như vậy, 4 chủng CM-AG22, LV-ĐT15, DH-
TV4 và LV-ĐT24 cho khả năng đối kháng với vi
khuẩn gây bệnh thối nhũn củ khoai môn cao nhất
trong tổng số 20 chủng xạ khuẩn thí nghiệm và 4
chủng xạ khuẩn này sẽ được tiếp tục sử dụng
trong các thí nghiệm tiếp theo.
3.2 Khả năng tiết enzyme protease của các
chủng xạ khuẩn triển vọng
Khả năng tiết enzyme protease của 4 chủng
xạ khuẩn có triển vọng trên môi trường thạch
được đánh giá thông qua bán kính vòng phân
giải protein qua các thời điểm 3, 5, 7 và 9 ngày
sau thí nghiệm (NSTN) và được trình bày ở
Bảng 2.
Ở thời điểm 3 NSTN, tất cả các chủng xạ
khuẩn đều bắt đầu thể hiện khả năng phân giải
protein thông qua bán kính vòng phân giải dao
động từ 3,86 mm đến 5,66 mm. Trong đó, 2
chủng CM-AG22, LV-ĐT15 có bán kính vòng
phân giải lớn nhất lần lượt là 5,66 mm và 5,21
mm, cao hơn và khác biệt ý nghĩa thống kê ở
mức 1% so với 2 chủng còn lại.
Đến thời điểm 5 NSTN, tất cả các chủng xạ
khuẩn gia tăng đáng kể mức độ phân giải protein
với bán kính vòng phân giải lớn hơn 5 mm; trong
đó, chủng xạ khuẩn CM-AG22 có bán kính vòng
phân giải cao nhất với 8,83 mm nhưng không
khác biệt ý nghĩa thống kê so với hai chủng xạ
khuẩn LV-ĐT15 và DH-TV4 với bán kính vòng
phân giải lần lượt là 8,51 mm; 8,19 mm. Thấp
nhất là chủng LV-ĐT24 với bán kính vòng phân
giải là 6,15 mm. Ở thời điểm 7 NSTN, khả năng
phân giải protein của các chủng xạ khuẩn trên
môi trường chứa cơ chất là casein vẫn tiếp tục
có xu hướng tăng, với bán kính dao động từ
10,47 mm – 12,12 mm, đặc biệt giữa các chủng
xạ khuẩn không khác biệt ý nghĩa thống kê với
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
32
nhau ở mức 1%. Ở thời điểm 9 NSTN (Hình 2),
tất cả các chủng xạ khuẩn đều tiếp tục gia tăng
đáng kể mức độ phân giải, cao nhất là chủng xạ
khuẩn CM-AG22 với bán kính vòng phân giải là
15,08 mm và khác biệt ý nghĩa thống kê với các
tất cả các chủng xạ khuẩn thí nghiệm còn lại.
Bảng 2. Khả năng phân giải protein của các chủng xạ khuẩn triển vọng
Xạ khuẩn
Bán kính vòng phân giải protein (mm) qua các thời điểm
3 NSTN 5 NSTN 7 NSTN 9 NSTN
CM-AG22 5,66a 8,83a 10,80 15,08a
LV-ĐT15 5,21a 8,51ab 11,05 12,53 c
DH-TV4 4,50 b 8,19 b 12,12 14,25 b
LV-ĐT24 3,86 b 6,15 c 10,47 12,18 c
Mức ý nghĩa ** ** ns **
CV (%) 10,67 5,57 11,15 3,19
Ghi chú: Các số trong cùng một cột được theo sau bởi một hoặc nhiều chữ cái giống nhau thì
không khác biệt qua phép kiểm định Duncan, ** khác biệt ở mức ý nghĩa 1%
Nhìn chung, các chủng xạ khuẩn thí nghiệm
đều có khả năng tiết enzyme protease phân
giải protein với nhiều mức độ khác nhau và
chủng CM-AG22 có bán kính vòng phân giải
cao nhất và kéo dài đến thời điểm 9 ngày sau
khi bố trí thí nghiệm.
Hình 2. Vòng phân giải protein của các chủng xạ khuẩn thí nghiệm thời điểm 9 ngày
sau khi bố trí thí nghiệm
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998)
thì protein là một trong những thành phần cấu
tạo của vách tế bào vi khuẩn vì vậy, khả năng
phân giải protein là chỉ tiêu quan trọng để quản lý
mầm bệnh do vi khuẩn gây ra. Khả năng tiết
enzyme protease của xạ khuẩn cũng là một
hướng triển vọng trong phòng trị bệnh cây trồng
do vi khuẩn gây ra. Qua kết quả thí nghiệm cho
thấy 4 chủng xạ khuẩn thí nghiệm gia tăng đáng
kể mức độ phân giải protein theo thời gian. Trong
đó, chủng CM-AG22 cho khả năng phân giải
protein cao nhất so với các chủng khác qua các
thời điểm khảo sát. Kết quả này một lần nữa
khẳng định khả năng tiết enzyme protease của
xạ khuẩn là phổ biến. Cụ thể, theo nghiên cứu
của Nguyễn Thị Mỹ Ngân (2014), 8 chủng xạ
khuẩn đối kháng với vi khuẩn
Xanthomonasoryzae pv. oryzae gây bệnh cháy
bìa lá lúa trong điều kiện phòng thí nghiệm điều
tiết enzyme protease. Theo Huỳnh Trường Giang
(2017), 4 chủng xạ khuẩn TTr44, TT9, TT11 và
TT11 đối kháng với vi khuẩn Ralstonia
solanacearum gây bệnh héo xanh trên khoai lang
đều có khả năng tiết enzyme protease. Trong đó,
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
33
chủng TTr44 có bán kính vòng phân giải protein
cao nhất tại các thời điểm và đặc biệt ở thời điểm
9 NSTN với bán kính phân giải là 14,52 mm. Gần
đây, theo Phạm Minh Lý (2016), cũng ghi nhận
rằng 6 chủng xạ khuẩn LV-ĐT1, LM-HG6, TÔ-
VL5, TS-AG4, BT-CT1, BT-CT5 có khả đối kháng
với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây
bệnh cháy bìa lá lúa thông qua cơ chế tiết enzym
ngoại bào là protease, lipase và cellulase.
3.3.2 Khả năng tiết enzyme lipase của các
chủng xạ khuẩn có triển vọng
Khả năng tiết enzyme lipase của 4 chủng xạ
khuẩn có triển vọng trên môi trường thạch
được đánh giá thông qua bán kính vòng phân
giải lipase qua các thời điểm 3, 5, 7 và 9 ngày
sau thí nghiệm (NSTN) và được trình bày ở
Bảng 3.
Bảng 3. Khả năng phân giải lipid của các chủng xạ khuẩn qua các thời điểm
STT Xạ khuẩn
Bán kính vòng phân giải lipid (mm) qua các thời điểm
3 NSBT 5 NSBT 7 NSBT 9 NSBT
1 LV-ĐT15 5,09a 8,53a 11,14a 14,05a
2 CM-AG22 4,39ab 6,97 b 10,87ab 13,75a
3 DH-TV4 3,84 b 5,35 c 9,72 c 11,71 b
4 LV-ĐT24 3,08 c 4,64 c 9,95 bc 12,34 b
Mức ý nghĩa ** * ** **
CV (%) 9,31 10,18 4,83 4,91
Ghi chú: Các số trong cùng một cột được theo sau bởi một hoặc nhiều chữ cái giống nhau thì
không khác biệt qua phép kiểm định Duncan, ** khác biệt ở mức ý nghĩa 1%, * khác biệt ở mức ý
nghĩa 5%.
Thời điểm 3 NSTN, tất cả các chủng xạ đều
cho khả năng phân giải lipid với bán kính vòng
phân giải dao động từ 3,08 – 5,09 mm. Chủng
LV-ĐT15 có bán kính vòng phân giải là 5,09 mm
tuy không khác biệt ý nghĩa thống kê so với
chủng CM-AG22 nhưng có bán kính vòng phân
giải cao hơn so với 2 chủng xạ khuẩn còn lại.
Đến thời điểm 5 NSTN, các chủng xạ khuẩn thí
nghiệm có bán kính vòng phân giải lipid tiếp tục
tăng cao. Trong đó, chủng LV-ĐT15 có khả năng
tiết enzyme lipase cao nhất với bán kính vòng
phân giải là 8,53 mm. Tiếp đó là chủng CM-AG22
với bán kính vòng phân giải là 6,97 mm khác biệt
ý nghĩa thống kê với 2 chủng xạ khuẩn thí
nghiệm còn lại. Ở thời điểm 7 NSTN, khả năng
phân giải lipid của 4 chủng xạ khuẩn tăng vượt
trội và dao động trong khoảng 9,95 – 10,87 mm.
Trong đó, chủng LV-ĐT15 có bán kính vòng phân
giải là 11,14 mm tuy không khác biệt ý nghĩa
thống kê so với chủng CM-AG22 nhưng có bán
kính vòng phân giải cao hơn so với 2 chủng xạ
khuẩn còn lại. Ở thời điểm 9 NSTN (hình 3),
vòng phân giải lipid vẫn tiếp tục tăng lên và dao
động từ 11,71 – 14,05 mm. Trong đó, chủng LV-
ĐT15 vẫn duy trì khả năng tiết lipase cao nhất,
với bán kính vòng phân giải là 14,05 mm tuy
không khác biệt ý nghĩa so với chủng CM-AG22
có bán kính vòng phân giải là 13,75 mm nhưng
khác biệt ý nghĩa thống kê so 2 chủng xạ khuẩn
còn lại.
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy, cả 4 chủng
xạ khuẩn thí nghiệm đều có khả năng tiết
enzyme lipase và tăng dần qua các thời điểm
khảo sát. Trong đó, 2 chủng xạ khuẩn LV-ĐT15
và CM-AG22 có bán kính vòng phân giải lipid cao
và kéo dài đến thời điểm 9 ngày sau khi bố trí thí
nghiệm. Theo Nguyễn Lân Dũng và ctv., (2002),
lipid là thành phần quan trọng của màng sinh
chất hay màng tế bào chất (Cytoplasmic
membrane, CM) ở vi khuẩn cũng tương tự như ở
các sinh vật khác. Như vậy, việc ức chế và tiêu
diệt mầm bệnh thông qua cơ chế tiết enzyme
lipase phân giải lipid trên vách tế bào của mầm
bệnh của xạ khuẩn là có khả năng và đáng xem
xét và kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng 4
chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng với tác
nhân gây bệnh thối nhũn củ khoai môn thông qua
cơ chế tiết enzyme lipase phân giải lipid của
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
34
màng sinh chất hay màng tế bào chất ở vi khuẩn
Erwinia sp.. Theo nghiên cứu của Huỳnh Hào
Quang (2017), cho thấy 6 chủng xạ khuẩn CT07-
HG, LM13-HG, CT09-HG, CTA1-HG, HB3-BL và
CT2-HG có khả năng đối kháng với vi khuẩn
Xanthomonas campestris pv. citri gây bệnh loét
trên cam, quýt cũng có khả năng tiết enzyme
lipase và chủng CTA1-HG có bán kính vòng
phân giải lipid cao nhất trong số 6 chủng xạ
khuẩn thí nghiệm.
Hình 3. Vòng phân giải lipid của các chủng xạ khuẩn thí nghiệm thời điểm 9 ngày
sau khi bố trí thí nghiệm
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
- Có 20 trong tổng số 123 chủng xạ khuẩn thí
nghiệm có khả năng đối kháng với vi khuẩn Erwinia
sp. gây bệnh thối nhũn củ khoai môn. Trong đó, 4
chủng CM-AG22, LV-ĐT24, LV-ĐT15 và DH-TV4
có hiệu quả đối kháng mạnh nhất và ổn định.
- Cả 4 chủng CM-AG22, LV-ĐT24, LV-ĐT15
và DH-TV4 đều có khả năng tiết enzyme
protease và chủng CM-AG22 có bán kính vòng
phân giải cao nhất và kéo dài đến thời điểm 9
ngày sau khi bố trí thí nghiệm
- Cả 4 chủng CM-AG22, LV-ĐT24, LV-ĐT15
và DH-TV4 đều có khả năng tiết enzyme lipase
và 2 chủng CM-AG22 và LV-ĐT15 có bán kính
vòng phân giải cao nhất và kéo dài đến thời điểm
9 ngày sau khi bố trí thí nghiệm
Kiến nghị: khảo sát khả năng phòng trị bệnh
thối nhũn củ khoai môn của 4 chủng xạ khuẩn
trên trong điều kiện nhà lưới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Thị Khánh, Phạm
Hồng Hiển, 2017. Nghiên cứu chủng xạ khuẩn có khả
năng đối kháng với vi khuẩn Erwinia carotovora gây
bệnh thối nhũn trên một số loại cây trồng. Tạp chí
Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số
7(80)/2017
2. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến và
Phạm Văn Tỵ, 2002. Vi sinh vật học. Nhà xuất bản
giáo dục. 523 trang.
3. Huỳnh Trường Giang, 2017. Khảo sát khả năng
phòng trị bệnh héo xanh trên khoai lang do vi khuẩn
Ralstonia solanacearum của các chủng xạ khuẩn.
Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành bảo vệ
thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ. 89 trang.
4. Nguyễn Thu Hồng, 2019. Xác định tác nhân gây
bệnh thối chao trên khoai môn và đánh giá hiệu lực
của một số loại thuốc hóa học trong điều kiện phòng
thí nghiệm. Luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành
Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học
Cần Thơ. 46 trang.
5. Phạm Văn Kim, 2000. Giáo trình Vi sinh học đại
cương. Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học ứng Dụng.
Trường Đại học Cần Thơ. 159 trang.
6. Phạm Minh Lý, 2016. Khảo sát một số cơ chế
đối kháng với vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv.
oryzae gây bệnh cháy bìa lá của các chủng xạ khuẩn
triển vọng. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư chuyên ngành
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 5/2019
35
1. Viện Thuốc lá
2. Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng
dụng, Trường Đại học Cần Thơ. 82 trang.
7. Nguyễn Thị Mỹ Ngân, 2014. Khảo sát khả
năng phòng trị của xạ khuẩn đối với vi khuẩn
Xanthomonas oryzae pv. oryzae. Luận văn tốt
nghiệp cao học ngành bảo vệ thực vật. Khoa Nông
nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần
Thơ. 112 trang.
8. Huỳnh Hào Quang, 2018. Khảo sát một số cơ
chế đối kháng với vi khuẩn Xanthomonas campestris
pv. citri gây bệnh loét trên cam, quýt của các chủng xạ
khuẩn triển vọng. Luận văn tốt nghiệp cao học ngành
bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng
dụng, trường Đại học Cần Thơ. 58 trang.
9. Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998. Giáo
trình bệnh cây nông nghiệp. Nhà Xuất bản Nông
nghiệp Hà Nội.
10. Ertuğrul, S., Dönmez, G., and Takaç, S., 2007.
Isolation of lipase producing Bacillus sp. from olive mill
wastewater and improving its enzyme activity. Journal
of Hazardous Materials, 149(3), 720-724.
11. Hsu, S., Lockwood, J., 1975. Powered chitin
agar as a selective medium for enumeration of
actinomycetes in water and soil. Apllied microbiology,
29 (3), 422-426.
12. Lam, K.S, 2006. Discovery of novel metabolites
from marine Actinomycetes. Current Opinion in
Microbiology, 9: 245–251.
13. Mitra, P., and P. Chakrabartty, (2005). An
extracellular protease with depilation activity from
Streptomyces nogalator. Journal of Scientific and
Industrial Research, 64 (12), 978.
14. Palaniyandi, S. A., S. H. Yang, L. Zhang and J.
W. Suh, 2013. Effects of actinobacteria on plant
disease suppression and growth promotion. Appl
Microbiol Biotechnol. 97: 9621 - 9636
15. Yan-Min, V., T. Da Quun, T. Shi Min and Z.
Ding, 2000. The antagonism of 26 strains
Streptomyces sp. against several vegetables
pathogens. Hebaei Agric. Univ., 23: 65 - 68.
16. Zamanian S., Shahidi Bonjar G.H., Saadoun I.,
2005. First report of antibacterial properties of a new
(strain 101) against Erwinia carotovora from Iran.
Biotechnology, 4: 114-120.
Phản biện: TS. Nguyễn Huy Chung
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN BỆNH NE NGỌN GÂY HẠI THUỐC LÁ TẠI TÂY NINH
Results of Diagnotic Curl Leaves and Crooked Tip to The Side Disease on
Tobacco Plant in Tay Ninh Province
Nguyễn Văn Chín
1
và Hà Viết Cƣờng
2
Ngày nhận bài: 15.8.2019 Ngày chấp nhận: 20.9.2019
Abstract
In 2019, Tobacco instutute collected 07 disease samples with curl leaves and crooked tip to the side symptom
in growing tobacco Tay Ninh to diagnose in Research centre for Tropical plant pathology – Vietnam national
university of Agriculture. Results of diagnosis determined two virus species that cause the same disease
symptom on tobacco plant, including Tomato yellow leaf curl Kanchanaburi virus (TYLCkaV) and Pepper yellow
leaf curl Indonesia virus (PepYLCIDV). They belong to Begomovirus genus and are spread by insect - Bemisia
tabaci Gennadius. Pepper yellow leaf curl Indonesia virus is a virus species that is detected the first times in
Vietnam.
Keywords: Tobacco, virus, Begomovirus, Tomato
yellow leaf curl Kanchanaburi virus (TYLCkaV) and
Pepper yellow leaf curl Indonesia virus (PepYLCIDV).
Các file đính kèm theo tài liệu này:
kha_nang_doi_khang_cua_cac_chung_xa_khuan_doi_voi_vi_khuan_e.pdf