Bảng 2 cho thấy số ong hiện diện trên đồng
ruộng sau 1 tháng đạt ở mức thấp, chƣa có ở
khu vực cách điểm thả ong 3000 m. Sau 3 tháng,
ong đã xuất hiện ở tất cả các điểm có khoảng
cách trong vòng 1000 m. Ở khu vực 3000 m tại
Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc và Hoài Tân có
tỷ lệ xuất hiện ong là 40%, trong khi ở Cát Hiệp
là 20%. Sáu tháng sau khi thả ong ký sinh đã
xuất hiện trên toàn bộ vƣờn dừa ở trong khu vực
3000 m. Sau 9 và 12 tháng tỷ lệ ong ký sinh xuất
hiện khu vực 3000 m là 100%. Tỷ lệ này cao hơn
so với việc thả mummy ong ký sinh A.
hispinarum ký sinh sâu non bọ dừa tại các tỉnh
phía Nam (tỷ lệ ký sinh đạt 84,4-85,7%) (Hồ Văn
Chiến và Trần Văn Hai, 2008) và tại khu vực
miền Trung (Đặng Văn Mạnh, 2006).
Sau thả ong 1 tháng, mật độ mummy tại khu
vực có bán kính 50 m đạt 11,6 đến 21,5
mummy/cây, khu vực có bán kính 100 m từ 10,2
đến 19,6 mummy/cây. Trong khi đó khu vực 1 km
là 8,9 đến 19,9 mummy/cây. Sau khi thả ong 3
tháng, mật độ mummy dao động từ 14,8 đến
24,2 mummy/cây ở khu vực 1 km, và đạt mật độ
4,7 đến 19,4 mummy/cây ở khu vực 3 km. Sau
khi thả ong 6 tháng, toàn bộ 100% số cây điều
tra đều có ong ký sinh, mật độ mummy từ 18,2
đến 32,4 mummy/cây ở bán kính 50 m. Mật độ
mummy cũng xuất hiện cao từ 15,3 đến 42,8
mummy/cây ở khoảng cách 1000 m và 3000 m.
Sau 9 tháng thả ong, mật độ mummy trên đồng
ruộng dao động từ 1,6 đến 15,0 mummy/cây.
Sau khi thả 1 năm cho thấy ong T. brontispae có
khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa cao,
mật độ nhộng bọ cánh cứng hại dừa giảm dẫn
đến lƣợng mummy trên các cây dừa cũng giảm,
chỉ đạt 2,3 - 4,1 mummy/cây; 2,5 -5,1
mummy/cây; 2,1 - 3,3 mummy/cây; 1,5 - 2,7
mummy/cây ở bán kính lần lƣợt là 50 m, 100m,
1000 m là và 3000 m. Khả năng phát tán của ong
T. brontispae cao hơn hơn so với kết quả thả
ong A. hispinarum tại Kiên Giang năm 2000 và
tỉnh Tiền Giang năm 2003, sau 1 tháng ong phát
tán bán kính 1000 m (Hồ Văn Chiến và Trần Văn
Hai, 2008). Kết quả này một lần nữa khẳng định
hiệu quả sử dụng ong T. brontispae phòng trừ bọ
cánh cứng hại dừa tại Bình Định là rất tốt, tƣơng
đƣơng với việc sử dụng ong T. brontispae tại
Thừa Thiên Huế (Lê Khắc Phúc et al., 2017) và
cho thấy T. brontispae là loài ong phù hợp tại
miền Trung.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khả năng ký sinh và phát tán của ong tetrastichus brontispae (hymenoptera: eulophidae) ký sinh bọ cánh cứng hại dừa brontispa longissima (coleoptera: chrysomelidae) tại Bình Định, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
45
nước tỉnh Thừa Thiên Huế đầu tư, mã số
TTH.2016-KC07.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Tuất, Vấn, N. V., Thanh, Đ. T.,
Viễn, N. V., Thu, P. B., Hùng, N. M. (1996). Kết quả
nghiên cứu về bệnh đen lép hại lúa. Tuyển tập công
trình nghiên cứu bảo vệ thực vật 1990-1995. Nhà Xuất
bản Nông nghiệp. Trang 114-119.
2.. Barnett, H.L. and Hunter, B.B. 1972. Illustrated
Gennera of Imperfect Fungi.
3. Cottyn, B., Outryve, M.F., Cleene, M., Swing, J.
& Mew, T.W., 1996. Bacterial diseases of rice. II.
Characterization of pathogenic bacteria associated
with sheath rot complex and grain discoloration of rice
in the Philippines. Plant disease 80, 438p.
4. Krieg, N.R., and Holt, J.G. 1984. “Bergey’s
Manual of Systematic Bacteriology.” vol. 1, Williams &
Wilkins Co., Baltimore, pp. 161-172.
5. Misra J.K., S.D. Merca, and T.W. Mew,.
Oganisms causing grain discoloration and damage, A
manual of rice seed health testing, eddit by T.W. Mew
and J.K. Mirsa, Internationnal rice research institute,
1994, chapter 15- p. 92-93, chapter 17- p.100.
5. Ou, S.H. 1985. Rice diseases. Second edition.
Commonwealth Myclogical Institute. C.A.B. 380p.
Phản biện: TS. Nguyễn Huy Chung
KHẢ NĂNG KÝ SINH VÀ PHÁT TÁN CỦA ONG Tetrastichus brontispae
(HYMENOPTERA: EULOPHIDAE) KÝ SINH BỌ CÁNH CỨNG HẠI DỪA Brontispa
longissima (COLEOPTERA: CHRYSOMELIDAE) TẠI BÌNH ĐỊNH
Effectineness and Migration of Tetrastichus brontispae (Hymenoptera:
Eulophidae), a Parasitoid of The Coconut hispine Beetle Brontispa longissima
(Coleoptera: Chrysomelidae) in Binh Dinh province, Central Viet Nam
Lê Khắc Phúc
1
, Nguyễn Ngọc Kim Lân
2
, Phạm Thị Mùi
1
, Trần Thị Hoàng Đông
1
,
Hoàng Trọng Nghĩa
1
, Nguyễn Thị Giang
1
và Trần Đăng Hòa
1
Ngày nhận bài: 21.08.2018 Ngày chấp nhận: 12.12.2018
Abstract
A field study was conducted in Tam Quan Nam, Tam Quan Bac and Hoai Tan communes, Hoai Nhon district,
and Cat Hiep commune, Phu Cat district, Binh Dinh province, Central Viet Nam during February 2017 – February
2018 with aim at investigating the effectiveness and migration of Tetrastichus brontispae (Hymenoptera:
Eulophidae), an exotic parasitoid of the coconut hispine beetle Brontispa longissima (Coleoptera: Chrysomelidae).
18 days-old mummies were released in the coconut fields. The density of the beetle was low after releasing the
parasitoid. Both the mummies collected from the field and incubated in the laboratory reached a peak after 2
months releasing. The wasps were found at the distance of 50, 100, 1000 m far from released sites after 1
months releasing, and at 3000 m after 3 months reseasing. After 4 months releasing the parasitoids were
presented all areas of 3000 m distance from the releasing sites. Control efficacy on the coconut hispine beelte of
T. brontispae reached 91.7% - 94.3% after 9 - 12 months after its release. The results indicated that the parasitoid
could suppress the beetle and was established a good mummy density in the fields in Binh Dinh.
Key words: Tetrastichus, Brontispa, Binh Dinh, effectiveness, migration
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Bọ cánh cứng hại dừa Brontispa longissima
(Gestro) (Coleoptera: Chrysomelidae) lần đầu
1. Trƣờng Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
2.
Lớp Cao học Khoa học cây trồng K22B
tiên phát hiện gây hại tại Đồng Tháp vào tháng 4
năm 1999, đến năm 2008 bọ cánh cứng hại dừa
đã phát tán lây lan, gây hại nặng trên hầu khắp
các vùng miền của nƣớc ta (Lê Khắc Phúc et al.,
2009). Năm 2011, Việt Nam đã nhập nội ong
Tetrastichus brontispae (Ferriere) (Hymenoptera:
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
46
Eulophidae) (giấy phép nhập khẩu số 672/BVTV-
KD ngày 05/4/2011) để phòng trừ bọ cánh cứng hại
dừa. Kết quả đánh giá ảnh hƣởng của nhiệt độ và
ký chủ đến loài ong trong phòng thí nghiệm cho
thấy ong T. brontispae có khả năng phát triển tốt
trong phạm vi nhiệt độ rộng từ 19 đến 31C (H.T.
Nguyen et al., 2012), khả năng ký sinh tốt với tỷ lệ
3 ký chủ 1 ký sinh (Lê Khắc Phúc et al., 2013; Liu
K. et al., 2016), và ứng dụng phòng trừ bọ cánh
cứng hại dừa tại Thừa Thiên Huế (Lê Khắc Phúc et
al., 2017) triển vọng phòng trừ bọ dừa ở các tỉnh
miền Trung. Mục đích của nghiên cứu này là xác
định đƣợc khả năng vũ hóa, khả năng ký sinh, phát
tán của ong ký sinh và hiệu quả phòng trừ bọ cánh
cứng hại dừa trên đồng ruộng. Từ đó làm cơ sở
cho việc hoàn thiện phƣơng pháp thả ong T.
brontispae để phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa có
hiệu quả trên đồng ruộng tại miền
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Dùng lá cỏ typha để nhân nuôi bọ cánh cứng
hại dừa, thu nhộng bọ cánh cứng hại dừa 1 ngày
tuổi cho ong T. brontispae ký sinh duy trì trong
điều kiện tủ định ôn (SANYO MIR 253) ở nhiệt độ
25
0
C ± 0,5
0
C, chế độ ánh sáng: 14 giờ sáng 10
giờ tối. Sử dụng xác nhộng bọ cánh cứng hại
dừa có nhộng ong ký sinh (mummy) (18 ngày
sau khi ký sinh) thả ra các cây dừa thuộc giống
dừa ta, tuổi cây dừa từ 20 tuổi trở lên, cao trên
10m để tiến hành nghiên cứu.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Theo dõi khả năng vũ hóa của mummy: Cho
600 mummy 18 ngày tuổi vào vỏ chai nƣớc
Aquafina (500ml), có đục lỗ thủng, phía trên có
che mƣa. Sử dụng 10 chai có mummy thả cho
mỗi điểm (1 xã/ 1 điểm), treo ống nhựa trên cây
dừa ở độ cao 3m, thả vào sáng sớm hoặc chiều
mát, lúc trời không mƣa Tổng lƣợng mummy thả
là 6.000/ 1 điểm. Định vị GPS vị trí thả và đánh
dấu cây dừa có thả ong. Địa điểm thả ong gồm
xã Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc, Hoài Tân
(huyện Hoài Nhơn) và xã Cát Hiệp, huyện Phù
Cát tỉnh Bình Định. Sau thả ong 1 tuần, theo dõi
tỷ lệ vũ hóa trong các chai nhựa.
Tỷ lệ vũ hóa (%) =
Số mummy vũ hóa
x 100
Tổng số mummy thả trong chai (600)
Theo dõi mật độ mummy và tỷ lệ cây xuất
hiện mummy sau thả ong 1, 3, 6, 9 và 12 tháng.
Xác định các vị trí của cây dừa bị bọ dừa gây hại
ở khoảng cách bán kính 50 m, 100 m, 1000 m và
3000 m so với điểm thả ong, mỗi điểm điều tra 2
cây. Mỗi khoảng cách điều tra 5 điểm theo vòng
tròn so với điểm thả ong. Thu phần mép lá dừa bị
hại ở ngọn chứa mummy và nhộng cho vào túi
nilon, ghi số mẫu, thập mẫu mang về phòng thí
nghiệm đếm số nhộng bọ dừa, số mummy. Nuôi
riêng lẻ các mẫu sâu của từng cây trong các hộp
nhựa trong tủ định ôn. Theo dõi số mummy đƣợc
hình thành. Đếm số lƣợng mummy hình
thành/cây (mật độ mummy).
- Theo dõi sự xuất hiện của ong ở khoảng
cách bán kính 3000 m so với điểm thả ong theo
từng tháng để đánh giá thời gian xuất hiện của
ong trên đồng ruộng.
- Theo dõi hiệu quả phòng trừ trên đồng
ruộng: Điều tra hàng tháng 30 cây dừa cố định,
phân bố ở khu vực quanh điểm thả ong trong khu
vực bán kính 3000 m, mỗi cây điều tra 5 lá tính
từ trên ngọn xuống để theo dõi tỷ lệ lá bị hại
(Nakamura, 2007). Ghi nhận tỷ lệ diện tích lá bị
hại, tính tỷ lệ diện tích lá bị hại theo từng tháng
của từng cây, sau đó tính trung bình của các cây
theo mỗi điểm điều tra.
Đánh giá khả năng phục hồi của lá dừa thông
qua công thức Abbott (1925) và so sánh giữa các
địa điểm thả.
ĐHH (%) = 1 -
T – C
x 100
C
Trong đó: T - là tỷ lệ diện tích lá dừa bị hại sau khi thả ong.
C - là tỷ lệ diện tích lá dừa bị hại trước khi thả ong.
Xử lý số liệu: Các số liệu mật độ mummy và tỷ
lệ ký sinh đƣợc xử lý trung bình; tỷ lệ vũ hóa và
hiệu quả phòng trừ đƣợc xử lý trung bình và tính
sai số chuẩn bằng phần mềm Mirosof Excel 2010.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tỷ lệ vũ hóa của ong Tetrastichus
brontispae sau khi thả ngoài đồng ruộng
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
47
Bảng 1 cho thấy tỷ lệ vũ hóa của mummy ong
T. brontispae đạt rất cao, dao động từ 96,67 đến
99,50%, trung bình ở 4 xã thả có tỷ lệ vũ hóa đạt
98,25%. Kết quả này cho thấy mummy ong T.
brontispae 18 ngày tuổi có khả năng vũ hóa cao
gần tƣơng đƣơng với khi thả mummy ong T.
brontispae 18 ngày tuổi ở Thừa Thiên Huế (đạt
99,5%) (Lê Khắc Phúc et al., 2017).
Bảng 1. Lƣợng mummy thả và tỷ lệ vũ hóa của ong Tetrastichus brontispae ngoài đồng ruộng
Địa điểm thả mummy Số lƣợng cây
thả ong
Số lƣợng
mummy/cây
Tỷ lệ vũ hóa
(TB±SE) (%) Xã Tọa độ
Tam Quan Nam 14°32’10”N 109°04’11”E 10 600 96,67±0,75
Tam Quan Bắc 14°33’45”N 109°03’31”E 10 600 98,67±0,25
Hoài Tân 14°27’15”N 109°01’35”E 10 600 99,50±0,18
Cát Hiệp 14°02’14”N 109°00’08”E 10 600 98,17±0,58
Trung bình 10 600 98,25±0,34
3.2. Khả năng ký sinh và phát tán của ong Tetrastichus brontispae ngoài đồng ruộng
Bảng 2. Khả năng ký sinh và phát tán của ong Tetrastichus brontispae ngoài đồng ruộng
sau khi thả ong 1, 3, 6, 9 và 12 tháng
Địa
điểm
Thời gian
sau thả ong
ký sinh
(tháng)
Mật độ mummy và tỷ lệ ký sinh ở các khoảng cách so với điểm thả ong
50 m 100 m 1000 m 3000 m
MĐ TL MĐ TL MĐ TL MĐ TL
Tam
Quan
Nam
1 11,6 70 10,2 70 8,9 60 0,0 0
3 16,3 100 15,1 100 14,8 100 19,4 40
6 18,2 100 17,4 100 15,3 100 42,8 100
9 6,7 100 4,1 100 2,8 100 15,0 100
12 2,3 100 2,5 100 2,1 100 2,1 100
Tam
Quan
Bắc
1 21,5 60 19,6 60 19,9 40 0,0 0
3 22,0 100 21,9 100 24,2 100 16,9 40
6 32,4 100 29,4 100 29,0 100 35,1 100
9 6,5 100 4,1 100 3,0 100 1,6 100
12 4,1 100 3,7 100 3,3 100 1,8 100
Hoài
Tân
1 15,3 70 13,2 60 15,2 30 0,0 0
3 18,5 100 21,3 100 16,6 100 11,1 40
6 29,8 100 24,8 100 28,7 100 34,2 100
9 3,0 100 3,9 100 1,8 100 5,6 100
12 3,7 100 5,1 100 2,1 100 1,5 100
Cát
Hiệp
1 17,9 70 14,8 70 16,2 30 0,0 0
3 25,2 100 18,5 100 23,2 100 4,7 20
6 28,4 100 26,1 100 15,8 100 29,5 100
9 2,1 100 4,7 100 3,8 100 2,0 100
12 3,6 100 3,1 100 2,9 100 2,7 100
Ghi chú! MĐ: Mật đ mummy ( ác/c y); TL: Tỷ lệ (%) số c y dừa uất hiện mummy.
Bảng 2 cho thấy số ong hiện diện trên đồng
ruộng sau 1 tháng đạt ở mức thấp, chƣa có ở
khu vực cách điểm thả ong 3000 m. Sau 3 tháng,
ong đã xuất hiện ở tất cả các điểm có khoảng
cách trong vòng 1000 m. Ở khu vực 3000 m tại
Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc và Hoài Tân có
tỷ lệ xuất hiện ong là 40%, trong khi ở Cát Hiệp
là 20%. Sáu tháng sau khi thả ong ký sinh đã
xuất hiện trên toàn bộ vƣờn dừa ở trong khu vực
3000 m. Sau 9 và 12 tháng tỷ lệ ong ký sinh xuất
hiện khu vực 3000 m là 100%. Tỷ lệ này cao hơn
so với việc thả mummy ong ký sinh A.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
48
hispinarum ký sinh sâu non bọ dừa tại các tỉnh
phía Nam (tỷ lệ ký sinh đạt 84,4-85,7%) (Hồ Văn
Chiến và Trần Văn Hai, 2008) và tại khu vực
miền Trung (Đặng Văn Mạnh, 2006).
Sau thả ong 1 tháng, mật độ mummy tại khu
vực có bán kính 50 m đạt 11,6 đến 21,5
mummy/cây, khu vực có bán kính 100 m từ 10,2
đến 19,6 mummy/cây. Trong khi đó khu vực 1 km
là 8,9 đến 19,9 mummy/cây. Sau khi thả ong 3
tháng, mật độ mummy dao động từ 14,8 đến
24,2 mummy/cây ở khu vực 1 km, và đạt mật độ
4,7 đến 19,4 mummy/cây ở khu vực 3 km. Sau
khi thả ong 6 tháng, toàn bộ 100% số cây điều
tra đều có ong ký sinh, mật độ mummy từ 18,2
đến 32,4 mummy/cây ở bán kính 50 m. Mật độ
mummy cũng xuất hiện cao từ 15,3 đến 42,8
mummy/cây ở khoảng cách 1000 m và 3000 m.
Sau 9 tháng thả ong, mật độ mummy trên đồng
ruộng dao động từ 1,6 đến 15,0 mummy/cây.
Sau khi thả 1 năm cho thấy ong T. brontispae có
khả năng khống chế bọ cánh cứng hại dừa cao,
mật độ nhộng bọ cánh cứng hại dừa giảm dẫn
đến lƣợng mummy trên các cây dừa cũng giảm,
chỉ đạt 2,3 - 4,1 mummy/cây; 2,5 -5,1
mummy/cây; 2,1 - 3,3 mummy/cây; 1,5 - 2,7
mummy/cây ở bán kính lần lƣợt là 50 m, 100m,
1000 m là và 3000 m. Khả năng phát tán của ong
T. brontispae cao hơn hơn so với kết quả thả
ong A. hispinarum tại Kiên Giang năm 2000 và
tỉnh Tiền Giang năm 2003, sau 1 tháng ong phát
tán bán kính 1000 m (Hồ Văn Chiến và Trần Văn
Hai, 2008). Kết quả này một lần nữa khẳng định
hiệu quả sử dụng ong T. brontispae phòng trừ bọ
cánh cứng hại dừa tại Bình Định là rất tốt, tƣơng
đƣơng với việc sử dụng ong T. brontispae tại
Thừa Thiên Huế (Lê Khắc Phúc et al., 2017) và
cho thấy T. brontispae là loài ong phù hợp tại
miền Trung.
3.3. Hiệu quả phòng trừ của ong
Tetrastichus brontispae trên đồng ruộng
Hình 1. Hiệu quả phòng trừ bọ cánh cứng hại
dừa của ong Tetrastichus brontispae ở khu
vực 3000 m so với điểm thả ong (TB±SE)
Hình 1 cho thấy chƣa có hiệu quả phòng trừ
bọ cánh cứng hại dừa (0%) sau thả ong 1 tháng.
Sau khi thả ong 2, 3, 4 tháng, hiệu quả phòng trừ
tăng nhanh. Kết quả này cho thấy hiệu quả
phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa của ong T.
brontispae tăng dần sau khi chúng đƣợc thả. Sau
khi thả ong 7 tháng, hiệu quả phòng trừ đã đạt từ
72,3% (Hoài Tân) đến 85,3% (Cát Hiệp). Hiệu
quả đƣợc duy trì ở mức cao sau khi thả ong từ 9
đến 12 tháng (trên 91,7%). Sau khi thả ong 12
tháng, hiệu quả phòng trừ của ong đối với bọ
cánh cứng hại dừa tại Tam Quan Nam là 94,3%,
tại Tam Quan Bắc là 93,8%, tại Hoài Tân là
93,1% và tại Cát Hiệp là 93,0%, các vƣờn dừa bị
hại phục hồi rất tốt.
3.4 Tọa độ các điểm điều tra xuất hiện ong
Tetrastichus brontispae
Bảng 4. Tọa độ xuất hiện ong ký sinh Tetrastichus brontispae ở khoảng cách 3000 m
so với địa điểm thả ong ban đầu tại các mô hình ở Bình Định
Địa
điểm
Vị trí
Tạo độ GPS Mummy xuất hiện sau thả ong ... (tháng)
Vĩ độ bắc Kinh độ đông 1 2 3 4 5 6 - 12
Tam
Quan
Nam
О 14°32’10” 109°04’11” + + + + + +
1 14°32’07” 109°04’31” - - - + + +
2 14°32’02” 109°04’33” - - - + + +
3 14°31’56” 109°04’27” - - + + + +
4 14°31’53” 109°03’54” - - + + + +
5 14°32’20” 109°03’58” - - - + + +
Tam
Quan
Bắc
О 14°33’45” 109°03’31” + + + + + +
1 14°34’06” 109°03’58” - - - + + +
2 14°34’17” 109°03’16” - - + + + +
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
49
Địa
điểm
Vị trí
Tạo độ GPS Mummy xuất hiện sau thả ong ... (tháng)
Vĩ độ bắc Kinh độ đông 1 2 3 4 5 6 - 12
3 14°33’38” 109°03’07” - - - + + +
4 14°33’01” 109°03’28” - - + + + +
5 14°32’58” 109°04’12” - - - + + +
Hoài
Tân
О 14°27’15” 109°01’35” + + + + + +
1 14°29’31” 109°02’19” - - + + + +
2 14°28’36” 109°00’32” - - - + + +
3 14°26’31” 109°00’16” - - - + + +
4 14°26’18” 109°00’51” - - + + + +
5 14°26’12” 109°02’38” - - - + + +
Cát
Hiệp
О 14°02’14” 109°00’08” + + + + + +
1 14°02’50” 109°00’23” - - - + + +
2 14°02’57” 109°00’26” - - + + + +
3 14°02’25” 109°00’20” - - - + + +
4 14°01’22” 109°01’11” - - - + + +
5 14°01’23” 108°59’24” - - - + + +
Ghi chú! O: Vị trí thả ong ký sinh ban đầu; các vị trí từ 1-5 là 5 điểm cách ung quanh vị trí O 3000
m được định vị trước; - : Không uất hiện mummy; + Xuất hiện mummy.
Kết quả điều tra cho thấy sau 1 đến 2 tháng
ong chƣa xuất hiện ở các điểm cách khu vực thả
ong 3000 m. Tuy nhiên sau 3 tháng ong đã xuất
hiện ở một số vị trí. Nhƣ vậy, sau 3 tháng ong T.
brontispae có thể phát tán đƣợc 3000 m. Sau thả
ong 4 tháng, ong đã xuất hiện tất cả các điểm,
100% cây dừa theo dõi đều có mummy xuất
hiện. Ong thiết lập quần thể bền vững sau thả 5 -
12 tháng. Kết quả này cho thấy T. brontispae là
loài ong có thể ký sinh, phát tán, thiết lập quần
thể tốt tại đồng ruộng,
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Thả ong ký sinh T. brontispae 18 ngày tuổi có
tỷ lệ vũ hóa ngoài đồng ruộng cao (96,67 -
99,5%). Ong T. brontispae có khả năng khống chế
mật độ nhộng bọ cánh cứng hại dừa tại Bình
Định. Khả năng phát tán của ong sau 2 tháng là
3000 m. Sau 4 tháng, ong xuất hiện trên toàn bộ
khu vực vƣờn dừa có bán kính 3000 m so với vị
trí thả. Hiệu quả phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa
sau 9 tháng thả ong đạt trên 91,7% và duy trì ở
mức cao (từ 93,0 đến 94,3%) sau 1 năm sau thả
ong. Cần tiếp tục thả bổ sung nếu mật độ mummy
giảm và bọ cánh cứng hại dừa gây hại trở lại. Sử
dụng ong T. brontispae thả trên diện rộng để
phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa tại tỉnh Bình Định
và các địa phƣơng khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Văn Mạnh, Nguyễn Lê Lanh Đa (2006),
Báo cáo kết quả sử dụng ong ký sinh chuyên tính
Tetrastichus brontispae trừ bọ dừa tại Phú Yên. Báo
cáo kết quả Tổng kết Bảo vệ thực vật năm 2005,
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2006.
2. Hồ Văn Chiến, Trần Văn Hai (2008), Một số kết
quả nghiên cứu về sự thích nghi trong điều kiện lống
vải, khả năng phát tán và mức độ ký sinh trong điều
kiện tự nhiên của loài ong ký sinh. Tạp chí Bảo vệ thực
vật 1/2008, trang 27.
3. Lê Khắc Phúc, Trần Đăng Hòa, Lê Văn Hai,
Satoshi Nakamura (2009). Đặc điểm sinh học của bọ
cánh cứng hại dừa Brontispa longissima (Coleoptera:
Chrysomelidae) ở điều kiện nhiệt độ khác nhau. Tạp
chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 133 (4/2009):
81-84.
4. Lê Khắc Phúc, Trần Thị Hoàng Đông, Nguyễn
Đình Đức, Phan Thị Thúy Ni, Trần Đăng Hòa
(2013). Ảnh hƣởng của nhiệt độ và ký chủ đến ong ký
sinh Tetrastichus brontispae Ferrière. Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn 224 (17/2013): 24 - 28.
5. Lê Khắc Phúc, Phạm Thị Mùi, Trần Thế Dân, Trần
Thị Hoàng Đông và Trần Đăng Hòa (2017). Khả năng ký
sinh và phát tán của ong ký sinh Tetrastichus brontispae
(Hymenoptera: Eulophidae) trừ bọ dừa Brontispa
longissima (Coleoptera: Chrysomelidae) tại Thừa Thiên
Huế. Tạp chí Bảo vệ thực vật 1/2017: 36-41.
6. Abbott, W.S. (1925). A method of computing
the effectiveness of an insecticide. J. Econ.
Entomol., 18 : 265 - 267.
7. H.T. Nguyen, T.T. Oo, R.T. Ichiki, S. Takano, M.
Murata, K. Takasu, K. Konishi,S. Tunkumthong, N.
Chomphookhiaw and S. Nakamura (2012). Parasitisation
of Tetrastichus brontispae (Hymenoptera: Eulophidae), a
biological control agent of the coconut
hispinebeetle Brontispa longissima (Coleoptera:
Chrysomelidae) Biocontrol Science and Technology,
Các file đính kèm theo tài liệu này:
kha_nang_ky_sinh_va_phat_tan_cua_ong_tetrastichus_brontispae.pdf