Biến thể động mạch thân tạng đã được nghiên cứu
rất nhiều trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam có rất ít
nghiên cứu và với số lượng hạn chế (Trịnh Tú Tâm,
Nguyễn Quốc Dũng nghiên cứu trên hình ảnh cắt lớp
vi tính năm 2013) hoặc của Vũ Thành Trung dựa trên
phẫu tích xác tươi.
Theo số liệu về tần suất của các biến thể động
mạch thân tạng chúng tôi thống kê được khi so sánh
với các tác giả khác, có sự khác biệt. Tuy nhiên, tỷ lệ
bình thường như nhau khi so sánh số liệu của chúng tôi
với Hiat và cộng sự đã đăng tải vào năm 1984 là 75,7%.
Dù là số liệu này tương đối thường gặp hơn so sánh với
các tác giả khác như Michel (55%) hay ít hơn các tác giả
khác như Song, Urugel, Binit, Adachi, Chen Trong số
các trường hợp bình thường về động mạch thân tạng,
chúng tôi phát hiện rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ
xuất phát trực tiếp từ động mạch thân tạng mà ít tác giả
mô tả, ví dụ như động mạch hoành dưới phải và trái,
động mạch lưng tuỵ (bình thường xuất phát từ động
mạch lách). Tuy nhiên theo như bảng phân loại mới của
Poonam Khrab đề xuất dựa trên tổng hợp nhiều nghiên
cứu đã đưa ra hình thái phân loại dựa vào các khả năng
do sự phát triển động mạch thân tạng và các nhánh tiền
thân trong quá trình phát triển bào thai. Theo bảng phân
loại này, động mạch thân tạng có thể cho ra các nhánh
động mạch hoành dưới và động mạch lưng tuỵ.
Khi so sánh kết quả với Song, chúng tôi nhận thấy
có một số biến thể, chúng tôi không ghi nhận được,
điều này chưa thể khẳng định là không hoàn toàn có.
Số liệu chúng tôi có được từ hồi cứu các trường hợp,
cho nên có một số biến thể ghi nhận có các nhánh xuất
phát riêng lẻ trực tiếp như IX, X, XI, XIII (0%) không có
trường hợp nào có thể là do chúng tôi chưa đủ số liệu
và hoặc chúng tôi chưa khảo sát thêm khi chúng tôi đã
nhận thấy động mạch gan chung. Tuy nhiên chúng tôi
có một trường hợp mà tác giả Song và cộng sự không
ghi nhận, đó là thể XIV.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 11 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát các biến thể động mạch thân tạng ở 378 người Việt Nam trưởng thành bằng hình ảnh học mạch máu số hóa xóa nền, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/2015 23
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
KHẢO SÁT CÁC BIẾN THỂ ĐỘNG MẠCH
THÂN TẠNG Ở 378 NGƯỜI VIỆT NAM
TRƯỞNG THÀNH BẰNG HÌNH ẢNH HỌC
MẠCH MÁU SỐ HÓA XÓA NỀN
Variants of celiac artery in vietnamese adult:
descriptive statistic in 378 cases by digital
subtraction angiography
Nguyễn Đình Luân*, Hoàng Minh Lợi**
Introduction: Celiac artery, the first branch is given off from
abdominal artery when it passes through diaphragm. It is the major
source of blood supply to the supracolic abdominal compartment.
Anatomical variations of celiac artery and its branching pattern are
frequently found during diagnostic radiological imaging and during
surgical exploring in current practice. There are many descriptive
statistic of celiac variants published on international journal, it is
included in many ethnic and national research, but there is no such
the same publish in large number in Vietnameses.
Purpose: Descriptive statistic of celiac artery variations by
Digital subtraction angiography.
Material and Method: Descriptive statistic of celiac artery by
using digital subtraction angiography which we have done during
treating patients at Interventional Radiology Unit, Gia Định Hospital
from March 2011 to July 2015. The result is compared to international
published data and contributing to Vietnamese population morphology.
Results: of 378 celiac arteries we found that 286 arteries (75.7%)
are normal which present all three branches such left gastric artery,
splenic artery, and common hepatic artery. The remain are variations
with 24.3% in total. Among normal variant, we found that there are
many small branches are given of directly from celiac trunk. They are
such right or left inferior phrenic arteries or dorsal pancreatic artery,
which normally are not come from celiac trunk. But due to using
classifications from Michel – Hiatt, Song et al.; Benit et al. and Adachi
et al., we have to include those data into normal variations when we
see all three branches of it. We also found a rare variant which Song
et al. has no case; that is type 14 which common hepatic artery, left
gastric artery and superior mesenteric artery are same trunk, while
splenic artery is directly off from aorta.
Conclusion: With current statistic, we hope to contribute to fulfill
morphologic database of Vietnamese as well as international population.
Key words: Celiac artery (trunk), Digital subtraction angiography
(DSA).
*Đơn vị Can thiệp mạch máu
ngoài tim, Bệnh viện Nhân Dân
Gia Định
** Trưởng khoa Chẩn đoán
hình ảnh, Bệnh viện Đại Học Y
Dược Huế
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/201524
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực hành y khoa ngày nay, phẫu thuật và
điều trị can thiệp vùng ổ bụng trên là một trong những
kỹ thuật điều trị rất nhiều. Động mạch thân tạng là một
nhánh lớn đầu tiên xuất phát từ động mạch chủ bụng
sau khi đi qua cơ hoành, cấp máu chủ yếu cho các tạng
đặc và các tạng rỗng ở phần trên đại tràng ngang. Động
mạch thân tạng là cột mốc giả phẫu quan trọng trong
thực hành từ hình ảnh học đến các ứng dụng điều trị.
Theo định nghĩa của giải phẫu học, động mạch thân
tạng là một nhánh ngắn, xuất phát từ mặt bụng động
mạch chủ bụng sau khi đi qua cơ hoành. Động mạch
thân tạng cho các nhánh động mạch vị trái, động mạch
lách và động mạch gan chung, theo như mô tả cổ điển.
Tuy nhiên theo các nghiên cứu từ phôi thai học đến
hình ảnh học đã được đăng tải trên thế giới (Michel,
Hiatt, Uflacker, Urugel, Song) thì động mạch thân
tạng và động mạch mạc treo tràng trên có nhiều biến
thể và tỷ lệ các biến thể có thể lên đến 40%. Riêng ở
Việt Nam, có một vài báo cáo thống kê các biến thể
động mạch thân tạng, tuy nhiên số liệu chưa đủ nhiều
để đưa ra bức tranh toàn cảnh của các biến thể động
mạch thân tạng ở người Việt Nam. Ngoài ra, hiện tại với
nhiều cách phân loại mới đã được đưa ra dựa vào các
kiến thức liên quan đến phát triển phôi thai học và các
công bố trường hợp lâm sàng phẫu tích xác, đã khẳng
định có thể dự đoán các biến thể.
Mục tiêu nghiên cứu: khảo sát, xếp loại và thống kê
mô tả các loại biến thể động mạch thân tạng ở các bệnh
nhân khảo sát động mạch thân tạng và các động mạch
liên quan tại phòng DSA, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi cứu, thống kê mô tả.
Chúng tôi thực hiện quan sát lại, thống kê, định danh
tất cả 378 các trường hợp khảo sát động mạch thân tạng
được thực hiện trong quá trình điều trị ung thư tế bào gan
nguyên phát, chảy máu tạng đặt, chảy máu tiêu hóa trên
được thực hiện tại phòng DSA, đơn vị Can thiệp mạch
máu ngoài tim, Bệnh viện Nhân Dân Gia định từ tháng 03
năm 2011 đến tháng 7 năm 2015. Hình ảnh khảo sát bằng
cách đưa ống thông Yashiro (Terumo, Nhật bản) vào động
mạch thân tạng, bơm thuốc cản quang với thể tích từ 8
đến 10ml, tốc độ từ 4 đến 5 ml/s, áp lực 250 đến 300 psi
với máy bơm cản quang Medrad. Hình ảnh được ghi lại
với tốc độ 4 đến 7,5 frame/s. Động mạch thân tạng được
xác định ở vị trí thân D12 – L1, với ít nhất định danh hai
nhánh động mạch lách và động mạch gan chung. Trong
trường hợp, động mạch thân tạng không có một trong hai
nhánh chính, động mạch thân tạng và tìm nhánh còn lại
sẽ được khảo sát bằng cách khảo sát động mạch mạc
treo tràng trên hoặc nhánh trực tiếp từ động mạch chủ
bụng. Hình ảnh khảo sát động mạch thân tạng phải thấy
được gốc xuất phát từ động mạch chủ bụng.
Hình ảnh sẽ được đọc với phần mềm XOsiris chạy
trên Macintosh. Để đánh giá và định danh các nhánh,
hai Bác sĩ trong đơn vị dùng bảng định danh của các
tác giả cần so sánh Binit, Adachi, Michel - Hiatt, Song
để xác định và phân loại.
Kết quả thu được sẽ được mã hóa và tính toán tỷ
lệ và tần suất bằng phần mềm SPSS 16. Sau đó chúng
tôi đưa tần suất so sánh với các tác giả trên thế giới.
III. KẾT QUẢ
Trong số 378 các trường hợp khảo sát động mạch
thân tạng, có 286 các trường hợp bình thường, nghĩa là
động mạch thân tạng có ba nhánh chính, đó là động mạch
vị trái, động mạch lách, động mạch gan chung. Khi so
sánh với các tác giả trên thế giới, tỷ lệ này có sự khác biệt.
Chúng tôi
Song và CS
(DSA và MSCT)
- Hàn Quốc
Hiatt và cộng
sự (phẫu tích)
Hoa Kỳ
Urugel và
cộng sự
Thổ Nhĩ Kỳ
Binit và Cộng
sự (MSCT)
Ấn Độ
Chen và cộng
sự (phẫu tích)
Adachi và
Cộng sự
Bình thường
75,7%
(286/378)
89,1%% 75,7% 89% 91% 89,8% 87,7%
Biến thể
24,3%
(92/378)
10,9% 24,3% 11% 9% 11,2% 12,3%
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/2015 25
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tuy nhiên, số liệu của chúng tôi gần giống với số
liệu của Hiatt dựa theo bảng phân loại của Michels.
Trong số các hình thái được cho là hoàn toàn bình
thường, chúng tôi cũng ghi nhận một số nhánh nhỏ xuất
phát từ động mạch thân tạng, nhưng ít được định danh,
và chỉ có vài báo cáo tiên đoán và ghi nhận riêng lẽ. Đó
là các nhánh động mạch hoành dưới trái và phải, động
mạch lưng tuỵ (thông thường xuất phát từ động mạch
lách). Tuy nhiên, chúng tôi phân tích và gộp lại chung
trong biến thể bình thường vì đã có đủ ba nhánh chính.
Trong số các biến thể, tùy thuộc vào bảng phân loại
của từng tác giả, chúng tôi phân bổ và cho ra tần suất
cụ thể. Tất cả các biến thể đã được định danh, số liệu
của chúng tôi đều có, tuy nhiên có một số biến thể hiếm
gặp, cụ thể là biến thể nhánh động mạch gan chung,
động mạch vị trái, động mạch thân tạng xuất phát cùng
gốc và nhánh động mạch lách xuất phát riêng lẻ, chúng
tôi gặp một trường hợp. Khi so sánh với Song và cộng
sự, khi khảo sát 5002 trường hợp, với kết quả không
gặp trường hợp nào.
Hình 1. Động mạch lách xuất phát trực tiếp từ động
mạch chủ bụng và chỉ có một nhánh duy nhất.
Hình 2 (cùng một người): động mạch thân tạng cho
nhánh động mạch gan chung, và nhánh động mạch vị trái.
Kết quả các biến thể với tần suất gặp được chúng tôi sắp xếp theo hai bảng phân loại thường gặp hiện nay trên
thế giới, đó là bảng phân loại của Michel vào năm 1955, được Hiatt cụ thể hóa và củng cố vào năm 1984; và bảng
phân loại của Song và cộng sự năm 2010 với số liệu khá lớn (5002 trường hợp).
Phân loại (type) Mô tả Tần suất
I Bình thường 75,7%
II Thân chung động mạch gan và lách 11,1%
III Thân chung động mạch gan, lách, thân tạng 0,5%
IV Thân chung động mạch gan, vị trái 0,8%
V Thân chung động mạch lách, vị trái 8,7%
VI Động mạch thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên chung gốc 1,1%
Không phân loại
được
Các định danh giải phẫu không phù hợp với định danh trong bảng
phân loại
2,1%
Dựa vào bảng phân loại tương đối đầy đủ và được khảo sát trên số lượng lớn dựa trên nghiên cứu của Song
và cộng sự, được chúng tôi sử dụng khá đầy đủ và chi tiết.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/201526
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Phân loại (type) Mô tả Tần suất
I Bình thường 75,7%
II Thân chung động mạch lách + động mạch vị trái +động mạch mạc treo
tràng trên
10,8%
III Thân chung động mạch gan đông mạch mạc treo tràng trên + thân chung
động mạch vị trái và động mạch lách
8,5%
IV Động mạch thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên chung gốc 0,5%
V Thân chung động mạch gan, lách, mạc treo tràn trên + Động mạch vị trái 1,1%
VI Thân chung động mạch gan và mạc treo tràng trên + động mạch vị trái +
động mạch lách
0,8%
VII Động mạch gan chung + thân chung động mạch vị trái và lách + động mạc
treo tràng trên
0,8%
VIII Thân chung động mạch gan và vị trái +thân chung động mạch lách và mạc
treo tràng trên
0,8%
IX Động mạch gan chung + động mạch vị trái + động mạch lách + động mạch
mạc treo tràng trên
0%
X Động mạch gan chung + thân chung động mạch vị trái, động mạch lách và
động mạch mạc treo tràng trên
0%
XI Động mạch gan chung + động mạch vị trái + thân chung động mạch lách
mạc treo tràng trên
0%
XII Thân chung động mạch gan và vị trái + thân chung động mạch lách và mạc
treo tràng trên.
0,3%
XIII Thân chung động mạch gan và lách + thân chung động mạch vị trái và mạc
treo tràng trên
0%
XIV Thân chung động mạch gan, động mạch vị trái và động mạch mạc treo
tràng trên + động mạch lách
0,3%
XV Động mạch gan chung + thân chung vị trái và mạc treo tràng trên + động
mạch lách
0%
XVI Mơ hồ, không xếp loại 0,5%
IV. BÀN LUẬN
Việc xác định biến thể động mạch thân tạng bằng
hình ảnh học ngày nay đã được xem là chính xác và
phù hợp với nghiên cứu số đông. Hình ảnh mạch máu
được khảo sát bằng kỹ thuật chụp mạch máu số hóa
xóa nền được xem như là tiêu chuẩn vàng để xác định
hình thái.
Động mạch thân tạng và biến thể của nó lần đầu
tiên được mô tả bởi Haller vào năm 1756, nhưng mãi
đến năm 1955, Michel mô tả và phân loại phổ biến thể
sau khi phẫu tích 200 xác tươi. Ngày nay, có rất nhiều
nghiên cứu thống kê và mô tả tần suất của các biến thể
của gần như rất nhiều quốc gia trên thế giới trên khắp
năm châu. Nhưng dường như chỉ có một số nghiên cứu
có tầm ảnh hưởng rất lớn đến bảng phân loại động
mạch thân tạng, đó là báo cáo của Hiatt và cộng sự dựa
vào phân loại của Michels năm 1955 để đưa ra tần xuất
cụ thể củng cố giá trị của bảng xếp loại. Tuy nhiên, năm
2010, Song và cộng sự đã đưa ra báo cáo tần suất và
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/2015 27
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
nhiều biến thể mới dưa trên số lượng lớn các trường
hợp (5002).
Động mạch thân tạng là nhánh đầu tiên xuất phát
từ mặt bụng của động chủ bụng sau khi vừa qua khỏi
cơ hoành đoạn ngang thân sống ngực 12 - thắt lưng
1. Theo mô tả và định danh của giải phẫu cổ điển,
động mạch thân tạng rất ngắn và cho ba nhánh tận
là động mạch thân tạng, động mạch lách, động mạch
gan chung. Tuy nhiên các theo các biến thể đã được
xác định, động mạch thân tạng có thể không có đủ các
nhánh, có thể cùng gốc xuất phát với động mạch mạc
treo tràng trên, hoặc không có gốc động mạch thân
tạng. Các biến thể xuất hiện nhiều do đặc trung về phát
triển phôi thai của động mạch thân tạng.
Giải phẫu học luôn đóng vai trò quan trọng trong
thực hành y khoa hiện đại, tuy nhiên những biến thể sẽ
rất khó điền thông tin đầy đủ vì hạn chế về số lượng
xác tươi. Hơn nữa khi phẫu tích xác, các giá trị đo đạc
có thể không phù hợp với giá trị thực trên người sống
do trương lực cơ. Với sự phát triển của các kỹ thuật
hình ảnh, dần sự thay thế của chẩn đoán hình ảnh
trong nghiên cứu giải phẫu học rất nhiều. Trong giải
phẫu học mạch máu, tiêu chuẩn vàng để xác định, định
danh các biến thể chính là hình ảnh chụp mạch máu
(angiography), do đó chụp mạch máu số hóa xóa nền
được xem như là tiêu chuẩn quyết định và định danh
các biến thể. Tuy nhiên do kỹ thuật chụp mạch máu có
tính xâm lấn, cho nên các kỹ thuật ít xâm lấn hơn như
hình ảnh cắt lớp vi tính, hình ảnh cộng hưởng từ ngày
càng thay thế dần.
Biến thể động mạch thân tạng đã được nghiên cứu
rất nhiều trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam có rất ít
nghiên cứu và với số lượng hạn chế (Trịnh Tú Tâm,
Nguyễn Quốc Dũng nghiên cứu trên hình ảnh cắt lớp
vi tính năm 2013) hoặc của Vũ Thành Trung dựa trên
phẫu tích xác tươi.
Theo số liệu về tần suất của các biến thể động
mạch thân tạng chúng tôi thống kê được khi so sánh
với các tác giả khác, có sự khác biệt. Tuy nhiên, tỷ lệ
bình thường như nhau khi so sánh số liệu của chúng tôi
với Hiat và cộng sự đã đăng tải vào năm 1984 là 75,7%.
Dù là số liệu này tương đối thường gặp hơn so sánh với
các tác giả khác như Michel (55%) hay ít hơn các tác giả
khác như Song, Urugel, Binit, Adachi, Chen Trong số
các trường hợp bình thường về động mạch thân tạng,
chúng tôi phát hiện rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ
xuất phát trực tiếp từ động mạch thân tạng mà ít tác giả
mô tả, ví dụ như động mạch hoành dưới phải và trái,
động mạch lưng tuỵ (bình thường xuất phát từ động
mạch lách). Tuy nhiên theo như bảng phân loại mới của
Poonam Khrab đề xuất dựa trên tổng hợp nhiều nghiên
cứu đã đưa ra hình thái phân loại dựa vào các khả năng
do sự phát triển động mạch thân tạng và các nhánh tiền
thân trong quá trình phát triển bào thai. Theo bảng phân
loại này, động mạch thân tạng có thể cho ra các nhánh
động mạch hoành dưới và động mạch lưng tuỵ.
Hình. Bảng dự đoán phân loại động mạch thân tạng dựa vào sự phát triển bào thai.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/201528
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Khi so sánh kết quả với Song, chúng tôi nhận thấy
có một số biến thể, chúng tôi không ghi nhận được,
điều này chưa thể khẳng định là không hoàn toàn có.
Số liệu chúng tôi có được từ hồi cứu các trường hợp,
cho nên có một số biến thể ghi nhận có các nhánh xuất
phát riêng lẻ trực tiếp như IX, X, XI, XIII (0%) không có
trường hợp nào có thể là do chúng tôi chưa đủ số liệu
và hoặc chúng tôi chưa khảo sát thêm khi chúng tôi đã
nhận thấy động mạch gan chung. Tuy nhiên chúng tôi
có một trường hợp mà tác giả Song và cộng sự không
ghi nhận, đó là thể XIV.
V. KẾT LUẬN
Dù là còn một số biến thể chưa được định danh khi
so sánh các biến thể động mạch thân tạng với các tác
giả trên thế giới. Tuy nhiên với nhiều loại biến thể được
định danh mới đã phần nào đưa ra bức tranh toàn cảnh
của biến thể động mạch thân tạng ở người Việt Nam và
hy vọng trong tương lai chúng tôi hoặc các tác giả khác
sẽ bổ sung đầy đủ hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quang Quyền, Bộ môn giải phẫu học
trường Đại học Y Dược TP.HCM, Nhà xuất bản Y học.
Bài giảng giải phẫu học, tập 2. Trang 107, 117, 129,
145, 279, 297.
2. Trịnh Tú Tâm, Nguyễn Quốc Dũng. Biến thể giải
phẫu hệ động mạch gan dạng hiếm gặp trên cắt lớp vi
tính 64 dãy. Tạp chí Y học thực hành 2013.
3. Vũ Thành Trung. Nghiên cứu một số đặc điểm
giải phẫu của động mạch thân tạng và động mạch gan
ngoài gan ở người Việt Nam. Luận văn tốt nghiệp ngành
giải phẫu học năm 2010. Đại học Y Hà Nội.
4. Abdullah SS, Mabrut JY, Garbit V, De La Roche
E, Olagne E, Rode A, et al. Anatomical variations of the
hepatic artery: study of 932 cases in liver transplantation.
Surg Radiol Anat 2006; 28: 468–73.
5. Antony Sylvan D’Souza, Vijayalakshmi,
Hemalatha, Pugazhandi, H Mamatha. Anantomical
variations in the branches of the coeliac trunk. Journal of
Clinical and Diagnostic Research. 2012 May (Suppl-1),
Vol-6(3): 333-335.
6. Biehl TR, Traverso LW, Hauptmann E, Ryan
JA Jr. Preoperative visceral angiography alters
intraoperative strategy during the Whipple procedure.
Am J Surg 1993 May; 165(5):607–12.
7. Binit Sureka, Mahesh Kumar Mittal, Aliza Mittal,
Mukul Sinha, Narendra Kumar Bhambri, Brij Bhushan
Thukral. Variations of celiac axis, common hepatic
artery and its branches in 600 patients. Indian Journal
of Radiology and Imaging; August 2013; Vol 23; Issue 3.
8. Cavdar S, Gurbuz J, Zeybek A, Sehirli U, Abik L,
Ozdogmu O. A variation of the coeliac trunk. Kaibogaku
Zasshi 1998 Oct; 73(5):505-8.
9. Chen CY, Lee RC, Tseng HS, Chiang JH,
Hwang JI, Teng MM. Normal and variant anatomy of the
hepatic arteries: angiographic experience. Chin Med J
1998; 61: 17–23.
10. Chen H, Yano R, Emura S, Shoumura S.
Anatomic variation of the celiac trunk with special
reference to hepatic artery patterns. Ann Anat 2009;
191(4): 399–407.
11. Cicekcibasi AE, Uysal I, Seker M, Tuncer I,
Buyukmcu M, Salbacak A. A rare variation of the coeliac
trunk. Annals of Anatomy 2005; 187.
12. Corinne B. Winston, Nancy A. Lee, William
R. Jarnagin, Jerrold Teitcher, Ronald P. DeMatteo,
Yuman Fong, Leslie H. Blumgart. CT Angiography and
Delineation of celiac and superior mesenteric artery
variants in patients undergoing hepatobiliary and
pancreatic surgery. AJR: 188, July 2007: 13 – 19.
13. Covey AM, Brody LA, Maluccio MA, Getrajdman
GI, Brown KT. Variant hepatic arterial anatomy revisited:
digital subtraction angiography performed in 600
patients. Radiology 2002;224 (2):542–7.
14. Egorov VI, Yashina NI, Fedorov AV, Karmazanovsky
GG, Vishnevsky VA, Shevchenko TV. Celiacomesenterial
arterial aberrations in patients undergoing extended
pancreatic resections: correlation of CT angiography with
findings at surgery. JOP 2010; 11(4): 348–57.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 21 - 08/2015 29
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
15. Hiatt JR, Gabbay J, Busuttil RW. Surgical
anatomy of the hepatic arteries in 1000 cases. Ann
Surg 1994; 220: 50–2.
16. Koops A, Wojciechowski B, Broering DC,
Adam G, Krupski-Berdien G. Anatomic variations of the
hepatic arteries in 604 selective coeliac and superior
mesenteric angiographies. Surg Radiol Anat 2004; 26:
239–44.
17. Michels NA. Newer anatomy of the liver and
its variant blood supply and collateral circulation. Am J
Surg 1966; 112: 337–47.
18. Neda Ognjanovic, D. Jeremic, Ivana Zivanovic.
MDCT angiography of anatomical variations of celiac
trunk and superior mesenteric artery. Arch. Biol. Sci.,
Belgrade, 66(1), 2014: 233 – 240.
19. Song SY, Chung JW, Yin YH, Jae HJ, Kim
HC, Jeon UB, Cho BH, So YH, Park JH. Celiac axis
and common hepatic artery variations in 5002 patients:
systematic analysis with spiral CT and DSA. Radiology
2010 Apr; 255(1): 278-88.
20. Ugurel M S, Battal, Bozlar, Nural, Tasar,
Saglam, Karademir. Anatomical variations of the hepatic
arterial system, the coeliac trunk and the renal arteries:
an analysis with multidetector CT angiography. The
British Journal of Radiology 2010 Aug; 83(992): 661–7.
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Động mạch thân tạng là nhánh động mạch đầu tiên xuất phát từ động mạch chủ bụng nuôi các
tạng đặc lớn ở phần trên ổ bụng, là một trong những động mạch có nhiều biến thể và là một mốc giải phẫu quan
trọng trong việc chẩn đoán, điều trị. Các thống kê trên thế giới về các biến thể đã có nhiều, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn
chưa bổ sung đầy đủ các biến thể.
Mục tiêu nghiên cứu: Thống kê tỷ lệ các loại biến thể động mạch thân tạng bằng kỹ thuật chụp mạch máu số
hóa xóa nền.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thống kê mô tả hồi cứu tất cả các trường hợp khảo sát động mạch
thân tạng và các nhánh có liên quan khi không tìm được nhánh động mạch thân tạng gốc trong khi tiến hành điều
trị các bệnh lý vùng ổ bụng bằng kỹ thuật khảo sát mạch máu số hóa xóa nền (DSA) tại đơn vị Can thiệp mạch máu
ngoài tim từ tháng 03 năm 2011 đến tháng 07 năm 2015. Kết quả sẽ được so sánh với những bảng phân loại đã
được công bố quốc tế và đưa ra thống kê bước đầu để cho những nghiên cứu xa hơn trên diện rộng hơn, góp phần
xác định hình thái của động mạch thân tạng ở người Việt Nam.
Kết quả: Với số liệu chúng tôi thu thập được 378 ca, có đến 75,7% các trường hợp bình thường với động mạch
thân tạng điển hình có ba nhánh động mạch vị trái, động mạch lách, động mạch gan chung, 24,3% các trường hợp
còn lại là những biến thể. Trong trường hợp bình thường, có nhiều nhánh động mạch nhỏ xuất phát từ động mạch
thân tạng, nhưng do so sánh và dùng bảng phân loại của Michels Hiatt, Binit, Adachi, không có sự hiện diện, nên
chúng tôi phải cộng gộp. Trong số các biến thể tìm được, biến thể động mạch gan chung xuất phát từ động mạch
thân tạng là biến thể thường gặp nhất khi (tỷ lệ 11%). Trong số các biết thể chúng tôi ghi nhận được, có những biến
thể khá hiếm khi so sánh với các báo cáo khác như thân chung động mạch gan – vị trái – mạc treo tràng trên xuất
phát từ một thân gặp trong một trường hợp.
Kết luận: Với những số liệu thống kê cụ thể, chúng tôi hy vọng sẽ bổ sung vào dữ liệu hình thái học động mạch
thân tạng ở người Việt Nam, cũng như thế giới.
Từ khóa: Động mạch thân tạng, chụp mạch máu số hóa xóa nền.
Người liên hệ: Nguyễn Đình Luân, Email: drluannguyen@yahoo.com
Ngày nhận bài: 21. 5. 2015
Ngày chập nhận đăng: 1.6.2015
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_cac_bien_the_dong_mach_than_tang_o_378_nguoi_viet_n.pdf