Các chủng vi khuẩn đều có khả năng gây chết
chuột thí nghiệm sau khoảng thời gian 12 - 48 giờ kể
từ khi gây nhiễm. Vi khuẩn E. coli có 13/15 (chiếm
tỷ lệ 86,67%) số chủng phân lập được gây chết
chuột thí nghiệm, trong đó 66,67% số chủng gây
chết 100% số chuột thí nghiệm và 20% số chủng
gây chết 50% số chuột thí nghiệm. Với vi khuẩn
Salmonella spp., 3 chủng vi khuẩn phân lập được
gây chết 100% số chuột thí nghiệm trong khoảng
thời gian từ 12 - 36 giờ. Vi khuẩn Staphylococcus
aureus có 10/11 (chiếm tỷ lệ 90,9%) chủng gây chết
chuột thí nghiệm, trong đó 63,63% số chủng gây
chết 100% số chuột thí nghiệm và 27,27% số chủng
gây chết 50% số chuột thí nghiệm.
Kết quả phân lập lại vi khuẩn dương tính
100%. Cần thiết phải giám sát chặt chẽ chất
lượng sữa tươi tại nông hộ và tại các trạm thu
gom để loại bỏ ngay các mẫu sữa không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; giảm thiểu các
vụ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ các sản phẩm
sữa nhiễm vi khuẩn E. coli, Salmonella spp.
hoặc Staphylococcus aureus.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát chất lượng sữa bò tươi tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
47
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
KHAÛO SAÙT CHAÁT LÖÔÏNG SÖÕA BOØ TÖÔI TAÏI XAÕ PHUØ ÑOÅNG,
HUYEÄN GIA LAÂM, THAØNH PHOÁ HAØ NOÄI
Cam Thị Thu Hà, Phạm Hồng Ngân,
Trương Lan Oanh, Nguyễn Thị Trang
Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
80 mẫu sữa thu thập tại các nông hộ và các trạm thu gom sữa trên địa bàn xã Phù Đổng, huyện Gia
Lâm, Hà Nội đã được dùng để đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng và mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn
hiếu khí, Escherichia coli, Salmonella spp. và Staphylococcus aureus. Kết quả phân tích cho thấy, chất
lượng các mẫu sữa đạt tiêu chuẩn về độ tươi, hàm lượng đạm, chất béo và chất khô ở mức trung bình (theo
TCVN). Số mẫu sữa không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về tổng số vi khuẩn hiếu khí là 26/80 (32,5%), vi khuẩn
E. coli là 15/80 (18,75%), vi khuẩn Salmonella spp. là 3/80 (3,75%) và vi khuẩn Staphylococcus aureus
là 11/80 (13,75%). Một số chủng vi khuẩn phân lập được gồm E. coli, Salmonella, Staphylococcus aureus
có độc lực cao, 86,67% đến 100% gây chết chuột bạch thí nghiệm trong vòng 48 giờ sau gây nhiễm.
Từ khóa: Sữa tươi, chất lượng, vi khuẩn, Phù Đổng.
Evaluation on quality of raw fresh milk in Phu Dong commune,
Gia Lam district, Ha Noi city
Cam Thi Thu Ha, Pham Hong Ngan,
Truong Lan Oanh, Nguyen Thi Trang
SUMMARY
A total of 80 raw milk samples collecting at the small scale farms and the milk collection stations
in Phu Dong commune were used to evaluate some quality criterias and contamination of aerobic
bacteria total, including Escherichia coli, Salmonella spp. and Staphylococcus aureus in milk. The
studied result showed that the quality of milk collecting in Phu Dong commune reached the standards
at average level on freshness, protein and fat contents, dry matter in milk in comparison with
Viet Namese standards (TCVN). However, the milk samples contaminating with aerobic bacteria
total, E.coli, Salmonella spp. and Staphylococcus aureus were 26/80 (32.5%), 15/80 (18.75%), 3/80
(3.75%) and 11/80 (13.75%), respectively. The isolated pathogen bacteria strains presented high
virulence (86.67 - 100% of tested strains) killed the experimental white mice within 48 hours.
Keywords: Raw fresh milk, quality, bacteria, Phu Dong.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sữa là nguồn thực phẩm rất bổ dưỡng, được
mọi người sử dụng hàng ngày để bổ sung chất
dinh dưỡng, giải khát và làm đẹp. Nhà nước ta
đã có chủ trương, chính sách đẩy mạnh phát triển
ngành chăn nuôi bò sữa, mục tiêu đến năm 2020
đàn bò sữa Việt Nam đạt 500 nghìn con, lượng
sản xuất sữa trong nước khoảng 1.012,5 nghìn
tấn (Hoàng Kim Giao, 2007).
Phù Đổng là xã thuộc ngoại thành Hà Nội
có phong trào chăn nuôi bò sữa gần 30 năm
nay. Những năm qua, phong trào chăn nuôi bò
sữa ở Phù Đổng phát triển mạnh, đem lại thu
nhập cao cho người chăn nuôi. Theo thống kê
của thú y xã, năm 2018 tổng số hộ chăn nuôi
bò sữa của xã là 520 hộ với tổng số bò là 1500
con. Tổng sản lượng sữa trung bình hàng năm
là 7.100 tấn. Thị trường tiêu thụ sữa của xã hiện
48
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
nay chủ yếu là cung cấp cho nhà máy Vinamilk.
Công ty có hỗ trợ giá cho người nông dân, ngoài
ra còn có sự cạnh tranh giữa các công ty, giữa
các trung tâm thu gom, vì vậy quyền lợi của
người chăn nuôi đã được đảm bảo hơn. Tuy
nhiên, việc kiểm soát chất lượng sữa ngay từ
các nông hộ và từ các trạm thu gom chưa được
tiến hành thường xuyên để đảm bảo chất lượng
sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng. Để kiểm
soát chất lượng sữa, cần định kỳ giám sát tại tất
cả các khâu, từ chăm sóc đàn bò sữa, quá trình
vắt sữa, vận chuyển, bảo quản và chế biến thành
sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Sữa là thực
phẩm chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao,
môi trường thích hợp cho nhiều loài vi khuẩn
phát triển, làm giảm chất lượng sữa và ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Theo FAO (1998), sữa nhiễm khuẩn có thể gây
ra vấn đề lớn cho sức khoẻ cộng đồng và là
nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm. Vì vậy,
để có được sản phẩm sữa an toàn trước khi đến
với người tiêu dùng, các chỉ tiêu lý, hóa, vi
sinh vật trong sữa cần phải được kiểm tra một
cách nghiêm ngặt. Từ thực tiễn đó, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát chất lượng sữa bò tươi tại
xã Phù Đổng - Gia Lâm - Hà Nội.
II. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung
- Kiểm tra một số chỉ tiêu lý, hóa của sữa
- Kiểm tra một số chỉ tiêu vi sinh vật của sữa.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập mẫu: theo TCVN
6400:1998 (ISO 707:1997)
- Phương pháp xác định một số chỉ tiêu lý, hóa:
+ Xác định độ acid chuẩn độ: theo TCVN
6843 - 2001 (ISO 6092:1980)
+ Xác định hàm lượng chất khô: theo TCVN
5533 - 1991.
+ Xác định hàm lượng chất béo: theo TCVN
7083 - 2002 (ISO 11870 : 2000).
- Phương pháp xác định chỉ tiêu vi sinh vật:
+ Xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí: theo
TCVN 4884 - 2005.
+ Xác định vi khuẩn E. coli: Theo TCVN
6505 - 1: 1999 ( ISO 11866/1:1997): Phương
pháp MPN (Most Probable number)
+ Phân lập vi khuẩn Salmonella: theo TCVN
6402 : 2007 (ISO 6785 : 2001)
+ Phân lập vi khuẩn Staphylococcus aureus:
theo TCVN 4830 : 2005.
- Phương pháp xác định độc lực của các
chủng vi khuẩn phân lập được: Kiểm tra độc
lực của vi khuẩn theo phương pháp thường quy
của Viện Thú y: Chọn chuột nhắt trắng có trọng
lượng từ 18 - 20g, khoẻ mạnh. Tiêm 0,2 ml canh
trùng nguyên của chủng vi khuẩn cần kiểm tra
đã nuôi cấy ở môi trường BHI ở nhiệt độ 370C
trong 24 h vào xoang phúc mạc. Theo dõi thời
gian gây chết chuột và số chuột chết. Theo dõi
triệu chứng, bệnh tích và phân lập vi khuẩn từ
chuột chết.
- Phương pháp đánh giá chất lượng sữa tươi:
Theo TCVN 7405:2004
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được
thu thập, xử lý bằng Excel 2007 và Minitab16.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khảo sát một số chỉ tiêu lý, hóa của sữa
bò tươi
3.1.1. Kết quả kiểm tra độ tươi của sữa bằng
phương pháp cảm quan và thử cồn 75°
Sữa tốt ở dạng nhũ tương đồng đều, không
vón cục, có màu vàng kem nhạt hay trắng ngà,
có mùi đặc trưng của sữa tươi, có vị ngọt nhẹ.
Sữa có vị đắng hoặc mùi khác thường, có thể
do ảnh hưởng của thức ăn hay dụng cụ bảo
quản sữa và cách bảo quản. Bình thường sữa
49
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
ở trạng thái đồng nhất, nhưng nếu để quá thời
gian cho phép, sữa bị chua do vi khuẩn lactic
trong sữa đã lên men đường lactose sinh ra
acid lactic. Vì vậy, khi cho cồn vào trong sữa,
cồn có tác dụng làm mất nước và làm biến
tính protein trong môi trường acid và gây ra
hiện tượng đông vón sữa.
Để đánh giá độ tươi của sữa, chúng tôi đã
tiến hành kiểm tra 80 mẫu sữa tại xã Phù Đổng,
kết quả được trình bày tại bảng 1.
Bảng 1. Kết quả kiểm tra độ tươi của sữa
Phương thức Số mẫu
Cảm quan Thử cồn 750
Số
mẫu
đạt
Tỷ lệ
(%)
Dương tính
+ ++ +++ Tổng số
Số
mẫu
Tỷ lệ
(%)
Số
mẫu
Tỷ lệ
(%)
Số
mẫu
Tỷ lệ
(%)
Số
mẫu
Tỷ lệ
(%)
Nông hộ 40 40 100 0 0 0 0 0 0 0 0
Trạm thu gom 40 35 87,5 1 2,5 1 2,5 0 0 2 5,0
Tổng 80 75 93,75 1 1,25 1 1,25 0 0 2 2,5
Ghi chú: + : Sữa có gợn nhỏ bám vào thành ống nghiệm.
++ : Sữa tủa nặng hơn, các gợn bám nhiều vào thành ống nghiệm.
+++: Sữa đông vón thành cục.
Trong tổng số 80 mẫu sữa kiểm tra,
có 75 mẫu sữa đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu
cảm quan, chiếm tỷ lệ 93,75% và có 78
mẫu sữa cho kết quả âm tính khi thử cồn
750, chiếm tỷ lệ 97,5%. Trong số 5 mẫu
sữa không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu cảm
quan, khi tiến hành thử cồn có 2 mẫu
dương tính.
Sữa bò vắt tại các nông hộ ở xã Phù
Đổng 100% đạt chỉ tiêu về cảm quan và âm
tính với phản ứng thử cồn. Điều này phản
ánh được thực tế người dân đã có kỹ thuật
và ý thức tốt trong công tác vệ sinh khi tiến
hành vắt sữa. Chỉ có 5/80 mẫu (chiếm tỷ lệ
6,25%) lấy tại các trạm thu gom chưa đạt
chỉ tiêu cảm quan và 2/80 mẫu (chiểm tỷ
lệ 2,5%) dương tính với cồn 750, trong quá
trình bảo quản theo thời gian từ các nông hộ
đến nơi thu gom đã làm ảnh hưởng đến chất
lượng sữa.
3.1.2. Kết quả đánh giá độ nhiễm khuẩn của sữa
bằng phản ứng hoàn nguyên xanh methylen
Vi sinh vật khi xâm nhập vào sữa tiết ra một
loại men là Reductaza có khả năng làm mất màu
thuốc thử xanh methylen. Do vậy dựa vào thời
gian mất màu của xanh methylen sẽ đánh giá được
mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong sữa tươi. Kết quả
đánh giá độ nhiễm khuẩn của sữa bằng phản ứng
hoàn nguyên xanh methylen trình bày ở bảng 2.
Số liệu tổng hợp ở bảng 2 cho thấy: trong
số 80 mẫu sữa kiểm tra tại nông hộ và các trạm
thu gom sữa trên địa bàn xã Phù Đổng, có 77/80
mẫu (chiếm 96,25%) có thời gian làm mất màu
xanh methylen đạt tiêu chuẩn (trên 3 giờ), trong
đó có 86,25% số mẫu sữa mất màu trong thởi
gian 3 giờ - 5 giờ 30 và 10% số mẫu kiểm tra
trên 5 giờ 30 mới gây mất màu xanh methylen.
Đây là những mẫu sữa lý tưởng được vắt trong
điều kiện môi trường đảm bảo tiêu chuẩn, dụng
cụ chứa đựng được vệ sinh cẩn thận.
50
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Kết quả kiểm tra cho thấy, nhìn chung lượng
sữa tươi của các nông hộ xã Phù Đổng sản xuất
ra cung cấp cho thị trường đảm bảo về độ tươi.
Chỉ có 3/40 mẫu lấy tại các trạm thu gom có
thời gian làm mất màu dưới 3 giờ, không đảm
bảo về độ tươi.
3.1.3. Kết quả xác định độ acid tổng số
Vi sinh vật ở trong sữa nếu để lâu sẽ phát
triển, sản sinh acid lactic làm cho độ acid tổng
số tăng lên. Do vậy dựa vào độ acid sẽ đánh giá
được độ tươi của sữa tươi.
Bảng 3. Kết quả kiểm tra độ acid tổng số
Địa điểm lấy mẫu Số mẫu Số mẫu đạt Tỷ lệ (%) Số mẫu không đạt Tỷ lệ (%) TCVS
Nông hộ 40 40 100 0 0
18 -22 độ
ThornerTrạm thu gom 40 37 92,5 3 7,5
Tổng 80 77 96,25 3 3,75
Bảng 4. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu đạm, chất béo, vật chất khô và tỷ trọng của sữa bò
Chỉ tiêu Sữa tại nông hộ Sữa tại trạm thu gom Tiêu chuẩn
Đạm (%) 3,85 ± 0,027 3,72 ± 0,056 ≥ 2,8
Chất béo (%) 3,71 ± 0,029 3,76 ± 0,037 ≥ 3,2
Vật chất khô (%) 11,82 ± 0,039 11,78±0,062 ≥ 11,5
Tỷ trọng (%) 1,031 ± 0.00019 1,029 ± 0,00031 1,026 – 1,033
Qua bảng kết quả nhận thấy: hàm hượng đạm
trung bình của sữa tươi nguyên liệu tại các nông
hộ và các trạm thu gom trên địa bàn xã Phù Đổng
đều đạt tiêu chuẩn. Tỷ lệ đạm của sữa lấy trực
tiếp tại các nông hộ là 3,85% và tại các trạm thu
gom là 3,72%. Sữa tươi nguyên liệu sau khi vắt,
hàm lượng đạm cao hơn so với sữa tại các trạm
thu gom do sữa tươi vừa vắt chưa có sự phân hủy
các chất dinh dưỡng trong sữa. Tuy nhiên sự sai
khác này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 2. Kết quả kiểm tra độ nhiễm khuẩn của sữa bò tươi
bằng phản ứng hoàn nguyên xanh methylen
Phương
thức
Số
mẫu
Thời gian mất màu xanh methylen
5 giờ 30
Số mẫu Tỷ lệ (%) Số mẫu Tỷ lệ (%) Số mẫu Tỷ lệ (%) Số mẫu Tỷ lệ (%)
Nông hộ 40 0 0 0 0 34 85 6 15
Trạm thu gom 40 0 0 3 7,5 35 87,5 2 5
Tổng 80 0 0 3 3,75 69 86,25 8 10
Kết quả kiểm tra cho thấy 96,25% số mẫu
phân tích đạt chỉ tiêu về độ acid tổng số. Trong
40 mẫu thu thập từ các nông hộ, 100% số mẫu
đạt tiêu chuẩn cho phép, đối với 40 mẫu tại các
trạm thu gom sữa, có 3 mẫu có độ acid tổng số
vượt quá giới hạn vệ sinh.
3.1.4. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu đạm, chất béo,
vật chất khô và tỷ trọng của sữa bò tươi
51
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Tỷ lệ chất béo trung bình của sữa tươi lấy tại
các nông hộ là 3,71% và tại các trại thu gom sữa
là 3,76%. Tỷ lệ này đạt tiêu chuẩn chất lượng,
tuy nhiên vẫn ở mức trung bình và thấp hơn tỷ
lệ mỡ sữa phân tích được trong nghiên cứu của
tác giả Trần Quang Hạnh (2011), sữa bò tươi
nguyên liệu nuôi tại Lâm Đồng có hàm lượng mỡ
sữa trung bình là 3,87%. Theo nghiên cứu của
Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm (2004), sữa
của giống bò lai Sind tại Phù Đổng có tỷ lệ chất
béo 5,89% và tỷ lệ protein 3,47%. Sữa của con
lai F1 (50%) có tỷ lệ mỡ 4,83%, tỷ lệ protein đạt
3,37%. So với nghiên cứu này, nghiên cứu của
chúng tôi có kết quả tỷ lệ đạm cao hơn, nhưng tỷ
lệ mỡ sữa thấp hơn.
Hàm lượng vật chất khô phân tích được
trong sữa tươi lấy tại các nông hộ ngay sau khi
vắt cho giá trị trung bình là 11,82% và tại các
trạm thu gom sữa là 11,78%. Kết quả nghiên
cứu của Lê Thu Hà (2012) cho biết tỷ lệ vật
chất khô của sữa bò tại xã Phù Đổng, huyện Gia
Lâm trung bình là 8,76%. So với kết quả năm
2012, hàm lượng vật chất khô trong sữa bò tươi
tại xã Phù Đổng đã tăng lên. Như vậy có thể
thấy người chăn nuôi đã có sự thay đổi trong
chế độ chăm sóc, chất lượng thức ăn cho bò đã
được cải thiện.
3.2. Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu vi sinh
vật trong sữa bò tươi tại xã Phù Đổng
3.2.1. Kết quả kiểm tra một số vi khuẩn trong
mẫu sữa tươi tại xã Phù Đổng
Kết quả kiểm tra 80 mẫu sữa tươi nguyên
liệu tại xã Phù Đổng được trình bày tại bảng 5.
Bảng 5. Kết quả kiểm tra một số vi khuẩn trong mẫu sữa tươi tại xã Phù Đổng
Nơi lấy
mẫu
Số
mẫu
TSVKHK E. coli Salmonella Staphylococcusaureus
Số mẫu
không đạt
Số lượng
(CFU/ml)
Số mẫu
không đạt
Số lượng
(MPN/ml)
Số mẫu
không đạt
Số mẫu
không đạt
Số lượng
(CFU/ml)
Nông
hộ 40
9
(22,5%)
3,12 x 104 –
3,56 x 106
5
(12,5%) 0 – 16
1
(2,5%)
3
(7,5%)
1,22 x 102 –
1,75 x 103
Trạm
thu
gom
40 17(42,5%)
5,3 x 104 –
2,18 x 107
10
(25%) 0 – 12
2
(5%)
8
(20%)
7,82 x 102 –
6,14 x 103
Tổng
hợp 80
26
(32,5%)
15
(18,75%)
3
(3,75%)
11
(13,75%)
Ghi chú: TSVKHK: Tổng số vi khuẩn hiếu khí
Kết quả xét nghiệm mẫu cho thấy có 26/80
mẫu (chiếm 32,5%) có ô nhiễm vi khuẩn hiếu
khí tổng số vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
(3x105 CFU/ml). Trong đó có 9 mẫu thu thập tại
nông hộ và 17 mẫu thu thập tại các trạm thu gom.
Theo tiêu chuẩn vệ sinh, mật độ vi khuẩn E.
coli trong mẫu sữa tươi là ≤ 3 MPN. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm E. coli vượt quá
chỉ tiêu cho phép là 18,75%. Sữa tại các nông
hộ có 5/40 mẫu không đạt tiêu chuẩn (chiếm
12,5%) và sữa tại các trạm thu gom có 10/40
mẫu không đạt tiêu chuẩn (chiếm 25%).
Đối với thực phẩm tươi sống, đặc biệt là sữa
tươi, việc phát hiện ra vi khuẩn Salmonella đã
phán ảnh tình trạng vệ sinh cũng như bảo quản
chưa đạt yêu cầu. Sự có mặt của Salmonella
trong thực phẩm nói chung và trong sữa nói riêng
cảnh báo rằng thực phẩm đó không an toàn với
sức khỏe con người, chỉ với một lượng rất ít vi
khuẩn Salmonella trong thực phẩm có thể gây
52
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
nên những vụ ngộ độc cấp tính. Vì mức độ nguy
hiểm của Salmonella nên trong quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia Việt Nam (2016) quy định không
được có Salmonella trong 25g thực phẩm. Trong
nghiên cứu này, khi phân tích 80 mẫu sữa tươi đã
phát hiện được 3 mẫu (chiếm tỷ lệ 3,75%) nhiễm
vi khuẩn Salmonella, trong đó có 1 mẫu lấy tại
nông hộ và 2 mẫu lấy tại các trạm thu gom.
Đồng thời tiến hành phân tích vi khuẩn
Staphylococcus aureus, kết quả cho thấy 11/80
mẫu có số lượng vi khuẩn Staphylococcus
aureus vượt quá tiêu chuẩn cho phép (5x102
CFU/ml) (chiếm tỷ lệ 13,75%), trong đó có 3
mẫu thu thập tại các nông hộ và 8 mẫu thu thập
tại các trạm thu gom.
Kết quả trên cho thấy tỷ lệ mẫu sữa không đạt
chỉ tiêu vi sinh vật lấy tại các nông hộ cao hơn so
với mẫu sữa lấy tại các trạm thu gom. Sự sai khác
này có ý nghĩa thống kê được kiểm định Chi -
square, p < 0,05. Điều này cho thấy nguy cơ nhiễm
khuẩn tại các trạm thu gom cao hơn ở các nông hộ.
Thực tế tại các trạm thu gom, sữa từ các nông hộ
chăn nuôi được gom chung vào 1 thùng bảo quản
lạnh. Vì vậy nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn từ hộ cá
thể vào toàn bộ lượng sữa được bảo quản tại trạm
thu gom cũng như trong quá trình vận chuyển sữa
là rất lớn. Bên cạnh đó, nếu dụng cụ chứa đựng,
điều kiện vệ sinh tại các cơ sở thu gom không đảm
bảo sẽ tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật phát triển
nhanh chóng, làm giảm chất lượng sữa tươi.
3.2.2. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng
vi khuẩn phân lập được
Để khẳng định được khả năng gây bệnh của
vi khuẩn E. coli, Salmonella, Staphylococcus
aureus phân lập được từ các mẫu sữa bò tươi
không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, chúng tôi tiến
hành thử độc lực của các chủng vi khuẩn trên
chuột bạch. Mỗi chủng tiêm cho 2 chuột thí
nghiệm, mỗi chuột 0,2ml canh trùng. Đồng thời
chúng tôi cũng tiến hành tiêm 0,2ml nước muối
sinh lý cho chuột đối chứng và nuôi trong cùng
điều kiện. Kết quả được trình bày tại bảng 6.
Bảng 6. Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn phân lập được
Nguồn mẫu
Số
chủng
thử
Số
chuột
tiêm
Kết quả kiểm tra độc lực
Giết chết 100%
số chuột
Giết chết 50%
số chuột
Thời gian
chuột
chết sau
tiêm (h)
Không giết chết
chuột
Số
chủng
Tỷ lệ
(%)
Số
chủng
Tỷ lệ
(%)
Số
chủng
Tỷ lệ
(%)
E. coli 15 30 10 66,67 3 20 12 - 48 2 13,33
Salmonella spp. 3 6 3 100 0 0 12 - 36 0 0
Staphylococcus
aureus 11 22 7 63,63 3 27,27 12 - 48 1 9,1
Các chủng vi khuẩn đều có khả năng gây chết
chuột thí nghiệm sau khoảng thời gian 12 - 48 giờ kể
từ khi gây nhiễm. Vi khuẩn E. coli có 13/15 (chiếm
tỷ lệ 86,67%) số chủng phân lập được gây chết
chuột thí nghiệm, trong đó 66,67% số chủng gây
chết 100% số chuột thí nghiệm và 20% số chủng
gây chết 50% số chuột thí nghiệm. Với vi khuẩn
Salmonella spp., 3 chủng vi khuẩn phân lập được
gây chết 100% số chuột thí nghiệm trong khoảng
thời gian từ 12 - 36 giờ. Vi khuẩn Staphylococcus
aureus có 10/11 (chiếm tỷ lệ 90,9%) chủng gây chết
chuột thí nghiệm, trong đó 63,63% số chủng gây
chết 100% số chuột thí nghiệm và 27,27% số chủng
gây chết 50% số chuột thí nghiệm.
53
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Kết quả phân lập lại vi khuẩn dương tính
100%. Cần thiết phải giám sát chặt chẽ chất
lượng sữa tươi tại nông hộ và tại các trạm thu
gom để loại bỏ ngay các mẫu sữa không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; giảm thiểu các
vụ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ các sản phẩm
sữa nhiễm vi khuẩn E. coli, Salmonella spp.
hoặc Staphylococcus aureus.
IV. KẾT LUẬN
Sữa tươi nguyên liệu tại xã Phù Đổng đảm
bảo tiêu chuẩn chất lượng về các chỉ tiêu cảm
quan, thử cồn, độ mất màu xanh methylen và độ
acid tổng số. Hàm lượng đạm, chất béo và chất
khô trong mẫu sữa phân tích đạt tiêu chuẩn chất
lượng, tuy nhiên giá trị chưa cao.
Phân tích mức độ nhiễm khuẩn trong sữa vẫn
phát hiện tỷ lệ nhất định số mẫu không đạt tiêu
chuẩn, tổng số vi khuẩn hiếu khí vượt 32,5%, E. coli
18,75%, Salmonella spp. 3,75% và Staphylococcus
aureus 13,75%. Các chủng vi khuẩn phân lập được
phần lớn có khả năng gây chết chuột thí nghiệm
trong thời gian từ 12 - 48 giờ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Kim Giao (2007). Chiến lược phát
triển của ngành chăn nuôi Việt Nam giai
đoạn 2008 – 2015 và tầm nhìn 2020. Hội
thảo ngành chăn nuôi Việt Nam sau khi gia
nhập WTO, Hội Chăn Nuôi Việt Nam, Hà
Nội, ngày 6 tháng 12 năm 2007.
2. Lê Thu Hà (2012). Tìm hiểu quá trình thương
mại hóa sản phẩm, đánh giá chất lượng sữa bò
tươi của đàn bò sữa nuôi tại các nông hộ xã Phù
Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Nông
nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
3. Trần Quang Hạnh (2011). Nghiên cứu khả năng
sinh trưởng, sinh sản, năng suất và chất lượng
sữa của bò cái Holstein Friesian thuần HF, các
thế hệ con lai F1, F2 và F3 giữa HF và lai Sind.
Luận án tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm (2004).
Giáo trình chăn nuôi trâu bò. NXB Nông
Nghiệp, Hà Nội.
5. Tiêu chuẩn Việt Nam (1998). Sữa và các sản
phẩm từ sữa - Hướng dẫn lấy mẫu. TCVN
6400:1988 (ISO 707: 1997).
6. Tiêu chuẩn Việt Nam (2001). Xác định độ acid
chuẩn độ. TCVN 6843 - 2001 (ISO 6092:1980).
7. Tiêu chuẩn Việt Nam (1991). Xác định hàm
lượng chất khô và hàm lượng nước. TCVN
5533 – 1991.
8. Tiêu chuẩn Việt Nam (2002). Sữa và sản
phẩm từ sữa. Xác định hàm lượng chất béo.
TCVN 7083 - 2002 (ISO 11870 : 2000).
9. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005). Vi sinh vật
trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi –
Phương pháp định lượng vi sinh vật trên đĩa
thạch. TCVN 4884 - 2005.
10. Tiêu chuẩn Việt Nam (1999). Sữa và sản
phẩm sữa - Định lượng E. coli giả định.
Phần 1: Kỹ thuật đếm số có xác suất lớn
nhất (MPN). TCVN 6505 - 1: 1999 ( ISO
11866/1:1997).
11. Tiêu chuẩn Việt Nam (2007). Sữa và sản
phẩm sữa - Phát hiện Salmonella. TCVN
6402 : 2007 (ISO 6785 : 2001).
12. Tiêu chuẩn Việt Nam (2005). Vi sinh vật trong
thực phẩm và thức ăn chăn nuôi – Phương
pháp định lượng Staphylococci có phản ứng
dương tính với Coagulase (Staphylococcus
aureus và các loại khác) trên đĩa thạch –
Phần 1: Kỹ thuật sử dụng môi trường thạch
Baird-Parker. TCVN 4830 : 2005.
13. Tiêu chuẩn Việt Nam (2004). Sữa tươi
nguyên liệu - Yêu cầu kỹ thuật. TCVN
7405:2004.
Ngày nhận 20-12-2018
Ngày phản biện 15-1-2019
Ngày đăng 1-5-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_chat_luong_sua_bo_tuoi_tai_xa_phu_dong_huyen_gia_la.pdf