Thành trùng bọ xít bắt mồi có khả năng ăn nhiều
nhất và không khác biệt ở nguồn thức ăn là ấu
trùng (229,7 con), thành trùng bọ trĩ (219,9 con).
Tuổi 2 là giai đoạn có khả năng ăn mồi thấp nhất
trong thí nghiệm, ấu trùng bọ xít tuổi 2 ăn trung
bình 77,9 con ấu trùng bọ trĩ trong một giai đoạn,
khi thay đổi thức ăn là thành trùng bọ trĩ thì mức
ăn của chúng xuống thấp (67,3 con). Ấu trùng bọ
xít tuổi 3 và 4 có khả năng ăn mồi không khác
biệt thống kê khi thay đổi nguồn thức ăn là ấu
trùng hay thành trùng bọ trĩ.
Dựa theo kết quả nghiên cứu của Yorn Try và
Nguyễn Văn Đĩnh (2005) về bọ xít bắt mồi Orius
sauteri có vòng đời trung bình 17,1 ngày ở 25 oC,
trong điều kiện nhiệt độ đạt 30 oC thì vòng đời chỉ
còn xấp xỉ 15,43 ngày. So sánh với bọ xít
Macrolophus sp. trong nghiên cứu này thì ta có
thể thấy được, loài Macrolophus sp. có thời gian
sinh trưởng trung bình khoảng 30 ngày trong điều
kiện 28,43 oC, dài gấp đôi so với loài Orius
sauteri. Bên cạnh đó, tuy thành trùng của loài
Macrolophus sp. có mức ăn trung bình trên ngày
(20,1 con ấu trùng bọ trĩ) thấp hơn thành trùng
loài Orius sauteri (22,3 con ấu trùng bọ trĩ) nhưng
bù lại thì thời gian sống của thành trùng
Macrolophus sp. (10 - 12 ngày ở 32,8 oC) nhiều
hơn gấp 4 lần so với loài Orius sauteri (1,75 ngày
ở 30 oC) (Hà Quang Hùng và cs., 2004). Như vậy
loài Macrolophus sp. ở giai đoạn thành trùng có
thời gian sống dài và khả năng ăn bọ trĩ cao đây là
một ưu điểm có giá trị trong việc cân nhắc sử
dụng loài bọ xít Macrolophus sp. trong phòng trừ
sinh học đối với bọ trĩ Thrips palmi.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát đặc điểm sinh học và khả năng bắt mồi của bọ xít macrolophus sp trên bọ trĩ trong điều kiện phòng thí nghiệm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
69
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG BẮT MỒI CỦA BỌ XÍT Macrolophus
sp. TRÊN BỌ TRĨ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
Văng Thị Tuyết Loan1
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 26/12/2018
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
19/03/2019
Ngày chấp nhận đăng:
06/2020
Title:
Biological characteristics and
feeding efficiency of the
predatory Macrolophus sp. on
thrips palmi karny in the lab
room conditions
Keywords:
Predatory bug, Macrolophus
sp., life characteristics, Thrips
plami
Từ khóa:
Bọ xít bắt mồi, Macrolophus
sp., đặc điểm sinh học, Thrips
plami
ABSTRACT
The predatory bug Macrolophus sp. had the highest frequency with 97,73%
in 20 cultivation of cucumber in Cần Đăng commune, Châu Thành district,
An Giang province. The experiment of life cycle of Macrolophus sp. was
observed on 5 adult couples and 10 larvae for each instar including 6
periods: eggs, four stages of larvae and aldult at average temperatures
28,42oC and average humidities 65,25%. The average body length and width
of Macrolophus sp. increased from 1,31 ± 0,14 mm to 2,71 ± 0,13 mm and
from 0,42 ± 0,03 mm to 0,83 ± 0,12 mm. The first instars have a white color,
then turn to yellow color, and from a second instar to adult have a green
color. The life characteristics of the predatory bug Macrolophus sp. were
studied when the bugs were fed with Thrips plami feeding on cucumber plant.
In the laboratory conditions, predation on aphid prey by the 3rd instars, 4th
instars and adult of Macrolophus sp. fed the highest number of both Thrips
plami larvae and adults (18,6 to 20,2 aphids per day). The results showed
that Macrolophus sp. is a potential biological agent to prevent and control
Thrips.
TÓM TẮT
Khảo sát thành phần côn trùng bắt mồi trên 20 hộ canh tác dưa leo tại xã
Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cho thấy bọ xít Macrolophus
sp. là loài côn trùng bắt mồi phổ biến nhất với tần suất xuất hiện là 97,73%.
Về đặc điểm sinh học được khảo sát trên 5 cặp thành trùng và 10 cá thể theo
giai đoạn cho thấy bọ xít Macrolophus sp. gồm 6 giai đoạn: Trứng, 4 tuổi ấu
trùng, thành trùng. Thời gian vòng đời dao động từ 26 – 30 ngày trong điều
kiện nhiệt độ và độ ẩm trung bình là 28,42 oC và 65,25%. Cơ thể bọ xít ở tuổi
một đến thành trùng có kích thước dao động 1,31 ± 0,14 mm đến 2,71 ± 0,13
mm chiều dài và 0,42 ± 0,03 mm đến 0,83 ± 0,12 mm chiều rộng. Ấu trùng
bọ xít mới nở có màu trắng, sau chuyển sang màu vàng, từ tuổi 2 trở đi thì
chúng có màu xanh lá. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, bọ xít
Macrolophus sp. tuổi 3, 4 và thành trùng có khả năng tiêu thụ con mồi ở giai
đoạn ấu trùng và thành trùng cao (18,6 con đến 20,2 con mồi). Từ kết quả thí
nghiệm cho thấy bọ xít Macrolophus sp. là loài thiên địch có tiềm năng
phòng trừ bọ trĩ Thrips plami.
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
70
1. GIỚI THIỆU
Cây dưa leo là một loại cây trồng mang lại giá trị
kinh tế cao vì nó vừa là mặt hàng tiêu thụ quan
trọng trong nước vừa là mặt hàng xuất khẩu ra
nước ngoài. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác
bà con nông dân gặp nhiều khó khăn do dịch hại
diễn biến ngày càng nghiêm trọng. Trong các loài
côn trùng gây hại trên dưa leo thì bọ trĩ Thrips
palmi là loài dịch hại nguy hiểm, khó kiểm soát
vì chúng có tỷ lệ sinh sản cao, ít nhạy cảm đối với
thuốc hóa học và phổ ký chủ rộng (Hong và cs.,
1998). Trong các biện pháp sử dụng quản lý dịch
hại thì kiểm soát sinh học bằng thiên địch bắt mồi
Macrolophus được cho là có nhiều tiềm năng
(Lykouressis và cs., 2000). Macrolophus sp.
(Heteroptera: Miridae) là loài côn trùng săn mồi
đa thực đã được chứng minh là có hiệu quả trong
việc kiểm soát nhiều loại côn trùng gây hại như
rầy phấn trắng, rầy mềm, nhện đỏ và bọ trĩ
(Malausa, 1996; Berengere, 1996). Tuy nhiên, đặc
điểm sinh học và khả năng ăn mồi lại bị ảnh
hưởng bởi điều kiện môi trường và nguồn thức ăn
(Neil Helyer và cs., 2014). Trong điều kiện canh
tác dưa leo tại Việt Nam nói chung và tại huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang nói riêng thì các
thông số về đặc điểm sinh học và khả năng bắt
mồi của Macrolophus còn nhiều hạn chế; do đó
“Khảo sát đặc điểm sinh học và khả năng bắt
mồi của bọ xít Macrolophus sp. trên bọ trĩ
trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực
hiện để cung cấp dữ liệu xây dựng biện pháp kiểm
soát bọ trĩ gây hại trên cây trồng sau này tại An
Giang.
2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện nghiên cứu
Dụng cụ và thiết bị: Hộp nhựa, máy đo nhiệt độ,
ẩm độ phòng, kính soi nổi, máy ảnh,...
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát thành phần côn trùng thiên địch
bắt mồi trên cây dưa leo tại xã Cần Đăng,
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Thành phần côn trùng thiên địch bắt mồi trên
ruộng dưa leo được điều tra một lần ở 20 ruộng
trong giai đoạn cây đang cho trái (từ 30 – 45 ngày
tuổi). Mỗi ruộng điều tra 5 điểm theo đường chéo
góc, mỗi điểm điều tra có diện tích là 01 m2. Quan
sát các loài thiên địch xuất hiện trong diện tích
điều tra, ghi nhận và tính tần suất xuất hiện theo
công thức:
TS (%) = (ti/T) x 100%
Trong đó: TS: Tần suất xuất hiện.
ti: Số mẫu thu được của loài i.
T: Tổng số mẫu thu được trong
đợt điều tra.
Thang đánh giá mức độ phổ biến: -: Rất ít phổ
biến (tần suất xuất hiện < 5%); +: Ít phổ biến (tần
suất xuất hiện từ 5 - 20%); ++: Phổ biến (tần suất
xuất hiện từ 21 – 50%); +++: Rất phổ biến (tần
suất xuất hiện > 50%) (Lê Thị Điểu và Nguyễn
Văn Huỳnh, 2009).
2.2.2 Khảo sát thời gian sinh trưởng của bọ xít
bắt mồi Macrolophus sp.
Ấu trùng tuổi 4 của bọ xít bắt mồi Macrolophus
sp. được thu ngoài tự nhiên đem về phòng thí
nghiệm và tiến hành nhân nuôi thành thành trùng.
Khảo sát vòng đời của bọ xít bắt mồi
Macrolophus sp. trên 5 cặp ở giai đoạn thành
trùng và 10 cá thể tương ứng với từng giai đoạn
ấu trùng, cung cấp đầy đủ thức ăn là bọ trĩ Thrips
palmi.
Các chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sinh trưởng của
từng giai đoạn (bắt cặp đến trứng nở, các tuổi của
ấu trùng và thành trùng) (Mohd Rasdi, 2009). Ghi
nhận nhiệt độ và ẩm độ trong quá trình khảo sát.
2.2.3 Khảo sát khả năng ăn bọ trĩ Thrips palmi
của bọ xít Macrolophus sp. trong điều kiện
phòng thí nghiệm
- Nguồn bọ xít Macrolophus sp.: Thu thành
trùng bọ xít Macrolophus sp. từ ngoài ruộng
về nuôi trong hộp nhựa tại phòng thí nghiệm
bằng thức ăn là bọ trĩ Thrips palmi cho đến khi
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
71
đẻ trứng. Trứng phát triển thành ấu trùng và
thành trùng cho đến khi đủ số lượng thì chọn
các cá thể khỏe mạnh đồng đều sử dụng bố trí
thí nghiệm.
- Nguồn thức ăn: Bọ trĩ Thrips palmi được nuôi
và nhân mật số trên cây dưa leo đến khi đủ số
lượng làm thức ăn cung cấp cho thực hiện thí
nghiệm.
- Dụng cụ nuôi: Sử dụng ly nhựa có nắp với
kích thước 9,5 x 5 x 14,5 cm, trên nắp có khe
thoát khí được che lại bằng lưới mịn và bên
trong có lá dưa leo làm nguồn thức cho bọ trĩ.
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo
kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức và 3
lần lặp lại (Bảng 1). Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp
lại, mỗi lặp lại tương ứng 5 cá thể bọ xít. Mỗi cá
thể bọ xít bắt mồi được nuôi trong từng hộp riêng
lẻ và cung cấp 30 con mồi trên lá dưa leo mỗi
ngày. Nguồn thức ăn được cho đồng đều vào từng
hộp và duy trì không đổi trong quá trình khảo sát.
Bảng 1. Các nghiệm thức sử dụng trong thí nghiệm khảo sát khả năng bắt mồi của bọ xít Macrolophus sp.
ở điều kiện phòng thí nghiệm
Nghiệm thức Nội dung
T2-AT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 2 ăn ấu trùng bọ trĩ.
T3-AT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 3 ăn ấu trùng bọ trĩ.
T4-AT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 4 ăn ấu trùng bọ trĩ.
TT-AT Thành trùng bọ xít bắt mồi ăn ấu trùng rầy bọ trĩ.
T2-TT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 2 ăn thành trùng bọ trĩ.
T3-TT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 3 ăn thành trùng bọ trĩ.
T4-TT Ấu trùng bọ xít bắt mồi tuổi 4 ăn thành trùng bọ trĩ.
TT-TT Thành trùng bọ xít bắt mồi ăn thành trùng bọ trĩ.
Số liệu thu thập: Ghi nhận số lượng con mồi còn sống mỗi ngày đến kết thúc từng giai đoạn phát triển.
Phân tích số liệu: Số liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS20.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khảo sát thành phần côn trùng thiên địch
bắt mồi trên cây dưa leo tại xã Cần Đăng,
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Kết quả khảo sát thành phần côn trùng thiên địch
bắt mồi trên cây dưa leo thuộc xã Cần Đăng,
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang (Bảng 2) cho
thấy thiên địch bắt mồi trên côn trùng hại dưa leo
khá đa dạng có 3 loài thuộc lớp nhện (1,03%) và 3
loài thuộc lớp côn trùng. Côn trùng thiên địch là
bọ xít Macrolophus sp. (Miridae), kiến sư tử
Distoleon tetragrammicus (Myrmeleontidae) và
bọ rùa vàng Micraspis crocea (Coccinellidae)
thuộc bộ cánh nửa cứng (Hemiptera), cánh màng
(Neuroptera) và bộ cánh cứng (Coleoptera). Trong
đó, bọ xít Macrolophus sp. có mức độ phổ biến và
tần suất xuất hiện cao nhất (97,73%). Hai loài,
kiến sư tử Distoleon tetragrammicus (1,17%) và
bọ rùa vàng Micraspis crocea (0,07%) có mức độ
phổ biến và tấn suất xuất hiện thấp hơn. Từ kết
quả khảo sát chứng tỏ bọ xít Macrolophus sp. là
loài thiên địch có số lượng nhiều và nó cũng là
loài có tiềm năng kiểm soát côn trùng gây hại trên
cây dưa leo tại khu vực điều tra.
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
72
Bảng 2. Thành phần côn trùng và nhện thiên địch bắt mồi trên ruộng dưa leo
tại xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
STT
Thiên địch TSXH
(%)
MĐPB
Loài Họ Bộ
1
Bọ xít bắt mồi
(Macrolophus sp.)
Miridae Hemiptera 97,73 +++
2
Kiến sư tử
(Distoleon
tetragrammicus)
Myrmeleontidae Neuroptera 1,17 -
3
Bọ rùa vàng
(Micraspis crocea)
Coccinellidae Coleoptera 0,07 -
4 Nhện bắt mồi - - 1,03 -
(n = 20)
Ghi chú: - : Rất ít phổ biến (tần suất xuất hiện < 5%; +: Ít phổ biến (tần suất xuất hiện từ 5 - 20%); ++: Phổ biến (tần
suất xuất hiện từ 21 – 50%); +++: Rất phổ biến (tần suất xuất hiện > 50%)
A
F E D
C B
Hình 1. Các loài thiên địch xuất hiện trên ruộng dưa leo trong quá trình điều tra:
Bọ xít bắt mồi (A), Kiến sư tử (B), Bọ rùa vàng (C), Nhện bắt mồi (D, E, F).
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
73
3.3 Khảo sát thời gian sinh trưởng của bọ xít
bắt mồi Macrolophus sp.
Khảo sát thời gian sinh trưởng của bọ xít
Macrolophus sp. được tiến hành trong điều kiện
phòng thí nghiệm có nhiệt độ trung bình là 28,42
oC và ẩm độ trung bình là 65,25% cho kết quả thể
hiện ở bảng 3 như sau:
- Trứng: Có kích thước rất nhỏ, màu trắng sữa,
hơi tròn và được đẻ rải rác dọc theo gân chính
ở mặt dưới lá.
- Ấu trùng tuổi 1: Có kích thước cơ thể rất nhỏ
(chiều dài và rộng cơ thể lần lượt là 1,31 ±
0,14 mm và 0,42 ± 0,03 mm), ấu trùng mới nở
có màu trắng hơi trong, sau chuyển sang vàng
nhạt và có mắt đỏ.
- Ấu trùng tuổi 2: Cơ thể chuyển sang màu xanh
lá, kích thước cơ thể phát triển nhanh (1,95 ±
0,14 mm và 0,58 ± 0,05 mm).
- Ấu trùng tuổi 3: Có kích thước trung bình, mắt
đỏ (2,22 ± 0,26 mm và 0,80 ± 0,20 mm).
- Ấu trùng tuổi 4: Có chiều ngang cơ thể lớn,
mắt đỏ, xuất hiện mầm cánh màu trắng hoặc
hơi nâu đen (2,55 ± 0,15 mm và 0,84 ± 0,05
mm).
- Thành trùng: Cơ thể có màu xanh, thon dài
(chiều dài và rộng cơ thể lần lượt là 2,71 ±
0,13 mm và 0,83 ± 0,12 mm) mắt đen to, cánh
dài màu trắng và trên cánh có 4 đốm đen hình
tam giác (mỗi cánh 2 đốm), khi khép cánh lại
trông như có đường nối các đốm tam giác lại
với nhau.
Theo Neil Helyer và cs. (2014), Perdikis và
Lykouressis (2002) thì thời gian vòng đời của
Macrolophus pygmaeus thay đổi theo nhiệt độ,
thời gian vòng đời dài ở nhiệt độ thấp và ngắn khi
ở nhiệt độ cao. Khi Macrolophus pygmaeus được
nuôi bằng côn trùng gây hại trên họ Solanaceae
hay Compositae ở nhiệt độ 25 oC và ẩm độ 77%
thì vòng đời của chúng là 30 ngày. Tuy nhiên, khi
nhiệt độ giảm ở mức 20 oC với cùng mức ẩm độ
thì vòng đời dài hơn là 50 ngày. Bên cạnh đó, khi
nuôi Macrolophus pygmaeus bằng rầy phấn trắng
thì thời gian vòng đời chỉ còn 22 ngày (T-25 oC,
H-77%). Kết quả thí nghiệm này cho thấy
Macrolophus sp. có thời gian vòng đời dài (24 -
30 ngày) với con mồi là bọ trĩ ở nhiệt độ khá cao
(T-28,4 oC, H-65,3%) đây là một đặc điểm sinh
học tốt cho việc sử dụng làm tác nhân sinh học.
Bảng 3. Thời gian và kích thước cơ thể bọ xít Macrolophus sp. qua các giai đoạn sinh trưởng
Giai đoạn sinh trưởng
Thời gian
phát triển (ngày)
Chiều dài
cơ thể (mm)
Chiều rộng
cơ thể (mm)
Trứng 2 - 3 - -
Ấu trùng tuổi 1 2 - 3 1,31 ± 0,14 0,42 ± 0,03
Ấu trùng tuổi 2 4 - 5 1,95 ± 0,14 0,58 ± 0,05
Ấu trùng tuổi 3 4 - 5 2,22 ± 0,26 0,80 ± 0,20
Ấu trùng tuổi 4 4 - 5 2,55 ± 0,15 0,84 ± 0,05
Thành trùng 10 - 12 2,71 ± 0,13 0,83 ± 0,12
(n = 10)
3.4 Khả năng ăn mồi của bọ xít Macrolophus
sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm
Kết quả khảo sát khả năng ăn mồi của bọ xít
Macrolophus sp. trong điều kiện phòng thí
nghiệm có nhiệt độ trung bình 28,42 oC và ẩm độ
trung bình 65,25% (Bảng 4) cho thấy các nghiệm
thức ấu trùng tuổi 3, 4 và thành trùng khi cho ăn
bọ trĩ ở giai đoạn ấu trùng hay thành trùng đều có
khả năng ăn mồi cao như nhau (từ 18,6 đến 20,2
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
74
con), các nghiệm thức này khác biệt ý nghĩa thống
kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức ấu trùng
tuổi 2 ăn thành trùng (15,5 con/ngày) và ấu trùng
bọ trĩ tương ứng (13,5 con/ngày). Từ đó cho thấy
khả năng ăn mồi của bọ xít ở hai tuổi cuối và giai
đoạn thành trùng không khác biệt.
Do thời gian phát triển ở từng giai đoạn của bọ
xít Macrolophus sp. không đồng đều, nên thời
gian khảo sát tùy thuộc vào từng giai đoạn phát
triển. Đối với ấu trùng tuổi 2, 3, 4 thì thời gian
phát triển trung bình là 5 ngày, riêng đối với thành
trùng thì thời gian phát triển trung bình là 12
ngày. Kết quả thí nghiệm được trình bày ở Bảng 5
về khả năng ăn mồi trung bình trên từng giai đoạn
phát triển của bọ xít bắt mồi với nguồn thức ăn bọ
trĩ Thrips palmi trong điều kiện phòng thí nghiệm,
cho thấy có sự khác biệt về khả năng ăn mồi của
thành trùng bọ xít Macrolophus sp. so với ấu
trùng tuổi 3, 4 và ấu trùng tuổi 2 ở mức ý nghĩa
1% ở cả giai đoạn con mồi là ấu trùng hay thành
trùng.
Bảng 4. Khả năng bắt mồi của bọ xít Macrolophus sp. trên bọ trĩ Thrips palmi trong điều kiện phòng thí nghiệm
(H = 46,35%; T = 30,61 oC)
Nghiệm thức Số lượng bọ trĩ
trung bình/ngày (con)
Số lượng bọ trĩ
trung bình/giai đoạn (con)
T2-AT 15,5 b 77,9 c
T3-AT 20,2 a 101,7 b
T4-AT 19,4 a 97,0 b
TT-AT 20,1 a 229,7 a
T2-TT 13,5 c 67,3 c
T3-TT 18,6 a 93,1 b
T4-TT 19,5 a 97,7 b
TT-TT 18,9 a 219,9 a
CV % 5,18 6,02
Mức ý nghĩa ** **
Ghi chú: Số lượng con mồi được sử dụng cho ấu trùng tuổi 2,3,4 và thành trùng bọ xít bắt mồi Macrolophus sp. được thể
hiện từ cao đến thấp theo thứ tự a, b, c. Trong cùng 1 cột các số có cùng chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt ở
mức ý nghĩa 1% theo phép thử DUNCAN. ** Khác biệt ở mức ý nghĩa 1%.
Thành trùng bọ xít bắt mồi có khả năng ăn nhiều
nhất và không khác biệt ở nguồn thức ăn là ấu
trùng (229,7 con), thành trùng bọ trĩ (219,9 con).
Tuổi 2 là giai đoạn có khả năng ăn mồi thấp nhất
trong thí nghiệm, ấu trùng bọ xít tuổi 2 ăn trung
bình 77,9 con ấu trùng bọ trĩ trong một giai đoạn,
khi thay đổi thức ăn là thành trùng bọ trĩ thì mức
ăn của chúng xuống thấp (67,3 con). Ấu trùng bọ
xít tuổi 3 và 4 có khả năng ăn mồi không khác
biệt thống kê khi thay đổi nguồn thức ăn là ấu
trùng hay thành trùng bọ trĩ.
Dựa theo kết quả nghiên cứu của Yorn Try và
Nguyễn Văn Đĩnh (2005) về bọ xít bắt mồi Orius
sauteri có vòng đời trung bình 17,1 ngày ở 25 oC,
trong điều kiện nhiệt độ đạt 30 oC thì vòng đời chỉ
còn xấp xỉ 15,43 ngày. So sánh với bọ xít
Macrolophus sp. trong nghiên cứu này thì ta có
thể thấy được, loài Macrolophus sp. có thời gian
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
75
sinh trưởng trung bình khoảng 30 ngày trong điều
kiện 28,43 oC, dài gấp đôi so với loài Orius
sauteri. Bên cạnh đó, tuy thành trùng của loài
Macrolophus sp. có mức ăn trung bình trên ngày
(20,1 con ấu trùng bọ trĩ) thấp hơn thành trùng
loài Orius sauteri (22,3 con ấu trùng bọ trĩ) nhưng
bù lại thì thời gian sống của thành trùng
Macrolophus sp. (10 - 12 ngày ở 32,8 oC) nhiều
hơn gấp 4 lần so với loài Orius sauteri (1,75 ngày
ở 30 oC) (Hà Quang Hùng và cs., 2004). Như vậy
loài Macrolophus sp. ở giai đoạn thành trùng có
thời gian sống dài và khả năng ăn bọ trĩ cao đây là
một ưu điểm có giá trị trong việc cân nhắc sử
dụng loài bọ xít Macrolophus sp. trong phòng trừ
sinh học đối với bọ trĩ Thrips palmi.
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Loài bọ xít Macrolophus sp. là loài thiên địch bắt
mồi phổ biến trên côn trùng gây hại trên cây dưa
leo được khảo sát tại xã Cần Đăng, huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang và có thời gian vòng đời
khá dài cùng với khả năng tiêu thụ con mồi cao ở
giai đoạn thành trùng giúp cho Macrolophus sp.
trở thành loài côn trùng bắt mồi tiềm năng, kiểm
soát bọ trĩ Thrips palmi trong điều kiện canh tác
dưa leo tại địa bản tỉnh An Giang.
Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ là cơ sở ban đầu
về khả năng ăn mồi của bọ xít bắt mồi
Macrolophus sp. đối với bọ trĩ Thrips palmi. Cần
thực hiện thêm những thí nghiệm khảo sát khả
năng ăn mồi của bọ xít Macrolophus sp. đối với
các loài côn trùng gây hại khác. Và quan trọng
nhất là thí nghiệm khảo sát khả năng tự bắt mồi và
hiệu quả khống chế con mồi của bọ xít
Macrolophus sp. ở điều kiện ngoài đồng thông
qua khảo sát năng suất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Berengere, C., Grenier, S., & Bonnot, G. (1996).
Artificial substrate for egg laying and
embryonic development by the Predatory bug
Macrolophus caliginosus (Heteroptera:
Miridae). 20 Avenue Albert Einstein, 69621,
Villeurbanne Cedex, France. Volume 7, Issue
2. 140-147.
Hà Quang Hùng., Yorn Try., & Nguyễn Thanh
Hải. (2004). Nghiên cứu sử dụng bọ xít bắt
mồi Orius sauteri (Poppius) phòng chống bọ
trĩ Thrips palmi Karny hại dưa chuột vụ Hè
Thu 2004 tại Gia Lâm Hà Nội. Hội thảo quốc
gia về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ
nhất, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội.
Hong, KJ., M.L. Lee, M.J. Han, S.B. Ahn, I.S.
Kim, G.H. Lee., & D.S. Ku. (1998).
Distribution and host plants of recently
introduced palm thrips, Thrips palmi Karny
(Thysanoptera: Thripidae) in Korea. RDA J.
Crop Prot. 40: 89-95.
Lykouressis, D.P., Perdikis, D.C., & Tsagarakis,
A. (2000). Polyphagous mirids in Greece: host
plants and abundance in traps placed is some
crops. Bollettino del Laboratorio di
Entomologia agraria Filippo Silvestri 56, 57–
68.
Lê Thị Điểu., và Nguyễn Văn Huỳnh. (2009).
Điều tra thành phần loài sâu hại, thiên địch và
ruồi đục trái trên cây Thanh long tại tỉnh Long
An. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần
Thơ. 1-10.
Malausa, J.C., & Trottin, C.Y. (1996). Adavances
in the Strategy of Use of the Predaceous Bug
Macrolophus caliginosus (Heteroptera:
Miridae) in Glasshouse Crops. Thomas Say
Publ. Entomol., Lanham, MD (1996). 178-
189.
Mohd Rasdi, Z., Fauziah, I., & Wan Mohamad,
W.A.K. Biology of Macrolophus caliginosus
(Heteroptera: Miridae) Predator of
Trialeurodes vaporariorum (Homoptera:
Aleyrodidae). International journal of Biology.
Volume1, Issue 2. 63-70.
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 26 (3), 69 – 76
76
Neil Helyer, Nigel, D. Cattlin., & Kevin, C.
Brown. (2014). Biological control in plant
protection. New York: CRC Press.
Perdikis, D. C., & Dionyssios P. Lykouressis.
(2002). Life table and biological
characteristics of Macrolophus pygmaeus
when feeding on Myzus persicae and
Trialeurodes vaporariorum. Kluwer Academic
Publishers. Entomologia Experimentalis et
Applicata. 267-272.
Yorn Try., & Nguyễn Văn Đĩnh. (2005). Thử
nghiệm khả năng khống chế quần thể bọ trĩ
Thrips palmi Karny của bọ xít bắt mồi Orius
sauteri Poppius trên dưa chuột tại xã Đặng Xá
vụ Xuân Hè năm 2005. Hội thảo KHCN quản
lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền
vững ở Việt Nam.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_dac_diem_sinh_hoc_va_kha_nang_bat_moi_cua_bo_xit_ma.pdf