Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa và khả năng hạ đường huyết của dâm bụt (hibiscus rosa-Sinensis L) trên mô hình chuột nhắt trắng (mus musculus var. albino) bị tiểu đường

4. Kết luận và kiến nghị 4.1. Kết luận Đề tài đã xác định: - Nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt đều thể hiện khả năng kháng oxy hóa ở phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH. Cụ thể: + Giá trị IC50 của nước sắc hoa là: 0,119% ± 0,023; + Giá trị IC50 của nước sắc lá là: 0,418% ± 0,078; + Giá trị IC50 của nước sắc rễ là: 7,318% ± 0,982. Trong đó, nước sắc hoa thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa tốt nhất ở phương phân hủy gốc tự do DPPH với giá trị IC50 thấp nhất. - Tại nồng độ khảo sát (0,119%), nước sắc hoa có tác dụng hạ đường huyếttừ 220,4 mg/dl xuống 186,5 mg/dl trên mô hình chuột nhắt trắng tiểu đường gây ra bởi Streptozotocin sau 14 ngày khảo sát. 4.2. Kiến nghị - Tiến hành khảo sát khả năng hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt ở nồng độ cao hơn, thời gian dài hơn. - Nghiên cứu cơ chế hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt trên mô hình động vật bị tiểu đường.

pdf11 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa và khả năng hạ đường huyết của dâm bụt (hibiscus rosa-Sinensis L) trên mô hình chuột nhắt trắng (mus musculus var. albino) bị tiểu đường, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Năm học 2015 - 2016 17 KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA VÀ KHẢ NĂNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA DÂM BỤT (Hibiscus rosa-sinensis L.) TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT NHẮT TRẮNG (Mus musculus var. albino) BỊ TIỂU ĐƯỜNG Nguyễn Minh Chí, Nguyễn Thị Lệ Giang, Phạm Thị Ngọc Liễu, Trương Đình Phước, Trần Thị Thương (Sinh viên năm 4, 3, Khoa Sinh học) GVHD: ThS Nguyễn Thị Hằng TÓM TẮT Chúng tôi sử dụng phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH để khảo sát khả năng kháng oxy hóa in vitro của nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt. Đồng thời, khả năng hạ đường huyết được xác định trên mô hình chuột nhắt trắng bị tiểu đường bởi Streptozotocin. Đề tài đã xác định được giá trị IC50 của nước sắc hoa, lá, rễ lần lượt là: 0,119% ± 0,.023; 0,418%±0,078; 7,318%±0,982 (sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với α=0,05). Tại nồng độ 0,119%, nước sắc hoa có khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột in vivo từ 220,4 mg/dl xuống 186,5 mg/dl sau 14 ngày khảo sát. ABSTRACT In the study, the antioxidant properties of decoctions from flowers, leaves, and roots of Hibiscus rosa-sinensis L. was investigated by DPPH free radical scavenging activity assay in vitro. The hypoglycemic activity was defined in streptozotocin induced diabetic rats. The decoctions from the flowers, leaves, and roots possess significant IC50 values 0.23 ± 0.119%, 0.418% ± 0.078, and 7.318% ± 0.982, respectively. Administrations of decoction from the flowers of Hibiscus in concentrations of 0.119% in the treated group possess hypoglycemia from 220.,4 mg/dL to 186.5 mg/dl after 14 days in streptozotocin induced diabetic rats in vivo. 1. Mở đầu Trong cơ thể, oxy tham gia vào các phản ứng oxy hóa – khử tạo ra những phân tử trung gian gọi là các gốc oxy hoạt động (Reactive oxygen species – ROS). Ở một nồng độ nhất định, ROS cung cấp năng lượng cho cơ thể, tham gia vào quá trình tổng hợp sắc tố melamine, tham gia vào đường truyền tín hiệu hoạt hóa insulin. Ở nồng độ cao, các gốc ROS không được kiểm soát sẽ dễ dàng phản ứng với các đại phân tử như DNA, protein, lipid gây rối loạn quá trình sinh hóa trong cơ thể. Đồng thời, chúng có thể gây ra sự chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào đảo tụy, ức chế sự biểu hiện của các gen sản xuất insulin, làm sai lệch quá trình truyền đạt tín hiệu hoạt hóa insulin. Hậu quả dẫn đến việc kháng insulin, làm sai lệch chức năng của tế bào đảo tụy gây ra bệnh tiểu đường [4]. Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH 18 Theo một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Rajesh Mandade và cộng sự (2011), Falguni Sheth và Subrata De (2012), Deepa Garg và cộng sự (2012), Mirunalini Sankaran, Arulmozhi Vadivel (2011) đã chứng minh Dâm bụt có khả năng kháng oxy hóa và hạ đường huyết trên mô hình chuột. Đồng thời, theo Đông y, Dâm bụt còn có tác dụng trị viêm niêm mạc dạ dày, mất ngủ, mộng tinh, tiểu đường, đại tiện ra máu. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học về ứng dụng của loại dược liệu này trong nước còn chưa sáng tỏ. Dựa trên những dẫn liệu của Đông y và các nghiên cứu ngoài nước đã tiến hành, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này với mong muốn góp phần cung cấp những dẫn liệu khoa học về dược lí để ứng dụng trong y học và làm tiền đề cho các nghiên cứu về sau. Vì vậy, chúng tôi tiến hành xác định khả năng kháng oxy hóa và khả năng hạ đường huyết của Dâm bụt trên mô hình chuột nhắt trắng bị tiểu đường. 2. Mục tiêu, phạm vi, mẫu vật và phương pháp nghiên cứu 2.1. Mục tiêu Đề tài tiến hành khảo sát khả năng kháng oxy hóa của nước sắc Dâm bụt và khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột nhắt trắng in vivo. 2.2. Phạm vi nghiên cứu Để khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa, đề tài sử dụng phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt. Để xác định khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột nhắt trắng bị tiểu đường bởi Streptozotocin, đề tài sử dụng giá trị IC50 của nước sắc có hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất. 2.3. Mẫu vật và hóa chất Dâm bụt được thu nhận bao gồm: hoa, lá, rễ tại huyện Cần Giờ - TPHCM, được định danh theo Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam (Võ Văn Chi, 2007) [1]. Mẫu được rửa sạch, sấy khô ở 500C đến khi trọng lượng không đổi, được bảo quản tại nơi khô ráo, thoáng mát tại Phòng Thí nghiệm Di truyền - Thực vật Trường Đại học Sư phạm TPHCM. Chuột nhắt trắng (20 – 30 g) được mua tại Viện Pasteur - TPHCM, được nuôi ổn định tại Phòng Thí nghiệm Di truyền - Thực vật. DPPH (2-2 diphenyl-1-picylhydrazyl) (Sigma) pha trong methanol đạt nồng độ 0,8 mM, bảo quản 40C. Acid ascorbic (Sigma) pha trong nước cất đạt nồng độ 15 g/ml. Streptozotocin (Sigma) pha trong dung dịch đệm citrate đạt nồng độ 100 mg/kg b.w. 2.4. Phương pháp Năm học 2015 - 2016 19 2.4.1. Phương pháp thu nhận nước sắc (theo Hồ Huỳnh Thùy Dương, 2003) 10 g mẫu khô (hoa, lá, rễ) được ngâm với nước cất hai lần trong 15 phút. Loại nước, bổ sung thêm 500 ml nước cất hai lần, cô trong 3 giờ ở nhiệt độ 70 – 800C. Nước sắc thu nhận được ly tâm ở 3000 vòng/phút, 10 phút để loại cặn, được cô ở nhiệt độ 50 – 600C cho tới khi đạt tỉ lệ 1 g mẫu khô : 1ml nước sắc. Nước sắc này xem như có nồng độ 100% và được pha loãng thành các nồng độ khác nhau để tiến hành khảo sát khả năng kháng oxy hóa [2]. 2.4.2. Phương pháp thử hoạt tính phân hủy gốc tự do DPPH (Brand Williams, 1995) Các chất có khả năng kháng oxy hóa sẽ trung hòa gốc DPPH bằng cách cho H+, màu của dung dịch phản ứng sẽ nhạt dần, từ màu tím thành vàng cam. Cường độ màu được xác định bằng cách đo mật độ quang ở bước sóng 517 nm. Giá trị mật độ quang OD càng thấp chứng tỏ khả năng phân hủy gốc tự do DPPH càng cao. Quy trình thí nghiệm thực hiện như sau: Bổ sung 5 ml DPPH (0,8 mM, pha trong methanol) vào mỗi ống nghiệm đã chứa 1 ml nước sắc tại các nồng độ khác nhau. Ủ 30 phút trong điều kiện không có ánh sáng, sau đó, tiến hành đo mật độ quang OD tại bước sóng 517 nm. Giá trị mật độ quang OD phản ánh khả năng kháng oxy hóa của mẫu. Chứng dương trong thí nghiệm là acid ascorbic (15 g/ml), chứng âm là nước cất hai lần. Tỉ lệ phần trăm hoạt tính kháng oxy hóa được xác định theo công thức sau: Trong đó: %HTKO: tỉ lệ phần trăm kháng oxy hóa của mẫu theo phương pháp DPPH; ODm: giá trị mật độ quang OD của mẫu thử; ODc: giá trị mật độ quang OD của chứng âm. 2.4.3. Phương pháp gây tiểu đường bằng Streptozotocin Chuột nhắt trắng được nuôi ở phòng thí nghiệm có khối lượng 20 – 30 g. Trước khi gây tiểu đường bằng Streptozotocin, chuột được nhịn đói 8 giờ. Tiêm vào màng bụng của chuột Streptozotocin (100 mg/kg b.w) pha trong dung dịch đệm citrate (0,1 M, pH = 4,5). Chuột được uống sucrose 10% qua đêm để tránh hiện tượng sốc thuốc [3]. Kiểm tra đường huyết chuột sau 3 ngày và 7 ngày tiêm Streptozotocin. Những chuột có giá trị nồng độ đường huyết > 200 mg/dl được sử dụng để tiến hành khảo sát khả năng hạ đường huyết của Dâm bụt. 2.4.4. Phương pháp khảo sát khả năng hạ đường huyết của nước sắc Dâm bụt trên mô hình chuột tiểu đường Để xác định khả năng hạ đường huyết của nước sắc Dâm bụt trên mô hình chuột in vivo, các nghiệm thức trong đề tài được bố trí như sau: Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH 20 Lô đối chứng: 10 chuột (20 – 30 g) đã gây tiểu đường bởi Streptozotocin có giá trị đường huyết trên 200 mg/dl, không được tiêm nước sắc Dâm bụt, được cho ăn bình thường. Lô thí nghiệm: 10 chuột (20 – 30 g) đã gây tiểu đường bởi Streptozotocin có giá trị đường huyết trên 200 mg/dl, được tiêm 0,5 ml nước sắc Dâm bụt tại nồng độ là giá trị IC50 thấp nhất (trong thử nghiệm khảo sát khả năng kháng oxy hóa theo phương pháp DPPH ở trên), được cho ăn bình thường, theo dõi đường huyết sau 7 ngày và 14 ngày tiêm. 2.4.5. Phương pháp xử lí số liệu Tất cả các số liệu của đề tài được xử lí trên phần mềm Microsoft Excel 2013 và phần mềm thống kê SPSS 20.0. 3. Kết quả và bàn luận 3.1. Khả năng kháng oxy hóa của Dâm bụt theo phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH 3.1.1. Khả năng kháng oxy hóa của nước sắc hoa Dâm bụt theo phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH Nước sắc hoa Dâm bụt được khảo sát khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH ở nồng độ từ 0,1% đến 1%. Chứng dương là acid ascorbic (15 µg/ml), chứng âm là nước cất hai lần. Thí nghiệm lặp lại ba lần. Kết quả về khả năng kháng oxy hóa của nước sắc hoa Dâm bụt được thể hiện qua bảng 1. Bảng 1. Tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc hoa Nồng độ (%) %HTKO nước sắc hoa 0 0,000a ± 0,000 0,1 44,888b ± 6,827 0,2 72,470c ± 7,005 0,4 90,520d ± 4,861 0,6 91,812d ± 2,239 0,8 89,558d ± 2,122 1 87,535d ± 3,284 Acid ascorbic (15 µg/ml) 51,079 ± 1,803 Ghi chú: - a, b, c, d: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo hàng dọc với mức ý nghĩa α = 0,05. Theo bảng 1, chúng tôi nhận thấy từ nồng độ 0,1% đến 0,4%, (%) HTKO của nước sắc hoa tăng dần theo chiều tăng nồng độ. Cụ thể (%) HTKO tăng từ 44,888% lên 90,520%, sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Tuy nhiên, từ nồng độ 0,4% đến 1%, tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH không có sự khác biệt về mặt thống kê. Đồng thời, mối tương quan giữa tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH và nồng độ nước sắc được minh họa qua đồ thị (theo hình 1). Năm học 2015 - 2016 21 Hình 1. Đồ thị tỉ lệ phần trăm HTKO của nước sắc hoa Theo hình 1, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH tăng theo chiều tăng nồng độ (từ nồng độ 0,1% đến 0,4%). Tuy nhiên, từ nồng độ 0,6% đến 1%, tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH không có sự thay đổi so với nồng độ 0,4%. Chúng tôi xác định được giá trị IC50 của nước sắc hoa Dâm bụt là 0,119% ± 0,023. 3.1.2. Khả năng kháng oxy hóa của nước sắc lá Dâm bụt theo phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH Tương tự, các nghiệm thức được bố trí như trên, nước sắc lá Dâm bụt được pha loãng từ nồng độ 1% đến 0,1% để tiến hành khảo sát khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH. Kết quả về khả năng kháng oxy hóa của nước sắc lá Dâm bụt được thể hiện qua bảng 2 và hình 2. Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc lá Nồng độ (%) %HTKO nước sắc lá 0 0,000a± 0.000 0,1 9,983a± 2,151 0,2 25,010b ± 4,019 0,4 49,930c ± 11,937 0,6 66,712d± 3,190 0,8 76,891e± 6,829 1 85,188e ± 3,067 Acid ascorbic (15 μg/ml) 52,487 ± 3,174 Ghi chú: - a, b, c, d, e: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo hàng dọc với mức ý nghĩa α = 0,05. Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH 22 Bảng 2 cho thấy khi tăng nồng độ từ 0,1% lên 1%, (%) HTKO tăng từ 9,983% lên 85,188%. Điều này chứng tỏ, khả năng kháng oxy hóa của nước sắc lá Dâm bụt tăng theo chiều tăng nồng độ. Hoạt tính kháng oxy càng cao khi nồng độ càng lớn. Sự khác biệt về tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH có ý nghĩa thống kê ở nồng độ từ 0,1% đến 0,8%. Tuy nhiên, ở nồng độ 0,8% đến 1%, (%) HTKO không có sự khác biệt về mặt thống kê. Tương tự như trên, chúng tôi ghi nhận được đồ thị tương quan giữa tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH và nồng độ của nước sắc lá như hình 2. Hình 2. Đồ thị tỉ lệ phần trăm HTKO của nước sắc lá Theo hình 2, tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc lá tăng theo chiều tăng nồng độ (từ 0,1% đến 1%). Tương tự như trên, chúng tôi xác định được giá trị IC50 của nước sắc hoa Dâm bụt là 0,418% ± 0,078. 3.1.3. Khả năng kháng oxy hóa của nước sắc rễ Dâm bụt theo phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH Nước sắc rễ Dâm bụt được khảo sát khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH ở nồng độ từ 1% đến 20%. Kết quả ghi nhận về khả năng kháng oxy hóa của nước sắc rễ được minh họa qua bảng 3.3. Bảng 3. Tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc rễ Nồng độ (%) %HTKO nước sắc rễ 0 0,000a± 0,000 1 30,784b ± 0,713 5 42,814c ± 1,281 10 60,079d± 7,575 20 72,493e ± 6,904 Acid ascorbic (15 μg/ml) 47,500 ± 3,055 Năm học 2015 - 2016 23 Ghi chú: - a, b, c, d, e: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo hàng dọc với mức ý nghĩa α = 0,05. Từ bảng 3, chúng tôi nhận thấy, tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc rễ tăng dần theo chiều tăng nồng độ từ 1% đến 20%. Cụ thể, tỉ lệ phần trăm này tăng từ 30,784% lên 72,493%, sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa α = 0,05. Đồng thời, qua đồ thị, tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH tăng phụ thuộc vào nồng độ nước sắc rễ (hình 3). Hình 3. Đồ thị tỉ lệ phần trăm phân hủy gốc tự do DPPH của nước sắc rễ Tương tự như trên, chúng tôi xác định được giá trị IC50 của nước sắc hoa Dâm bụt là 7,318% ± 0,982. 3.1.4. Giá trị IC50 của nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt Từ những kết quả trên, giá trị IC50 của nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt được minh họa bằng bảng 4. Bảng 4. Giá trị IC50 của nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt Nước sắc hoa Nước sắc lá Nước sắc rễ Giá trị IC50 0,119%a ± 0,023 0,418%a ± 0,078 7,318%b ± 0,982 Ghi chú: - a, b: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo hàng dọc với mức ý nghĩa α = 0,05. Theo bảng 4, chúng tôi nhận thấy nước sắc hoa có giá trị IC50 thấp nhất, nước sắc rễ có giá trị IC50 cao nhất. Từ đó cho thấy, nước sắc hoa thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh nhất, nước sắc rễ thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa yếu nhất, trong cùng một điều kiện thí nghiệm. Tuy nhiên, giá trị IC50 của nước sắc hoa và nước sắc lá không có sự khác biệt về mặt thống kê. Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH 24 3.2. Kết quả giá trị đường huyết sau khi gây tiểu đường bằng STZ Bảng 5. Giá trị đường huyết sau khi gây tiểu đường bằng STZ STT Trước khi tiêm STZ Sau 3 ngày tiêm STZ Sau 7 ngày tiêm STZ 1 129 124 237 2 140 191 236 3 167 163 228 4 142 174 198 5 167 201 211 6 150 201 206 7 122 143 209 8 118 178 228 9 145 151 389 10 235 105 500 11 156 148 262 12 130 126 394 13 102 134 444 14 122 142 238 15 92 105 233 16 105 111 448 17 112 121 232 18 153 147 259 19 200 157 261 20 102 102 206 21 200 117 216 22 100 102 141 23 137 147 186 24 201 136 183 25 106 127 155 26 121 137 216 27 122 141 248 28 121 108 198 Trung bình 139.2 140.7 255.8 3.3. Khả năng hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt Kết quả khảo sát khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột in vivo của nước sắc hoa Dâm bụt tại nồng độ 0,119% được thể hiện qua bảng 5. Bảng 6. Giá trị nồng độ glucose trong máu Đường huyết (mg/dl) 0 ngày Sau 7 ngày Sau 14 ngày Đối chứng 340,20 a± 105,546 174,10 b1± 26,278 210,90b1± 29,670 Thí nghiệm 220,40a± 16,358 183,90b1± 23,956 186,50b2± 26,655 Năm học 2015 - 2016 25 Ghi chú: -1, 2: Sự khác biệt về giá trị đường huyết giữa lô đối chứng và lô thí nghiệm; -a, b: Sự khác biệt về giá trị đường huyết giữa các ngày trong lô đối chứng và lô thí nghiệm với mức ý nghĩa α = 0,05. Theo bảng 5, chúng tôi nhận thấy, ở các mốc thời gian 0, 7 và 14 ngày sau khi tiêm nước sắc hoa Dâm bụt, nồng độ glucose huyết giảm từ 220,4 mg/dl xuống 183,9 mg/dl (giảm 16,56%sau 7 ngày), 186,5 mg/dl (giảm 15,38%sau 14 ngày). Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê. Tuy nhiên, chúng tôi cũng ghi nhận giá trị đường huyết sau 7 ngày và sau 14 ngày không có sự khác biệt. So sánh giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng, ở mốc thời gian 7 ngày, giá trị đường huyết không có sự khác biệt. Tuy nhiên, sau 14 ngày, giá trị đường huyết ở lô thí nghiệm thấp hơn so với lô đối chứng (sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê). Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận, ở lô đối chứng, giá trị đường huyết giảm sau 7 ngày so với ban đầu. Sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Sau 14 ngày, giá trị đường huyết tăng trở lại từ 174,1 mg/dl lên 210,9 mg/dl, sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê. 3.4. Thảo luận Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi xác định nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt thể hiện khả năng kháng oxy hóa theo phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH. Kết quả của đề tài phù hợp với một số công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới như Rajesh Mandade (2011), Divya MJ (2013), Vishnu Kumar (2013), Deepa Garg (2012), Falguni Sheth và Subrata De (2012), Khatib NA (2009). Các tác giả đã chứng minh các cao chiết từ hoa, lá, rễ Dâm bụt có khả năng kháng oxy hóa theo nhiều phương pháp khác nhau [6, 7]. Trong đó, nước sắc hoa và lá Dâm bụt thể hiện hoạt tính kháng oxy hoa mạnh nhất so với rễ trong cùng một điều kiện thí nghiệm. Kết quả này cũng phù hợp với công trình nghiên cứu của Khatib NA (2009); Anil Kumar (2012); Deepa Garg (2012) cho thấy các hợp chất chiết xuất từ các bộ phận lá, hoa Dâm bụt là những chất thể hiện khả năng kháng oxy hóa mạnh như: quercetin, acid ascorbic, flavonoid Đồng thời, đề tài ghi nhận khả năng hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt sau 7, 14 ngày so với nồng độ đường huyết ban đầu (0 ngày).Tất cả các giá trị đường huyết này đều thấp hơn 200 mg/dl. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với một số công trình của các tác giả như: Archana Sachdewa và L.D. Khemani (2003), Fahmi S Moqbel (2010), Mirunalini Sankaran, Arulmozhi Vadivel (2011), Anusha Bhaskar (2012) khi cho rằng Dâm bụt có khả năng hạ đường huyết trên mô hình động vật in vivo. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của đề tài, sau 7 ngày, giá trị nồng độ glucose huyết không có sự khác biệt về mặt thống kê so với lô đối chứng. Điều này có thể được giải thích như sau: Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH 26 - Đối với lô thí nghiệm, đề tài bước đầu khảo sát khả năng hạ đường huyết tại giá trị IC50 của nước sắc hoa Dâm bụt để làm cơ sở cho các nghiên cứu sau và ghi nhận giá trị glucose huyết giảm nhẹ (16,56% sau 7 ngày). Cho nên, để chứng minh chính xác tiềm năng trong điều trị bệnh tiểu đường của loài này,chúng ta cần những nghiên cứu sâu hơn và khảo sát ở những nồng độ khác nhau, thời gian dài hơn. - Đối với lô đối chứng, sau 7 ngày, đề tài ghi nhận giá trị nồng độ glucose trong máu giảm so với ban đầu, dẫn đến không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa lô đối chứng với lô thí nghiệm. Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với công trình nghiên cứu của D. C. Damasceno (2014). Theo tác giả này, sau khi gây tiểu đường bởi Streptozotocin từ khoảng 13 đến 17 ngày, cơ thể có cơ chế điều hòa giảm hậu quả tác động của Streptozotocin. Cụ thể, công trình đã chứng minh trong khoảng thời gian này, sự phối hợp của các gene Ngn3, Pax4, Arx dẫn đến sự chuyển biệt hóa từ tế bào α thành tế bào β đảo tụy. Do vậy, sau 14 ngày sau khi tiêm Streptozotocin,giá trị nồng độ glucose huyết giảm so với mức 0 ngày (7 ngày sau khi tiêm Streptozotocin). Tuy nhiên, các tác giả trên chỉ khảo sát sự chuyển biệt hóa từ tế bào α thành tế bào β trong khoảng thời gian từ 13 đến 17 ngày sau khi tiêm Streptozotocin. Ngoài khoảng thời gian này, chúng tôi ghi nhận chưa có công trình nghiên cứu nào chứng minh cơ chế ở cấp độ phân tử của hiện tượng trên. Chính vì vậy ở thời điểm 14 ngày (21 ngày sau khi tiêm Streptozotocin) nồng độ glucose huyết bắt đầu tăng so với 7 ngày (> 200 mg/dl). Điều này có thể là do tác động của Streptozotocin đối với tế bào β đảo tụy. Streptozotocin khi vào tế bào β sẽ làm phân mảnh DNA, tạo ra các gốc tự do gây oxy hóa màng phospholipid của ti thể, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất năng lượng ATP. Tất cả những nguyên nhân trên dẫn đến sự chết của tế bào β đảo tụy, dẫn đến ảnh hưởng quá trình sản xuất insulin. Vì vậy, để nghiên cứu tác động của Streptozotocin đối với mô hình chuột và khả năng hạ đường huyết của cây Dâm bụt cần có những nghiên cứu sâu hơn ở cấp độ phân tử [5]. Với kết quả trên, đề tài đã chứng minh khả năng kháng oxy hóa cũng như khả năng hạ đường huyết của cây Dâm bụt. Tuy nhiên, để ứng dụng cho y học cần có thêm những công trình nghiên cứu cụ thể và đầy đủ để chứng minh tiềm năng sinh học của loài này. 4. Kết luận và kiến nghị 4.1. Kết luận Đề tài đã xác định: - Nước sắc hoa, lá, rễ Dâm bụt đều thể hiện khả năng kháng oxy hóa ở phương pháp phân hủy gốc tự do DPPH. Cụ thể: + Giá trị IC50 của nước sắc hoa là: 0,119% ± 0,023; + Giá trị IC50 của nước sắc lá là: 0,418% ± 0,078; + Giá trị IC50 của nước sắc rễ là: 7,318% ± 0,982. Năm học 2015 - 2016 27 Trong đó, nước sắc hoa thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa tốt nhất ở phương phân hủy gốc tự do DPPH với giá trị IC50 thấp nhất. - Tại nồng độ khảo sát (0,119%), nước sắc hoa có tác dụng hạ đường huyếttừ 220,4 mg/dl xuống 186,5 mg/dl trên mô hình chuột nhắt trắng tiểu đường gây ra bởi Streptozotocin sau 14 ngày khảo sát. 4.2. Kiến nghị - Tiến hành khảo sát khả năng hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt ở nồng độ cao hơn, thời gian dài hơn. - Nghiên cứu cơ chế hạ đường huyết của nước sắc hoa Dâm bụt trên mô hình động vật bị tiểu đường. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Võ Văn Chi (2007), Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam, Nxb Giáo dục, TP Hồ Chí Minh, tr. 31-59. 2. Hồ Huỳnh Thùy Dương (2010), Nghiên cứu khả năng kháng phân bào thực nghiệm của một số bài thuốc cổ truyền hoặc dân gian ở mức độ tế bào và phân tử, Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh. 3. Nguyễn Trung Quân (2009), Tạo mô hình tiểu đường trên chuột nhắt trắng và thử tác dụng hạ đường huyết một số chế phẩm tự nhiên, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. 4. Asmat Ullah, Abad Khan, Ismail Khan (2015), “Diabetes mellitus and oxidative stress––A concise review”, Saudi Pharmaceutical Journal. 5. D. C. Damasceno, A. O. Netto, I. L. Iessi, F. Q. Gallego, S. B. Corvino, B. Dallaqua,Y. K. Sinzato, A. Bueno, I. M. P. Calderon, M. V. C. Rudge (2014), “Streptozotocin – Induced Diabetes Models: Pathophysiological Mechanisms and Fetal Outcomes”, BioMed Research International, Vol 2014, Hindawi Publishing Corporation. 6. Deepa Garg, Ayesha Shaikh, Aditya Muley, Thankamani Marar (2012), “In-vitro antioxidant activity and phytochemical analysis in extracts of Hibiscus rosa-sinensis stem and leaves”, Free Radicals and Antioxidants, Vol. 2(3), pp. 41-46. 7. Mirunalini Sankaran, Arulmozhi Vadivel (2011), “Antioxidant and Antidiabetic effect of Hibiscus rosa sinensis flower extract on Streptozotocin induced experimental rats – a Dose Response Study”, Notulae Scientia Biologicae, Vol 3 (4), 13-21.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhao_sat_hoat_tinh_khang_oxy_hoa_va_kha_nang_ha_duong_huyet.pdf