Kết luận
Khả năng sinh trưởng và tốc độ phân hủy
chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn Acinetobacter
calcoaceticus, Bacillus megaterium,
Sphingomonas pseudosanguims đạt giá trị cao
nhất khi được nuôi cấy trong môi trường MSM
ở nhiệt độ là 30°C, pH =7, nồng độ chlorpyrifos
bổ sung vào trong môi trường từ 10 mg/L – 40
mg/L. Kết quả này cho thấy tiềm năng cao
trong việc sử dụng các chủng vi khuẩn hiếu khí
để loại bỏ tồn dư thuốc trừ sâu chlorpyrifos
trong đất nông nghiệp. Các thí nghiệm tiếp theo
sẽ khảo sát khả năng phân hủy chlorpyrifos của
các loài vi khuẩn Acinetobacter calcoaceticus,
Bacillus megaterium, Sphingomonas
pseudosanguims ngoài đồng ruộng, đồng thời
nghiên cứu các sản phẩm phân hủy
chlorpyrifos, cũng như đánh giá tác động của
các dòng vi khuẩn này đối với môi trường và
con người. Từ đó, ứng dụng để nghiên cứu sản
xuất chế phẩm phân bón vi sinh giúp xử lý dư
lượng chlorpyrifos tồn dư trong đất và kích
thích sự phát triển của cây trồng.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát khả năng phân hủy chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn hiếu khí phân lập tại Đà Lạt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 35
Khảo sát khả năng phân hủy chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn
hiếu khí phân lập tại Đà Lạt
Investigation of chlorpyrifos degradation by 3 aerobic bacteria strains isolated in Da Lat city
Lương Thị Thắma, Nguyễn Tiến Đạta, Nguyễn Thị Hồng Thắma, Nguyễn Thùy Hương Tranga,
Tạ Thị Tuyết Nhunga, Đặng Trung Tína, Lê Thành Đôb,c, Hồ Thanh Tâmb,c*
Luong Thi Thama, Nguyen Tien Data, Nguyen Thi Hong Thama, Nguyen Thuy Huong Tranga,
Ta Thi Tuyet Nhunga, Dang Trung Tina, Le Thanh Dob,c, Ho Thanh Tamb,c*
aViện Nghiên cứu Hạt nhân, Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam
aDa Lat Nuclear Research Institute, Lam Dong, Viet Nam
bViện Sáng kiến Sức khỏe Toàn cầu, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam
bInstitute for Global Health Innovations, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Viet Nam
cKhoa Dược, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam
cFaculty of Pharmacy, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Viet Nam
(Ngày nhận bài: 16/11/2020, ngày phản biện xong: 17/11/2020, ngày chấp nhận đăng: 14/12/2020)
Tóm tắt
Nghiên cứu này trình bày kết quả khảo sát điều kiện nuôi cấy tối ưu nhằm kích thích sự sinh trưởng và khả năng phân
hủy thuốc trừ sâu chlorpyrifos của các dòng vi khuẩn hiếu khí bản địa tại Đà Lạt. Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của
nhiệt độ, pH, nồng độ thuốc trừ sâu chlorpyrifos lên khả năng sinh trưởng và tốc độ phân hủy chlorpyrifos của 3 chủng
vi khuẩn B2 (Acinetobacter calcoaceticus), T1 (Bacillus megaterium) và W3 (Sphingomonas pseudosanguims) được
tiến hành trong môi trường muối khoáng tối thiểu MSM (minimal salt medium) lỏng có bổ sung chlorpyrifos làm nguồn
cacbon duy nhất. Các thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện nuôi cấy lỏng lắc, tốc độ 110 vòng/phút, ở nhiệt độ
phòng trong điều kiện không có ánh sáng. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng và phân hủy chlorpyrifos
của 3 dòng vi khuẩn đạt giá trị tối ưu khi được nuôi cấy ở nhiệt độ 30°C, pH = 7, nồng độ chlorpyrifos bổ sung vào
trong môi trường nuôi cấy trong khoảng 10 - 40 mg/L. Kết quả này thể hiện tiềm năng sử dụng các dòng vi khuẩn hiếu
khí trong việc xử lý tồn dư của chlorpyrifos trong đất nông nghiệp.
Từ khóa: Môi trường MSM; phân hủy chlorpyrifos; vi khuẩn hiếu khí.
Abstract
This study presents the results of surveying optimal culture conditions to stimulate the growth and decomposition
ability of chlorpyrifos of indigenous aerobic bacteria strains in Da Lat. The experiment surveyed the effects of the
temperature, pH, and chlorpyrifos concentration on the growth and decomposition of chlorpyrifos of 3 bacteria strains
B2 (Acinetobacter calcoaceticus), T1 (Bacillus megaterium) and W3 (Sphingomonas pseudosanguims) in minimal salt
medium (MSM) supplemented with chlorpyrifos as the sole carbon source. The experiments were carried out on a
shaker at 110 rpm, room temperature, and in the dark condition. The results showed that the optimization culture
* Corresponding Author: Ho Thanh Tam; Institute for Global Health Innovations, Duy Tan University, Da Nang,
550000, Viet Nam; Faculty of Pharmacy, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Viet Nam.
Email: hothanhtam2@duytan.edu.vn
06(43) (2020) 35-45
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 36
condition for 3 bacteria strain growth and decomposition of chlorpyrifos when cultured at 30°C, pH = 7, and ranged of
chlorpyrifos in the culture medium from 10 - 40 mg/L. The results suggested a potential of using aerobic bacteria strains
in the treatment of residues of chlorpyrifos in agricultural soils.
Keywords: MSM medium, chlorpyrifos degradation, Aerobic bacteria.
1. Giới thiệu
Thành phố Đà Lạt nằm trên độ cao 1500 mét
so với mặt nước biển, có diện tích tự nhiên
khoảng 393,29 km2, trong đó có khoảng 10.000
ha đất nông nghiệp. Ngành nông nghiệp tại Đà
Lạt được xem là thế mạnh và nổi tiếng cả nước.
Tuy nhiên, do ngày càng xuất hiện nhiều loại
dịch hại trên cây trồng, nên phần lớn người dân
ưu tiên sử dụng các nhóm thuốc bảo vệ thực vật
(BVTV) có độc tố cao với liều lượng tăng gấp
1,5 - 2 lần so với khuyến cáo làm cho dư lượng
thuốc BVTV bị rửa trôi vào nước mặt hay thấm
vào đất, không những gây ô nhiễm nguồn nước,
đất mà còn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng
đến sức khoẻ môi trường và cộng đồng [1].
Lượng tồn dư thuốc BVTV trong đất nông
nghiệp tại Đà Lạt chủ yếu thuộc hai nhóm:
nhóm carbamate và nhóm lân hữu cơ. Trong số
những ca nhiễm độc hóa chất BVTV gây ra do
lao động nông nghiệp, số liệu báo cáo tại Trung
tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai) cho thấy
nhóm lân hữu cơ (Organophosphate Insecticide
- OP) chiếm tỷ lệ cao nhất so với các loại hóa
chất BVTV khác [2].
Chlorpyrifos (O, O-diethyl O-3,5,6-
trichloropyridin-2-yl phosphorothioate) là một
loại thuốc trừ sâu phổ rộng thuộc nhóm lân hữu
cơ, được nông dân thường xuyên sử dụng để
tiêu diệt nhiều loại côn trùng. Loại thuốc trừ
sâu này được xếp vào nhóm độc loại II và được
đề cập đến nhiều nhất do tác hại của nó đến sức
khỏe người nông dân bị phơi nhiễm khi pha
trộn, vận chuyển và phun rải chlorpyrifos
[3,4,5]. Vì vậy thuốc đã bị cấm sử dụng ở nhiều
nước trên thế giới. Tại Việt Nam, theo quyết
định 501/QĐ-BNN-BVTV năm 2019, thuốc chỉ
được phép buôn bán và sử dụng đến hết ngày
12 tháng 2 năm 2021.
Việc ứng dụng khả năng phân huỷ sinh học
thuốc BVTV của vi sinh vật (VSV) đã và đang
trở thành một trong những giải pháp tốt để xử
lý tồn dư thuốc BVTV trong đất. Theo Singh
và cs. (2006), chlorpyrifos có thể bị phân giải
bởi một số loài vi khuẩn và nấm có trong đất
[6]. Vi sinh vật có thể phân hủy chlorpyrifos
tạo các sản phẩm trung gian như 3,5,6-
trichloro-2-pyridinol (TCP) hoặc/và
diethylthiophosphoric (DETP) acid [7]. Tuy
nhiên, việc ứng dụng VSV vào mục đích này
vẫn còn những hạn chế nhất định do khó khăn
trong việc tuyển chọn các chủng VSV có khả
năng phân hủy thuốc BVTV nhanh và xác định
được điều kiện tối ưu cho quá trình phân huỷ để
sử dụng trong phục hồi sinh học hệ sinh thái đất
trồng một cách hiệu quả. Nghiên cứu này được
thực hiện nhằm tìm ra được điều kiện nuôi cấy
tối ưu cho sự sinh trưởng và khả năng phân hủy
chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn B2
(Acinetobacter calcoaceticus), T1 (Bacillus
megaterium) và W3 (Sphingomonas
pseudosanguims) phân lập được trong đất canh
tác nông nghiệp tại Đà Lạt. Đây cũng là những
dòng vi khuẩn đã có nhiều nghiên cứu trong
việc phân hủy tồn dư thuốc BVTV trong đất
nông nghiệp [6,7].
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
Nguồn vi khuẩn: 3 chủng vi khuẩn B2
(Acinetobacter calcoaceticus), T1 (Bacillus
megaterium) và W3 (Sphingomonas
pseudosanguims) phân lập được trong đất canh
tác nông nghiệp tại Đà Lạt và được lưu tại ngân
hàng giống của Trung tâm phân tích, Viện
Nghiên cứu Hạt nhân, Đà Lạt.
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 37
Môi trường muối khoáng tối thiểu (MSM)
có thành phần (g/L): KNO3 (2 g); MgSO4.7H2O
(0.2 g); CaCl2. 2H2O (0.1 g); NaCl (0.1 g);
FeCl3.6H20 (0.01 g). Dung dịch muối khoáng 1
mL nước cất vừa đủ 1000 mL; pH 7.0. Dung
dịch muối khoáng có thành phần (g/L): MnCl2.
4H20 (100 mg); CoCl2 (20 mg); CuSO4 (10
mg); Na2MoO4 (10 mg); ZnCl2 (20 mg); LiCl
(5 mg); SnCl2.2H2O (5 mg); H3BO3 (10 mg);
KBr (20 mg); BaCl2 (5mg); EDTA-Na-Fe
3+ (8
mg). Các hóa chất được cung cấp bởi Công ty
Merk, Đức.
Thuốc trừ sâu chlorpyrifos 99,5% được cung
cấp bởi Công ty Fluka (Sigma, USA). Dung
dịch stock chlorpyrifos 20 mg/mL được hoà tan
trong ethyl acetate, trước khi bổ sung vào môi
trường nuôi cấy được lọc bằng màng lọc
Millipore (Millex, Pháp).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thử
nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ (25, 30 và
37°C), pH (4, 5, 6 và 7) và nồng độ thuốc trừ
sâu chlorpyrifos (10, 40 và 160 mg/L) lên khả
năng sinh trưởng và phân hủy chlorpyrifos của
3 dòng vi khuẩn B2, T1 và W3. Chủng 100µL
dịch nuôi cấy từng loại vi khuẩn vào 5 mL môi
trường MSM có bổ sung chlorpyrifos làm
nguồn cacbon duy nhất. Các mẫu nuôi cấy
được thông khí bằng cách lắc với tốc độ 110
vòng/phút ở nhiệt độ phòng. Mật độ vi khuẩn
trong môi trường nuôi cấy được xác định bằng
phương pháp đếm khuẩn lạc vào thời điểm ban
đầu và sau 5 ngày nuôi cấy. Sau 14 ngày nuôi
cấy, mẫu nuôi được trích và phân tích để xác
định hàm lượng chlorpyrifos còn lại. Hàm
lượng thuốc chlorpyrifos còn lại trong môi
trường nuôi được ly trích bằng dung môi ethyl
acetate và phân tích hàm lượng chlorpyrifos
trên thiết bị GC-2020 plus.
2.3. Xử lý số liệu
Mỗi dòng vi khuẩn được bố trí trong ống
nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với
3 nghiệm thức, 3 lần lặp lại. Số liệu thống kê
được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm thống
kê mô tả SPSS (Version 16.0).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng nhiệt độ đến sự gia tăng mật
độ và khả năng phân hủy chlorpyrifos của 3
dòng vi khuẩn hiếu khí (B2, T1 và W3)
Kết quả thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của
3 loại nhiệt độ (nhiệt độ phòng (25°C), 30°C và
37°C) lên sinh trưởng của 3 chủng vi khuẩn T1,
B2 và W3 cho thấy, cả 3 dòng vi khuẩn đều
phát triển tốt ở khoảng nhiệt độ từ 25 - 30°C.
Mật độ vi khuẩn tăng cao nhất và có ý nghĩa
thống kê ở 30°C với giá trị trung bình lần lượt
là T1 (5,92), B2 (6,04) và W3 (5,96) (giá trị
Log (CFU/mL)) sau 5 ngày nuôi cấy (p < 0,05)
(Hình 1).
Ở nhiệt độ 37°C tuy sự gia tăng mật độ tế
bào của 3 dòng vi khuẩn không bằng ở khoảng
nhiệt độ từ 25 - 30°C nhưng 2 dòng vi khuẩn
T1 và B2 vẫn có khả năng phát triển tốt T1
(4,56), B2 (5,57) (giá trị Log (CFU/mL)), còn
dòng vi khuẩn W3 ở nhiệt độ 37°C chúng gần
như bị ức chế sự phát triển vì kết quả cho thấy
mật độ của dòng W3 đã giảm hơn rất nhiều so
mật độ ban đầu sau 5 ngày nuôi ủ ở 37°C, W3
(2,28) (giá trị Log (CFU/mL)) (Hình 1).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
cả 3 dòng vi khuẩn khá bảo thủ về khả năng
thích nghi với điều kiện nhiệt độ khác nhau, các
dòng chỉ có khả năng sinh trưởng trong khoảng
nhiệt độ 25 - 30°C. Khi nhiệt độ tăng lên 37°C
thì 3 dòng vi khuẩn này sinh trưởng yếu hoặc
không sinh trưởng được. Kết quả nghiên cứu
phù hợp với các công bố trước đó, như nghiên
cứu của Cai và cs. (2011) cho rằng nhiệt độ tối
ưu cho sự phát triển của chủng Acinetobacter
calcoaceticus là ở nhiệt độ 30°C, chủng
Bacillus megaterium phát triển tốt ở nhiệt độ
30°C và điều kiện tối ưu cho sự phát triển của
chủng Sphingomonas sp. HYJ là ở khoảng nhiệt
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 38
độ 30 - 35°C [8, 9, 10]. Từ kết quả trên cho
thấy nhiệt độ có vai trò quan trọng đối với quá
trình sinh trưởng của 3 dòng vi khuẩn. Tuy
nhiên, khi nhiệt độ quá cao sẽ làm biến tính
màng sinh chất trong tế bào vi khuẩn làm ức
chế quá trình sinh trưởng. Khi nhiệt độ thấp thì
màng sinh chất của tế bào vi khuẩn bị kết đông
lại và enzyme cũng ngừng hoạt động. Vì vậy,
nếu nhiệt độ môi trường nuôi cấy của vi khuẩn
vượt ra khỏi ngưỡng nhiệt độ cho phép của vi
khuẩn thì quá trình sinh trưởng của chúng sẽ bị
ức chế và thậm chí ngừng hẳn [11, 12].
Hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến mật độ tế bào vi khuẩn. (A) Hình thái và sự phát triển của 3 dòng vi khuẩn ở nhiệt
độ 30 và 37°C; (B) Sự gia tăng mật độ tế bào của 3 dòng vi khuẩn trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau. BĐ: Mật độ
vi khuẩn ban đầu bổ sung vào môi trường nuôi cấy.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng phân
hủy chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn được thể
hiện ở Hình 2. Kết quả cho thấy, cả 3 dòng vi
khuẩn đều thể hiện khả năng phân hủy
chlorpyrifos tốt ở khoảng nhiệt độ 25 - 30°C,
tuy nhiên hiệu quả phân hủy cao nhất và có ý
nghĩa thống kê là ở nhiệt độ 30°C (p < 0,05).
Cụ thể, dòng T1 đã phân hủy được 68%, dòng
B2 phân hủy được 78% và dòng W3 phân hủy
được 66% hàm lượng chlorpyrifos khi nuôi cấy
trong môi trường MSM bổ sung 20 mg/L
chlorpyrifos, sau 14 ngày nuôi cấy.
Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa sự gia
tăng mật độ tế bào và hiệu suất phân hủy
chlorpyrifos trong môi trường nuôi cấy. Mật độ
tế bào càng nhiều thì tốc độ phân hủy
chlorpyrifos diễn ra càng nhanh. Theo Mallick
và cs. (1999) nguyên nhân có thể là do
chlorpyrifos đã được các chủng vi khuẩn này sử
dụng để làm chất nền cho sự phát triển để gia
tăng mật độ tế bào [13]. Ngoài ra sự gia tăng
nhiệt độ cũng làm tăng tốc độ phân hủy của
chlorpyrifos [14,15]. Đã có nhiều báo cáo về
vai trò của nhiệt độ đối với quá trình phân hủy
của chlorpyrifos, như báo cáo của Yang và cs.
(2005) cho biết dòng Alcaligenes faecalis phân
hủy chlorpyrifos nhanh nhất ở nhiệt độ 30°C
[16]. Liu và cs. (2012) chỉ ra rằng Bacillus
cereus phân hủy chlorpyrifos nhanh nhất ở
30°C, và sự phân hủy chlorpyrifos bới enzyme
của vi khuẩn này sẽ bị hạn chế ở nhiệt độ < 5°C
[17]. Hay nghiên cứu của Yang và cs. (2006)
cho rằng dòng vi khuẩn Stenotrophomonas có
khả năng phân hủy chlorpyrifos trong khoảng
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 39
nhiệt độ 15 - 37°C nhưng tốc độ phân hủy
chlorpyrifos nhanh nhất ở nhiệt độ 30°C [18].
Edwards (1964) kết luận rằng nhiệt độ tăng làm
tăng tốc độ phân hủy thuốc trừ sâu [19]. Khi
nhiệt độ tăng lên, tốc độ phản ứng của các
enzyme trong tế bào vi khuẩn cũng tăng lên làm
cho các hoạt động trao đổi chất trong tế bảo vi
khuẩn diễn ra nhanh hơn [11].
Hình 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu suất phân hủy chlopyriofs của các dòng vi khuẩn. % chlorpyrifos đã bị phân
hủy: Hàm lượng chlorpyrifos đã mất đi sau 14 ngày nuôi cấy so với đối chứng (không thêm chủng vi khuẩn vào môi
trường nuôi cấy).
3.2. Ảnh hưởng pH đến sự gia tăng mật độ và
khả năng phân hủy chlorpyrifos của 3 dòng vi
khuẩn hiếu khí (B2, T1 và W3)
Khảo sát sự phát triển của 3 dòng vi khuẩn
W3, T1 và B2 ở các điều kiện pH môi trường
khác nhau (pH = 4, 5, 6 và 7) cho thấy cả 3 dòng
đều sinh trưởng và phát triển mạnh ở pH từ 6 -
7, trong đó sự gia tăng mật độ cao nhất và khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) của 3 chủng
là ở pH = 7 với giá trị trung bình lần lượt là T1
(5,88), B2 (6,01) và W3 (5,92) (giá trị Log
(CFU/mL)) (Hình 3). Đối với giá trị pH = 4, mật
độ tế bào của các dòng vi khuẩn không tăng
hoặc tăng ít T1 (2,53), B2 (4,63) và W3 (3,99)
(giá trị Log (CFU/mL)). Từ kết quả nghiên cứu
trên cho thấy pH = 7 là pH môi trường tối ưu
cho sự phát triển của 3 dòng vi khuẩn. Kết quả
nghiên cứu trùng hợp với các nghiên cứu của
Cai và cs. (2011), Zhu và cs. (2011), Yu và cs.
(2017), họ cũng chỉ ra rằng môi trường pH = 7 là
điều kiện tối ưu cho quá trình sống và phân hủy
chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn Acinetobacter
calcoaceticus, Bacillus megaterium và
Sphingomonas pseudosanguims [8, 9, 10].
Nghiên cứu của Xin và cs. (2012) cũng chỉ ra
rằng dòng vi khuẩn Bacillus cereus bị ức chế sự
phát triển trong môi trường pH 8
[20]. Các nghiên cứu trước đây của Singh và cs.
(2006) cũng đã chứng minh rằng môi trường
kiềm có lợi cho sự phát triển của vi khuẩn phân
hủy chlorpyrifos [6]. Theo Mohd và cs. (2019),
sự phát triển của vi sinh vật được kiểm soát chủ
yếu bởi pH [21]. Từ đó cho thấy pH là yếu tố
môi trường rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sinh
tổng hợp enzyme của vi khuẩn [11, 12].
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 40
Hình 3. Ảnh hưởng của pH đến sự gia tăng mật độ tế bào vi khuẩn. (A) Hình thái và sự phát triển của 3 dòng vi khuẩn
ở pH = 4 và 7; (B) Sự gia tăng mật độ tế bào của 3 dòng vi khuẩn trong các điều kiện pH khác nhau. BĐ: Mật độ vi
khuẩn ban đầu bổ sung vào môi trường nuôi cấy.
Hiệu suất phân hủy chlorpyrifos của 3 dòng
vi khuẩn thể hiện tốt nhất trong môi trường
pH = 7, tuy nhiên chúng không khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p > 0,05) so với nuôi cấy trong
điều kiện môi trường pH = 6. Cụ thể, trong môi
trường MSM bổ sung 20 mg/L chlorpyrifos,
sau 14 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 25±2°C,
pH = 7, dòng T1 đã phân hủy được 49%, dòng
B2 phân hủy được 63.6% và dòng W3 phân
hủy được 58% hàm lượng chlorpyrifos có trong
môi trường (Hình 4). Ngược lại tại điều kiện
môi trường pH = 4 - 5, 3 dòng vi khuẩn thể
hiện hiệu suất phân hủy chlorpyrifos thấp nhất
và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hiệu
suất phân hủy trong điệu kiện môi trường pH =
6 - 7. Kết quả nghiên cứu của đề tài tương tự
với các kết quả nghiên cứu trước đó, như
nghiên cứu của Greenhalgh và cs. (1980) đã
phát hiện thấy tốc độ phân hủy của các loại
thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ thường cao nhất
trong môi trường pH > 7,0 [22, 23]. Theo Lu và
cs. (2013), pH tối ưu cho sự phân hủy
chlorpyrifos bởi dòng vi khuẩn Cupriavidus sp.
DT-1 là ở giá trị pH = 7 [24]. Nghiên cứu của
Yu và cs. (2017) đã báo cáo rằng tốc độ phân
hủy chlorpyrifos của chủng Sphingomonas sp.
HJY trong môi trường MSM cao nhất ở điều
kiện môi trường pH = 6 - 7 và thấp nhất trong
điều kiện pH = 4 [10]. Nghiên cứu của Cai và
cs. (2011), nghiên cứu của Zhu và cs. (2019)
cũng chỉ ra rằng pH = 7 là pH tối ưu cho quá
trình phân hủy chlorpyrifos của 2 dòng vi
khuẩn Acinetobacter calcoaceticus và Bacillus
megaterium [8, 9]. Theo báo cáo của Yu và cs.
(2017), trong môi trường đất có pH cao hơn họ
đã tìm thấy số lượng bản sao các gen phân giải
chlorpyrifos nhiều hơn trong môi trường đất có
pH thấp hơn [10]. Hơn nữa, môi trường kiềm
thích hợp cho hoạt động của nhiều enzyme
phân giải, dẫn đến tốc độ phân hủy diễn ra
nhanh hơn, ở giá trị pH thấp (pH = 4 -5), làm
hạn chế hoặc ức chế quá trình hoạt động của
các enzyme dẫn đến tốc độ phân hủy diễn ra
chậm [25].
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 41
Hình 4. Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phân hủy chlopyriofs của các dòng vi khuẩn. % chlorpyrifos đã bị phân hủy:
Hàm lượng chlorpyrifos đã mất đi sau 14 ngày nuôi cấy so với đối chứng (không thêm chủng vi khuẩn vào môi trường
nuôi cấy).
3.3. Ảnh hưởng nồng độ chlorpyrifos đến sự
gia tăng mật độ và khả năng phân hủy
chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn hiếu khí
(B2, T1 và W3)
Kết quả thí nghiệm cho thấy cả 3 các dòng
vi khuẩn (B2, T1 và W3) với mật độ ban đầu bổ
sung vào là B2 (4,63), T1 (4,71) và W3 (4,69)
(giá trị Log (CFU/mL)), thể hiện sự gia tăng
mật độ tế bào tốt nhất trong môi trường muối
khoáng tối thiểu (có bổ sung 10, 40 mg/L
chlorpyrifos) sau 5 ngày nuôi cấy. Cụ thể là, ở
nồng độ 10 mg/L: T1 (5,79), B2 (6,03) và W3
(5,75); ở nồng độ 40 mg/L: T1 (5,76), B2
(5,93) và W3 (5,99); ở nồng độ 160 mg/L: T1
(1,09), B2 (5,23) và W3 (4,99) (giá trị Log
(CFU/mL)). Mật độ tế bào của 3 dòng vi khuẩn
sau 5 ngày nuôi cấy trong môi trường muối
khoáng tối thiểu (có bổ sung 10, 40 mg/L
chlorpyrifos) không thể hiện sự khác biệt mang
ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Với nồng độ
chlorpyrifos 160 mg/L trong môi trường đã làm
ức chế sự phát triển của dòng vi khuẩn T1, còn
với 2 dòng vi khuẩn B2 và W3 chúng vẫn có
khả năng phát triển tốt (Hình 5). Đã có nhiều
nghiên cứu chứng minh rằng nồng độ
chlorpyrifos có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển của vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy.
Nghiên cứu của Singh và cs. (2009) báo cáo
rằng số lượng Pseudomonas sp. tăng khi tăng
nồng độ chlorpyrifos từ 10 mg/L đến 50 mg/L
trong môi trường không có bất kỳ nguồn carbon
nào khác [26]. Theo Fulekar và cs. (2008),
dòng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa phát
triển tốt trong môi trường bổ sung 50 - 70 mg/L
chlorpyrifos, nhưng khi nuôi cấy trong môi
trường có nồng độ chlorpyrifos cao hơn sẽ làm
ức chế sự phát triển của dòng vi khuẩn này
[27]. Nguyên nhân có thể là do một trong
những sản phẩm phụ được tạo ra trong quá
trình phân hủy chlorpyrifos bởi hệ vi sinh vật
hiếu khí là TCP (3,5,6-trichloro-2-pyridinol).
TCP là có tính chất kháng khuẩn, ngăn chặn sự
gia tăng mật độ tế bào của vi sinh vật [28]. Khi
nồng độ chlorpyrifos trong môi trường càng
cao, thì nồng độ TCP tạo ra trong môi trường
nuôi cấy càng nhiều, gây ức chế tế bào vi khuẩn
trong môi trường nuôi cấy [29, 30].
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 42
Hình 5. Ảnh hưởng của nồng độ chlorpyrifos đến sự gia tăng mật độ tế bào vi khuẩn. (A) Hình thái và sự phát triển của
3 dòng vi khuẩn B2, T1 và W3 trong môi trường bổ sung 40 và 160 mg/L chlorpyrifos; (B) Sự gia tăng mật độ tế bào
của 3 dòng vi khuẩn. BĐ: Mật độ vi khuẩn ban đầu bổ sung vào môi trường nuôi cấy.
Hiệu suất phân hủy của 3 dòng vi khuẩn sau
14 ngày nuôi cấy trong môi trường bổ sung 10
mg/L chlorpyrifos, cả 3 chủng gần như phân
hủy hoàn toàn lượng chlorpyrifos có trong môi
trường nuôi cấy: T1 (97,4%), B2 (97,3%), W3
(99,6%); ở nồng độ 40 mg/L chlorpyrifos trong
môi trường T1 phân hủy 25,8%, B2 phân hủy
30,4%, W3 phân hủy 35,1%; ở nồng độ 160
mg/L chlorpyrifos trong môi trường T1 phân
hủy 0,2%, B2 phân hủy 3,7%, W3 phân hủy
2,8% (Hình 6, 7). Khác biệt về hiệu suất phân
hủy chlorpyrifos của các dòng vi khuẩn trong
điều kiện môi trường nuôi cấy khác nhau về
nồng độ chlorpyrifos có ý nghĩa thống kê (p <
0,05). Từ kết quả trên cho thấy tốc độ phân hủy
chlorpyrifos của vi khuẩn giảm dần khi tăng
nồng độ chlropyrifos trong môi trường nuôi cấy
(Hình 6). Kết quả nghiên cứu này cũng trùng
hợp với nghiên cứu của Zhu và cs. (2019) [9].
Nghiên cứu của Liu và cs. (2012) chỉ ra rằng
tốc độ phân hủy chlorpyrifos của dòng Bacillus
cereus DH giảm dần khi tăng nồng độ
chlorpyrifos từ 100 mg/L đến 150 mg/L trong
môi trường nuôi cấy [17]. Nghiên cứu của Fogg
và cs. (2003) cho thấy nếu nồng độ
chlorothalonil trong đất < 57 mg/kg sẽ bị suy
giảm nhanh chóng bởi hoạt động của hệ vi sinh
vật trong đất, tuy nhiên khi nồng độ
chlorothalonil trong đất > 57 mg/kg thì hoạt
động của hệ vi sinh vật trong đất bị ức chế, dẫn
đến tốc độ phân hủy diễn ra chậm [31].
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 43
Hình 6. Ảnh hưởng của nồng độ chlorpyrifos đến hiệu suất phân hủy chlopyriofs của các dòng vi khuẩn trong môi
trường nuôi cấy. % chlorpyrifos đã bị phân hủy: Hàm lượng chlorpyrifos đã mất đi sau 14 ngày nuôi cấy so với đối
chứng (không thêm chủng vi khuẩn vào môi trường nuôi cấy).
Hình 7. Phổ sắc ký khí chlorpyrifos trong các điều kiện môi trường khác nhau. (A) MSM + 40 mg/L chlopyriofs không
có vi khuẩn; (B) MSM + 40 mg/L chlopyriofs bổ sung thêm chủng B2; (C) MSM + 40 mg/L chlopyriofs bổ sung thêm
chủng T1; (D) MSM + 40 mg/L chlopyriofs bổ sung thêm chủng W3.
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 44
4. Kết luận
Khả năng sinh trưởng và tốc độ phân hủy
chlorpyrifos của 3 dòng vi khuẩn Acinetobacter
calcoaceticus, Bacillus megaterium,
Sphingomonas pseudosanguims đạt giá trị cao
nhất khi được nuôi cấy trong môi trường MSM
ở nhiệt độ là 30°C, pH =7, nồng độ chlorpyrifos
bổ sung vào trong môi trường từ 10 mg/L – 40
mg/L. Kết quả này cho thấy tiềm năng cao
trong việc sử dụng các chủng vi khuẩn hiếu khí
để loại bỏ tồn dư thuốc trừ sâu chlorpyrifos
trong đất nông nghiệp. Các thí nghiệm tiếp theo
sẽ khảo sát khả năng phân hủy chlorpyrifos của
các loài vi khuẩn Acinetobacter calcoaceticus,
Bacillus megaterium, Sphingomonas
pseudosanguims ngoài đồng ruộng, đồng thời
nghiên cứu các sản phẩm phân hủy
chlorpyrifos, cũng như đánh giá tác động của
các dòng vi khuẩn này đối với môi trường và
con người. Từ đó, ứng dụng để nghiên cứu sản
xuất chế phẩm phân bón vi sinh giúp xử lý dư
lượng chlorpyrifos tồn dư trong đất và kích
thích sự phát triển của cây trồng.
Thông tin tài trợ
Công trình được sự hỗ trợ về kinh phí của đề
tài cơ sở Viện Nghiên cứu Hạt nhân, mã số
CS/20/01-01.
Tài liệu tham khảo
[1] Cuc V. Nâng cao ý thức của người dân trong thu
gom, xử lý bao bì, vỏ thuốc bảo vệ thực vật ở Lâm
Đồng. Tạp chí môi trường. 2018; 7.
[2] Hung HT, Du NT, Hojer J. The first poison control
center in Vietnam: Experiences of Its Initial Years.
Southeast Asian Journal of Tropical Medicine and
Public Health. 2008; 39(2): 310-317.
[3] Aponso ML. Exposure and risknassessment for
farmers occupationally exposed to chlorpyrifos.
Annals of the Sri Lanka Department of Agriculture.
2000; 4:33-44.
[4] Rodriguez T, Younglove L, Lu C, Funez A,
Weppner S, Dana BB, Richard AF. Biological
minitoring of pesticide exposures among applicators
and their children in Nicaragua. International
Journal of Occupational and Environmental Health.
2006; 1(4):31-30.
[5]. Panuwet P, Prapamontol T, Chantara S,
Thavornyuthikarn P, Montesano Ralph DW, Dana
BB. Concentrations of urinary pesticide
metabolitesin small-scale farmersin Chiang Mai
Province, Thailan. Science of The Total
Environment. 2008; 407:655-668.
[6] Singh BK, Walker A. Microbial degradation of
organophosphorus compounds. FEMS Microbiology
Reviews. 2006; 30(3):428–471.
[7] Das S, Adhya TK. Degradation of chlorpyrifos in
tropical rice soils. Journal of Environmental
Management. 2015; 152:36-42.
[8] Cai T, Chen L, Xu J, Cai S. Degradation of
bromoxynil octanoate by strain Acinetobacter sp.
xb2 isolated from contaminated soil. Current
Microbiology. 2011; 63:218–225.
[9] Zhu J, Zhao Y, Ruan H . Comparative study on the
biodegradation of chlorpyrifos-methyl by Bacillus
megaterium CM-Z19 and Pseudomonas ayringae
CM-Z6. Anais da Academia Brasileira de
Ciências. 2019; 91(3).
[10] Yu X, Feng F, Li Y , Ge J, Chen J, Jiang W, He
S , Liu X . Degradation of chlorpyrifos by an
endophytic bacterium of the Sphingomonas genus
(strain HJY) isolated from Chinese chives (Allium
tuberosum. Journal of Environmental Science and
Health B. 2017; 52(10):736-744.
[11] Canh NX, Truong NX, Đao TD, Chi NTK, Trung
NT. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng chuyển hóa urê của các chủng vi khuẩn phân
lập từ chất thải chăn nuôi lợn. Tạp chí Nông nghiệp
và phát triển nông thôn. 2019.
[12] Huyen NTT, Yen DT, Hien LT. Ảnh hưởng của một
số yếu tố đến khả năng sinh khí hydro của chủng vi
khuẩn Clostridium sp. Tr2 trong điều kiện lên men
vi hiếu khí với nguồn cơ chất rỉ đường. Tạp chí sinh
học. 2013; 35(3):66-72.
[13] Mallick K, Bharati K, Banerji A, Shakil NA,
Sethunathan N. Bacterial degradation of
chlorpyrifos in pure cultures and in soil. Bulletin of
Environmental Contamination and Toxicology.
1999; 62:48-54.
[14] Liu X., You M, Wei Y, Liao J, Ye L, Chen J.
Isolation of Chlorpyrifos degrading Aspergillus sp.
Y and measurement of degradation efficiency.
Chinese Journal of Applied & Environmental
Biology. 2003; 9:78-80.
[15] Wang X, Chu XQ, Yu YL, Fang H, Chen J, Song
FM. Characteristics and function of Bacillus
latersprorus DSP in degrading chlorpyrifos. Acta
Pedologica Sinica. 2006; 43:648-654.
[16] Yang L, Zhao YH, Zhang BX, Yang CH, Zhang X.
Isolation and characterization of a chlorpyrifos and
3, 5, 6-trichloro-2-pyridinol degrading bacterium.
FEMS Microbiology Letters. 2005; 251(1):67–73.
Lương Thị Thắm, Nguyễn Tiến Đạt... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 06(43) (2020) 35-45 45
[17] Liu ZY, Chen X, Shi Y, Su ZC. Bacterial
degradation of chlorpyrifos by Bacillus cereus.
Advanced Materials Research. 2012; 356:676–680.
[18] Yang C, Liu N, Guo X, Qiao C. Cloning of mpd
gene from a chlorpyrifos degrading Bacterium and
use of this strain in bioremediation of contaminated
soil. FEMS Microbiology Letters. 2006;
265(1):118–125.
[19] Edwards CA. Soils and Fert. 1964; 27:451-454.
[20] Xin C , Zhiyuan L, Yi S, ZhenCheng S. Bacterial
Degradation of chlorpyrifos by Bacillus cereus.
Advanced Materials Research. 2012; 356-360:676-680.
[21] Mohd AD, Garima K, Juan FVC. Pollution status
and bioremediation of chlorpyrifos in environmental
matrices by the application of bacterial
communities: A review. Journal of Environmental
Management. 2019; 239:124-136.
[22] Greenhalgh R, Dhavan K L, Weinberger P.
Hydrolysis of fenitrothion in model and natural
aquatic system. Journal of Agricultural and Food
Chemistry. 1980; 28:102-105.
[23] Singh BK, Walker A, Morgan JA, Wright DJ.
Effects of Soil pH on the Biodegradation of
chlorpyrifos and isolation of a Chlorpyrifos-
Degrading Bacterium. Applied and Environmental
Microbiology. 2003; 69(9):5198–5206.
[24] Lu P, Li Q, Liu H, Feng Z, Yan X, Hong Q, Li S.
Biodegradation of chlorpyrifos and 3, 5, 6-trichloro-
2-pyridinol by Cupriavidus sp. DT-1. Bioresources.
Technolgy. 2013; 127:337–342.
[25] Acosta-Martínez V, Tabatabai MA. Enzyme
activities in a limed agricultural soil. Biology and
Fertility of Soils. 2000; 31:85–91.
[26] Singh PB, Sharma S, Saini HS, Chadha BS.
Biosurfactant production by
Pseudomonas sp. and its role in aqueous phase
partitioning and biodegradation of
chlorpyrifos. Letters in Applied Microbiology. 2009;
49(3):378–383.
[27] Fulekar MH, Geetha M. Bioremediation of
Chlorpyrifos by Pseudomonas aeruginosa using
scale up technique. Journal of Applied Biosciences.
2008; 12:657–660.
[28] Racke KD, Laskowski DA, Schultz MR. Resistance
of chlorpyrifos to enhanced biodegradation in soil.
Journal of Agricultural and Food Chemistry. 1990;
38(6):1430–1436.
[29] Cáceres T, He W, Naidu R, Megharaj M. Toxicity
of Chlorpyrifos and TCP alone and in combination
to Daphnia carinata: the influence of microbial
degradation in natural water. Water Research. 2007;
41(19):4497-4503.
[30] Cink HJ, Coats JR. Effect of concentration,
temperature, and soil moisture on the degradation of
chlorpyrifos in an Urban Iowa soil. Pesticides in
Urban Environments. 1993; 522.
[31] Fogg P, Boxall ABA, Walker A. Degradation of
pesticides in biobeds: the effect of concentration and
pesticides mixtures. Journal of Agricultural and
Food Chemistry. 2003; 51:5344-5349
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_kha_nang_phan_huy_chlorpyrifos_cua_3_dong_vi_khuan.pdf