KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu đưa đến một số kết luận sau:
Lợn Mán nuôi tại một số huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa có tuổi động
dục lần đầu là 162,1 ngày, tuổi phối giống lần đầu lần là 187 ngày; chu kỳ động dục là
23,5 ngày và thời gian động dục là 3,57 ngày;
Khối lượng trung bình lần đầu động dục là 23,5kg, khối lượng sơ sinh/con là
0,38kg/con; khối lượng 30 ngày tuổi là 3,25kg/con, khối lượng 60 ngày tuổi là
7,45kg/con;
Số con sơ sinh/ổ, số con còn sống đến 30 ngày, số con còn sống đến 60 ngày
lần lượt là 7,4 con/ổ; 6,6 con/ổ và 6,2 con/ổ;
Tỷ lệ móc hàm là 78,12%, tỷ lệ thịt xẻ là 68,9%; tỷ lệ mỡ là 29,37%;
Tỷ lệ da và tỷ lệ xương lần lượt là 13,63% và 15,28%; độ dày mỡ lưng là 3,15cm;
Lợn Mán nuôi tại các huyện miền núi phía Tây của tỉnh Thanh Hoá theo hình
thức thả rông có khả năng thích nghi tốt với các tác động của điều kiện ngoại cảnh
với tỷ lệ nuôi sống ở 30 ngày tuổi là 89% và tỷ lệ nuôi sống tại 60 ngày tuổi là 84%.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn mán nuôi tại một số huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
115
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN, CHẤT LƢỢNG THỊT CỦA LỢN
MÁN NUÔI TẠI MỘT SỐ HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH THANH HÓA
Tống Minh Phƣơng1, Bùi Thị Dịu1, Phan Thị Tƣơi1
TÓM TẮT
Lợn Mán bản địa nuôi tại một số huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa có thời
gian động dục lần đầu ở 162,1 ngày tuổi với trọng lượng cơ thể khoảng 23,5kg. Số con
sơ sinh/ổ và trọng lượng sơ sinh lần lượt là 7,4 con/ổ và 0,38kg/con. Tỷ lệ sống tại 60
ngày tuổi là 84%. Lợn mán nuôi theo phương thức thả rông bằng thức ăn địa phương có
tỷ lệ móc hàm và tỷ lệ thịt xẻ tương ứng là 78,12% và 68,9%; Tỷ lệ thịt nạc và tỷ lệ mỡ
tương ứng là 38,85% và 29,27%; Tỷ lệ da và tỷ lệ xương lần lượt là 13,63% và 15,28%;
độ dày mỡ lưng là 3,15cm.
Từ khóa: Lợn Mán Thanh Hóa, chất lượng thịt, khả năng sinh sản.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại một số huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa có lợn Mán đƣợc nuôi thả
rông quanh nhà, nguồn thức ăn chủ yếu là củ, quả, cỏ trong tự nhiên. Loại lợn này có khả
năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên tại địa phƣơng, chất lƣợng thịt thơm ngon và
nhiều nạc nên đƣợc ngƣời tiêu dùng rất ƣa chuộng. Hơn nữa, đây là nguồn thực phẩm tốt
cho con ngƣời do không có tồn dƣ các chất độc hại (kháng sinh, chất tạo nạc).
Đây là loại lợn quí, song vẫn chƣa đƣợc khảo sát, đánh giá các đặc điểm sinh
học, tính năng sản xuất của chúng một cách có hệ thống. Vì vậy việc khảo sát, đánh
giá, chọn lọc, nhân giống và bảo tồn quĩ gen loại lợn Mán này là việc làm hết sức cần
thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo
sát khả năng sinh sản, chất lượng thịt của lợn Mán nuôi tại một số huyện miền núi tỉnh
Thanh Hóa”.
2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian, vật liệu nguyên cứu
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
1
ThS. Giảng viên khoa NLNN, trường Đại học Hồng Đức
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
116
- Địa điểm nghiên cứu: tại 05 huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa là:
Ngọc Lặc, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Thạch Thành và Quan Sơn.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2012 - 9/2014
- Nguyên vật liệu:
+ Lợn Mán bản địa
+ Thức ăn cho lợn bằng củ quả, các loại rau, củ và cỏ trong tự nhiên có sẵn tại
địa phƣơng.
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá khả năng sinh sản và chất lƣợng thịt của lợn Mán đƣợc nuôi tại một số
huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát về đặc điểm sinh học, sức sản xuất bằng thu thập số liệu trên
đàn lợn nái hậu bị và lợn nái sinh sản tại một số hộ chăn nuôi;
- Phân tích thành phần hóa học thịt lợn Mán theo phƣơng pháp Kjeldahl và
Soxhlet;
- Phƣơng pháp xử lý số liệu đƣợc xử lí trên phần mềm Excell data analysis
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 . Đặc điểm sinh học của lợn Mán
Lợn Mán đƣợc nuôi nhiều ở các tỉnh miền núi Việt Nam trong đó có cả ở các
huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Lợn toàn thấn màu đen xám, riêng ở đầu,
đuôi và chân có màu đem đậm hơn; xƣơng không to, mõm nhọn, mặt ngắn, trán nhăn,
tai bé, mình dài thon, chân gầy, đặc biệt là lông dài và cứng. Khối lƣợng lợn sơ sinh
0,36 kg/con, khối lƣợng trƣởng thành khoảng 50 - 70 kg/con [1].
3.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái Mán hậu bị
Bảng 1. Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn cái Mán hậu bị
Chỉ tiêu theo dõi ĐVT n ± mx Cv (%)
Tuổi động dục lần đầu Ngày 15 162,1 ± 0,72 1,32
Khối lƣợng động dục lần đầu Kg 15 23,5 ± 0,5 4,16
Tuổi phối giống lần đầu Ngày 15 187 ± 3,25 3,89
Chu kỳ động dục Ngày 15 23,5 ± 0,37 3,68
Thời gian động dục Ngày 15 3,57 ± 0,82 3,2
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
117
Bảng 1 thể hiện rằng, lợn Mán hậu bị nuôi tại 05 huyện miền núi phía Tây của
tỉnh Thanh Hóa có tuổi động dục lần đầu trung bình là 162,1 ngày. Kết quả này là sớm
hơn so với lợn ngoại (bình quân từ 6 - 7 tháng), nhƣng muộn hơn khoảng 40 - 42 ngày
so với lợn Móng Cái (120,1 ngày) [1].
Tuổi phối giống lần đầu của loại lợn Mán khoảng 187 ngày, tƣơng đƣơng với
lợn Móng Cái, song ngắn hơn so với các giống lợn ngoại Landrace là 254,1 ngày [3].
Chu kỳ động dục 23,5 ngày, dài hơn trung bình của các giống lợn khác (so với 21 - 22
ngày). Thời gian động dục trung bình của loại lợn Mán cũng tƣơng tự các giống lợn
bản địa khác của Việt Nam (3 - 4 ngày).
Bảng 1 còn cho thấy, khối lƣợng trung bình ở thời điểm động dục lần đầu là
23,5kg, thấp hơn so với các giống lợn ngoại và các giống lợn khác đang nuôi tại Thanh
Hóa hiện nay (lợn ngoại khoảng 55 - 60kg và lợn Móng Cái là 26,5kg) [3].
3.3. Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái Mán
Số con đẻ ra /ổ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhƣ: số trứng rụng, số trứng đƣợc
thụ thai, thời điểm phối giống, đặc tính sinh học của từng giống lợn, cũng nhƣ tập tính
chăn nuôi của địa phƣơng. Lợn Mán nuôi tại các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hóa
thƣờng có số con đẻ ra/ổ thấp. Bảng 3.2 cho thấy, số con sơ sinh/ổ của nái Mán là 7,4
con, kết quả này thấp hơn rất nhiều so với lợn Móng Cái là 12,5 con/ổ [1] và thấp hơn so
với kết quả của lợn lai giữa PiDu x F1 (LY) là 11,75 con/ổ [2].
Bảng 3.2: Kết quả sinh lý sinh lý sinh sản và sức sản suất
Chỉ tiêu ĐVT n ± mx Cv (%)
Số con sơ sinh/ổ Con 15 7,4 ± 0,3 1,62
Số con sống sau 24 h/ổ Con 15 7,4 ± 0,3 1,62
Số con sống sau 30 ngày/ổ Con 15 6,6 ± 0,65 1,6
Số con sống đến 60 ngày/ổ Con 15 6,2 ± 1,46 1,76
KL sơ sinh/con Kg 15 0,38 ± 0,75 0,61
LK 30 ngày tuổi/con Kg 15 3,25 ± 1,21 1,5
KL 60 ngày/con Kg 15 7,45 ± 0,65 0,91
Thời gian động dục trở lại Ngày 15 8,25 ± 0,25 0,68
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
118
Tại bảng 3.2 thể hiện rằng số con sống đến sau 24h của lợn Mán tại Thanh Hóa là
7,4 con. Nếu so sánh với tỷ lệ nuôi sống của các giống lợn lai hoặc nhập nội với tỷ lệ là
90 - 95 % [5] thì tỷ lệ sống đến 24h sau sinh của lợn Mán địa phƣơng của Thanh Hóa là
cao hơn.
Số con còn sống đến 30 ngày tuổi là 6,6 con/ổ và 60 ngày 6,2 con/ổ, đạt tỷ lệ
lần lƣợt là 89% và 84% so với tổng số con sơ sinh, đây cũng là con số khá cao so với
các giống lợn khác hiện có tại Việt Nam. Theo Lê Đình Phùng và CTV thì số con cai
sữa của nái F1 LY (Landrace x Yorshire) x đực DP (Duroc x Pietrain) thì số con cai
sữa ở 24 ngày tuổi là 9,07 con /ổ = 81% tổng số con sơ sinh. Kết quả này một lần nữa
có thể khẳng định rằng, lợn Mán là một giống lợn quí và rất khéo trong việc nuôi con.
Khối lƣợng sơ sinh bình quân là 0,38kg/con, thấp hơn so với các giống lợn nội
khác nhƣ Móng Cái (0,45 - 0,55kg/con) hoặc các giống lợn ngoại nhƣ Landrace hoặc
Yorkshire là 1,3kg/con và 1,2kg/con [5]. Khối lƣợng lợn Mán ở 30 và 60 ngày tuổi lần
lƣợt đạt 3,25kg/con và 7,45/con kg thấp hơn so với các giống lợn nội khác trong nƣớc
cũng nhƣ các giống lợn nhập nội. Điều này cho thấy, lợn Mán tại các huyện miền núi
phía Tây Thanh Hóa có khả năng sinh trƣởng chậm, một phần nguyên nhân là do điều
kiện chăm sóc nuôi dƣỡng của ngƣời dân còn thấp, nguồn thức ăn chủ yếu là từ tự
nhiên, đã làm ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình sinh trƣởng, phát triển của lợn.
Thời gian động dục trở lại là yếu tố quan trọng cấu thành nên năng suất sinh sản
của lợn nái [2], là nguyên nhân ảnh hƣởng đến năng suất sinh sản của nái cũng nhƣ
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Theo bảng 3.2 thì thời gian động dục của lợn Mán
nuôi tại các huyện phía Tây của Thanh Hóa (8,25) dài hơn so với các giống lợn lai khác
nhƣ F1(LY) là 5,46 ngày hay F1 (YL) là 5,36 ngày [5].
3.4. Kết quả mổ khảo sát
Bảng 3.3. Kết quả mổ khảo sát lợn Mán nuôi
tại 05 huyện miền núi phía Tây Thanh Hóa (n = 5)
Chỉ tiêu ĐVT ± mx
Cv
(%)
Chỉ tiêu ĐVT ± mx Cv (%)
KL sống Kg 54,46 ± 6,23 15,4 TL thịt nạc % 38,85± 0,78 3,45
KL móc hàm Kg 42,15 ± 5,42 17,1 TL thịt mỡ % 29,37 ± 82 3,32
KL thịt xẻ Kg 36,45 ± 3,68 15,65 TL xƣơng % 15,28 ± 0,68 3,67
TL móc hàm % 78,12 ± 7,69 18,01 TL da % 13,63 ± 1,65 4,53
TL thịt xẻ % 68,9 ± 7,21 18,05 Dày mỡ lƣng cm 3,15 ± 0,82 15,63
Bảng 3.3. Thể hiện rằng, các nhóm lợn Mán nuôi tại các huyện phía Tây tỉnh
Thanh Hóa có tỷ lệ thịt móc hàm là tỉ lệ thịt xẻ khá cao tƣơng ứng là 78,12% và 68,9%
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
119
các con số này cao hơn so với giống lợn Kiềng Sắt (74,1% và 60,2%) đƣợc nuôi tại tỉnh
Quảng Ngãi [7]. Tuy nhiên, nếu so với các giống lợn Ngoại nhƣ Landrace; Yorkshire
hay một số giống lợn lai F1 đang đƣợc nuôi ở Thanh Hóa thì con số này thấp hơn. Kết
quả là tƣơng tự đối với tỷ lệ nạc của các nhóm lợn Mán này khi so sánh với lợn
Landrace (56%) nhƣng lại cao hơn so với lợn Ỉ (34 - 35%).
Tỷ lệ mỡ của các nhóm lợn Mán trung bình 29 % đây là con số thấp nhất trong
các giống lợn nội tại Việt Nam (Kiềng Sắt: 45,8%; Ỉ: 45%; Lang Hồng: 41%; Mƣờng
Khƣơng: 42%). Tỷ lệ này là một đặc điểm sinh học quí đối với ngƣời chăn nuôi, nó có
thể là do đặc điểm sinh học của giống, tuy nhiên cũng do đặc điểm chăm sóc và nuôi
dƣỡng (thức ăn có hàm lƣợng dinh dƣỡng thấp, thời gian sinh trƣởng kéo dài).
Tỉ lệ da và độ dày mỡ lƣng của lợn Mán tại các huyện phí tây tỉnh Thanh Hoá là
khá cao tƣơng ứng là 13,6% và 3,15cm, các chỉ số này ở lợn Kiềng Sắt lần lƣợt là
14,9% và 2,34cm [7]. Điều này cho thấy, có thể do sinh sống chủ yếu trên vùng núi
cao, thời tiết khắc nghiệt nên lợn có lớp mỡ dày hơn, nhằm chống lại các yếu tố bất lợi
của thời tiết.
3.5. Kết quả phân tích chất lƣợng thịt lợn Mán
Bảng 3.4. Kết quả phân tích chất lƣợng thịt lợn Mán tại các huyện
Địa điểm Thành phần thịt VCK (%) Protein (%) Lipit (%) Khoáng (%)
Ngọc Lặc
Thịt thăn 24,52 21,32 1,28 1,31
Thịt vai 23,61 20,57 1,57 1,85
Thịt mông 24,67 21,76 1,38 1,39
Trung bình 24,26 21,21 1,41 1,52
Cẩm Thủy
Thịt thăn 24,96 22,01 1,58 1,42
Thịt vai 23,28 20,06 1,62 1,71
Thịt mông
Trung bình
24,12
24,12
22,16
21,41
1,54
1,58
1,56
1,57
Lang Chánh
Thịt thăn 24,98 20,08 1,51 1,28
Thịt vai 22,83 21,01 1,14 1,56
Thịt mông
Trung bình
24,76
24,19
21,98
21,02
1,61
1,42
1,23
1,35
Thạch Thành Thịt thăn 25,01 22,31 1,62 1,41
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
120
Thịt vai 23,48 20,96 1,74 1,92
Thịt mông
Trung bình
24,09
24,2
22,07
21,8
1,59
1,65
1,64
1,66
Quan Sơn
Thịt thăn 23,92 21,32 1,08 1,21
Thịt vai 24,61 20,62 1,52 1,96
Thịt mông
Trung bình
24,79
24,44
21,76
21,23
1,32
1,32
1,38
1,51
Qua bảng 3.4 thấy rằng; tỷ lệ protein của thịt lợn Mán nuôi tại Ngọc Lặc, Cẩm
Thủy, Lang Chánh, Thạch Thành và Quan Sơn là gần nhƣ tƣơng đƣơng nhau, sự khác
biệt ở đây là rất nhỏ. Tỷ lệ này lần lƣợt là 21,21; 21,41; 21,02; 21,8; 21,23. tỉ số này ở
lipit là: 1,41; 1,58; 1,42; 1,65; 1,32. Các kết quả này nếu so sánh với các thành phần
thịt lợn ngoại đƣợc nuôi tại Thanh Hóa với tỉ lệ protein; lipid; khoáng lần lƣợt là 21,01;
1,29; 1,19 [2] thì kết quả của lợn Mán nuôi tại Thanh Hóa cho kết quả cao hơn, điều
này có thể cho thấy rằng, lợn Mán có những đặc điểm sinh học di truyền về giống rất
quí phục vụ cho công tác duy trì và phát triển đàn lợn của chúng ta.
4. KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu đƣa đến một số kết luận sau:
Lợn Mán nuôi tại một số huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa có tuổi động
dục lần đầu là 162,1 ngày, tuổi phối giống lần đầu lần là 187 ngày; chu kỳ động dục là
23,5 ngày và thời gian động dục là 3,57 ngày;
Khối lƣợng trung bình lần đầu động dục là 23,5kg, khối lƣợng sơ sinh/con là
0,38kg/con; khối lƣợng 30 ngày tuổi là 3,25kg/con, khối lƣợng 60 ngày tuổi là
7,45kg/con;
Số con sơ sinh/ổ, số con còn sống đến 30 ngày, số con còn sống đến 60 ngày
lần lƣợt là 7,4 con/ổ; 6,6 con/ổ và 6,2 con/ổ;
Tỷ lệ móc hàm là 78,12%, tỷ lệ thịt xẻ là 68,9%; tỷ lệ mỡ là 29,37%;
Tỷ lệ da và tỷ lệ xƣơng lần lƣợt là 13,63% và 15,28%; độ dày mỡ lƣng là 3,15cm;
Lợn Mán nuôi tại các huyện miền núi phía Tây của tỉnh Thanh Hoá theo hình
thức thả rông có khả năng thích nghi tốt với các tác động của điều kiện ngoại cảnh
với tỷ lệ nuôi sống ở 30 ngày tuổi là 89% và tỷ lệ nuôi sống tại 60 ngày tuổi là 84%.
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 25. 2015
121
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Hữu Doanh (1985): Một số đặc điểm về tính năng sản xuất của giống lợn
nội, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
[2] Phạm Xuân Hảo, Hoàng Thị Thuý (2009), Năng suất sinh sản và sinh trưởng của
các tôt hợp lai giữa nái Landrace, Yorshire và F1 (LxY) phối với đực lai giữa
Petrain và Duroc. Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 7 - số 3; trang 272.
[3] Trần Quang Hân và CTV (2002): “Kiểm tra năng suất nái sinh sản và con lai của
giống lợn Landrace và Yorkshire”.
[4] Lê Đình Phùng (2009), Khả năng sinh sản của nái lai F1 (LY) phối tinh với đực
F1 (Duroc x Petain) trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại Quảng Bình. Tạp chí
khoa học - Đại học Huế, số 55; trang 43 - 44.
[5] Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011), Khả năng sinh sản của nái lai F1 (LY),
F1 (YL) với đực Duroc và L19. Tạp chí Khoa học và Phát triển; tập 9, số 4; trang
43 - 44
[6] Nguyễn Văn Thiện (1997), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb. Nông
nghiệp, Hà Nội.
[7] Hồ Trung Thông (2011): Nghiên cứu một số chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt của lợn
Kiềng Sắt ở Quảng Ngãi. Tạp chí khoa học - Đại học Huế, số 67, năm 2011.
THE REPRODUCTIVITY AND MEAT QUALITY OF THE
NATIVE BLACK PIGS IN SOME WEST DISTRICT IN
THANH HOA PROVINCE
Tong Minh Phuong, Bui Thi Diu, Phan Thi Tuoi
ABSTRACT
The experiment was conducted to study on the reproductivity and meat quality
of the native black pig raised in some west district in Thanh Hoa province. The result
revealed that gilts coming to the first estrous cycle at 162,1 days of age with the body
weight of 23,5 kg. The newborn number and the BW of Den piglet was 7,4 heads/litter
and 0,38 kg/head, respectively. The live ability at 60 days old was around 84 % that
higher than some other native swine breeds. The rate of dressing and carcass was
nearly 78,12 % and 68,9 %....The rate of lean meat and fat was 38,85 % and 29,27 %
respective. The meat protein, fat and mineral rate of native black pigs raised in west
district in Thanh Hoa province was higher than other exotic pigs.
Key words: Native black pigs, Thanh Hoa province, Meat quality, reproductivity
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_kha_nang_sinh_san_chat_luong_thit_cua_lon_man_nuoi.pdf