Tác động gây đứt gãy mạch đôi DNA (DSB)
trong tế bào AGS của chủng DN18
Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng sự phosphoryl hóa protein histon H2AX tạo thành g-H2AX
là một chỉ thị (marker) đặc trưng cho DSB và không
tạo thành trong các tổn thương DNA khác9,26. Xie và
cộng sự (2014) đã nghiên cứu sự biểu hiện g-H2AX
trong các mẫu mô dạ dày người đã nhận thấy mức độ
g-H2AX gia tăng dần từ giai đoạn viêm dạ dày mạn
tính, chuyển sản ruột, loạn sản và nhận thấy mức độ
g-H2AX cao hơn khi có sự hiện diện của H. pylori27 .
Toller và cộng sự (2011) kiểm tra sự hoạt hóa của con
đường sửa sai DNA trong các tế bào AGS nhiễm H.
pylori và kết luận rằng, sự nhiễm H. pylori cảm ứng
sự hình thành của DSB thông qua sự tương tác trực
tiếp giữa tác nhân gây bệnh với tế bào chủ, được đánh
giá thông qua sự phosphoryl hóa của H2AX và ức chế
các con đường sửa sai DSB9. Mặc dù cho tới nay các
nghiên cứu về tác động của H. pylori còn nhiều hạn
chế nhưng các bằng chứng trên cho thấy sự nhiễm H.
pylori thúc đẩy hình thành DSB qua nhiều con đường
khác nhau, góp phần vào sự mất ổn định bộ gene của
tế bào và dẫn tới ung thư.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát
sự biểu hiện g-H2AX để đánh giá mức độ DSB của
tế bào AGS nhiễm bởi các chủng H. pylori sau 12 giờ,
24 giờ và 48 giờ bằng thử nghiệm Western Blot. Bên
cạnh đó, camptothecin đã được chứng minh cảm ứng
DSB trong tế bào28,29 nên camptothecin (0,01 mg/ml)
được sử dụng để kiểm tra khả năng tạo DSB trong tế
bào AGS. Kết quả cho thấy sau khi cảm ứng camptothecin sau 48 giờ, mức độ hoạt hóa g-H2AX tăng lên
3,08 ± 0,53 lần trong tế bào AGS so với tế bào không
cảm ứng, chứng tỏ camptothecin có thể tạo DSB trong
tế bào AGS và quy trình nghiên cứu có thể xác định
được mức độ hình thành g-H2AX và quy trình ổn
định giữ các lần. Đối với tế bào nhiễm chủng DN18,
sau 12 giờ nhiễm, mức độ hình thành g-H2AX trong
tế bào AGS bằng 0,98 ± 0,48 lần so với tế bào không
nhiễm, bắt đầu có xu hướng tăng lên 1,27 ± 0,27 lần
tại 24 giờ và lên cao nhất đạt 2,44 ± 0,96 lần tại 48h
(Hình 4). Như vậy, kết quả của nghiên cứu cho thấy
chủng Việt Nam DN18 có khả năng gây DSB thông
qua sự tăng phosphoryl hóa H2AX.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát tác động của chủng Helicobacter pylori DN18 phân lập tại Việt Nam lên sự hoạt hóa con đường NF-KB và H2AX trên dòng tế bào AGS, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
Open Access Full Text Article Bài nghiên cứu
Bộ môn Di truyền, Khoa Sinh học –
Công nghệ sinh học, Trường Đại học
Khoa học Tự Nhiên, ĐHQG-HCM, Việt
Nam
Liên hệ
Phạm Thị Hồng Đào, Bộ môn Di truyền,
Khoa Sinh học – Công nghệ sinh học, Trường
Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQG-HCM, Việt
Nam
Email: pthdao@hcmus.edu.vn
Liên hệ
Nguyễn Thụy Vy, Bộ môn Di truyền, Khoa
Sinh học – Công nghệ sinh học, Trường Đại
học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQG-HCM, Việt
Nam
Email: ntvy@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 19-3-2020
Ngày chấp nhận: 18-5-2020
Ngày đăng: 15-6-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i2.898
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Khảo sát tác động của chủng Helicobacter pylori DN18 phân lập tại
Việt Nam lên sự hoạt hóa con đường NF-kB và H2AX trên dòng tế
bào AGS
Phạm Thị Hồng Đào*, Hồ Thị Mỹ Trang, Nguyễn Thụy Vy*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Nhiễm Helicobacter pylori (H. pylori) là một trong những yếu tố chính gây tăng nguy cơ phát triển
ung thư dạ dày (UTDD). Cơ chế phân tử hình thành UTDD gây ra bởi H. pylori vẫn chưa được hiểu
một cách rõ ràng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự nhiễm H. pylori thúc đẩy quá trình ung
thư thông qua kích thích quá trình viêm và gây mất ổn định bộ gene tế bào biểu mô dạ dày. Bên
cạnh đó, tác động của H. pylori lên tế bào chủ liên quan đến các độc tố của vi khuẩn và các độc
tố này có sự đa dạng giữa các vùng địa lý và dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu này hướng tới khảo sát
tác động của chủng H. pyloriDN18 phân lập từ bệnh nhân Việt Nam lên sự hoạt động của nhân tố
phiênmã NF-kB, một tác nhân điều hòa then chốt của quá trình viêm và sự biểu hiện của các gene
đích của nó. Hơn nữa, tác động mất ổn định bộ gene cũng được nghiên cứu thông qua sự tích
lũy các đứt gãy mạch đôi DNA (DSB), sử dụng chỉ thị là sự phosphoryl hóa protein histone H2AX
(gH2AX). Kết quả cho thấy chủngDN18 cảm ứng gây viêm trong tế bào biểumô dạ dày AGS, thông
qua gia tăng hoạt động NF-kB và biểu hiện ởmức phiênmã các chất trung gian gây viêm như IL-8,
COX-2. Nhiễm chủng DN18 cũng làm tăng sự phosphoryl hóa gH2AX trong tế bào AGS. Như vậy,
nghiên cứu của chúng tôi bước đầu cho thấy khả năng gây viêm và gây tổn thương DNA tế bào
chủ của vi khuẩn H. pylori phân lập từ bệnh nhân Việt Nam.
Từ khoá: Helicobacter pylori, ung thư dạ dày, viêm, đứt gãy mạch đôi DNA, bất ổn định bộ gen
MỞĐẦU
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong những bệnh lý
gây tử vong hàng đầu ở người. Theo thống kê của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới (WHO), UTDD đứng thứ ba về
tỷ lệ tử vong trong các bệnh ung thư và gây ra cái chết
cho hơn 700.000 người mỗi năm1. Trong các yếu tố
nguy cơ dẫn đến UTDD, nhiễm vi khuẩnHelicobacter
pylori (H. pylori) được WHO xác định là yếu tố gây
ung thư nhóm I. Vi khuẩn H. pylori thúc đẩy tế bào
biểu mô hình thành khối u thông qua nhiều tác động
khác nhau. Trong đó, tác động gây viêm và gâymất ổn
định bộ gene củaH. pylori là hai tác động then chốt và
được nghiên cứu nhiều, điều hòa nhiều nhân tố quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển khối
u2,3.
Tác động quan trọng nhất của H. pylori dẫn tới phản
ứng viêm là sự hoạt hóa quá mức nhân tố phiên mã
NF-kB, dẫn đến tăng biểu hiện bất thường các chất
trung gian gây viêmở cả tế bào biểumô và tế bàomiễn
dịch4. Ở tế bào biểumô, IL-8 và COX-2 là hai protein
quan trọng đóng vai trò điều biến quá trình viêm khi
nhiễmH. pylori và cytokine IL-6 cũng đã được chứng
minh liên quan đến tiến trình hình thành UTDD gây
ra bởiH. pylori 5,6. Bên cạnh đó, đặc trưng của tế bào
UTDD khi nhiễmH. pylori là sự bất ổn định bộ gene.
Đặc biệt, một số nghiên cứu gần đây cho thấy có sự
gia tăng đáng kể các đứt gãy DNA mạch đôi (DSB),
một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bất ổn
định NST trong các tế bào biểu mô dạ dày nhiễm H.
pylori 7–9.
Hơn nữa, các chủng H. pylori thuộc các vùng địa lý
khác nhau có đặc điểm kiểu gene khác nhau và sự đa
dạng di truyền này đã dẫn đến sự đa dạng trong độc
lực hay khảnăng tác động lên tế bào chủ của các chủng
H. pylori10. Cho tới hiện nay, các chủngH. pylori Việt
Nam chủ yếu được nghiên cứu về dịch tễ học và có rất
ít công trình cho thấy tác động của các chủng này lên
tế bào chủ. Vì vậy, nghiên cứu này hướng tới mục tiêu
khảo sát tác động gây viêm thông qua hoạt hóa NF-
kB, dẫn đến cảm ứng biểu hiện các chất trung gian
gây viêm IL-8, IL-6 và COX-2 ởmức độ phiênmã của
một chủng H. pylori Việt Nam trên mô hình dòng
tế bào biểu mô dạ dày người AGS. Đồng thời, nghiên
cứu cũng khảo sát tác động gây đứt gãymạch đôiDNA
thông qua hoạt hóa H2AX trong tế bào này.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trích dẫn bài báo này: Đào P T H, Trang H T M, Vy N T. Khảo sát tác động của chủng Helicobacter pylori
DN18 phân lập tại Việt Nam lên sự hoạt hóa con đường NF-k B và H2AX trên dòng tế bào AGS. Sci.
Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(2):547-555.
547
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
Vật liệu
- Dòng tế bào ung thư biểu mô dạ dày người AGS
(ATCC CRL 1739)
- Chủng H. pylori phân lập từ mẫu sinh thiết dạ dày
của bệnh nhân viêm dạ dày Việt Nam: DN18.
Phương pháp
Phân lập và xác định kiểu gene cagA, vacA
của H. pylori
Mẫu sinh thiết dạ dày được nghiền trong 100 m l môi
trường Brain Heart Infusion (BHI)(BD), trải trên đĩa
môi trường thạch chọn lọc Columbia (BD) bổ sung
10% máu cừu, 1% iso vitalex (BD) và hỗn hợp kháng
sinh Skirrow’s selective supplement (SR96) gồm các
kháng sinh amphotericin, trimethoprim, polymyxin
B và vancomycin (Sigma Aldrich). Sau 4 - 7 ngày
ủ, các khuẩn lạc thu được sẽ được định danh thông
qua quan sát hình thái và thử nghiệm sinh hóa ure-
ase. Đồng thời, sử dụng phương pháp Mutiplex PCR
trên khuẩn lạc H. pylori để xác định các kiểu gene
cagA, vacA. Qui trình PCR và cặp mồi cagA, vacA
s1/s2 được công bố trong bài báo của Nguyễn Tuấn
Anh và cộng sự năm 2010 11 kết hợp với cặpmồi vacA
m1/m212. Chúng tôi chọn chứng dương là DNA bộ
gene chủng H. pylori 26695 (ATCC 700392, cagA+,
s1m1) và Tx30A (ATCC 51932, cagA-, s2m2), chứng
âm là mẫu không chứa H. pylori. Kết quả được kiểm
tra bằng phương pháp điện di trên gel 5%. Các gene
độc tố được xác định của H. pylori lần lượt có kích
thước như sau: cagA – 349 bp, vacA s1/s2 – 259 bp/286
bp, vacA m1/m2 – 401 bp/476 bp.
Nuôi cấy H. pylori
H. pylori được nuôi trên đĩa thạch bổ sung 5% máu
cừu và hỗn hợp kháng sinh SR96, ở 37oC trong điều
kiện vi hiếu khí, sử dụng hệ thống hộp khí (BD Gas-
Pak EZ standard incubation container - 260002) và
túi khí (BD gaspak ez campy container system sachets
- 260680) trong 4 ngày và được cấy chuyền qua một
đĩa thạch máu khác nuôi trong 2 ngày. Cuối cùng,
vi khuẩn được nuôi lỏng trong môi trường BHI, bổ
sung 10% FBS (SigmaAldrich) đã bất hoạt nhiệt 56oC
trong 30 phút và hỗn hợp kháng sinh SR96, nuôi lắc
130 vòng/phút trong 16 giờ ở 37oC điều kiện vi hiếu
khí. Mật độ vi khuẩn được xác định bằng cách đo
mật độ quang ở bước sóng 600nm (1OD600 = 2x108
CFU/ml).
Nuôi cấy AGS
Dòng tế bào AGS được nuôi cấy bám dính trong môi
trường RPMI 1640 (Hyclone) bổ sung 10% FBS đã
bất hoạt nhiệt, 2 mM glutamine, 100 U/ml penicillin
và 100 mg/ml treptomycin, 0,5 mg/ml amphotericin
trong điều kiện 5% CO2 ở 37oC. Tất các các hóa chất
phamôi trường nuôi cấy tế bào đều được cung cấp bởi
hãng Sigma Aldrich.
PhươngphápnhiễmH. pylori vào tếbàoAGS
Tế bào AGS được cấy vào đĩa nuôi cấy 6 giếng với mật
độ 2x105 tế bào/giếng trước khi nhiễm 24h. Dịch vi
khuẩn sau khi nuôi lỏng được ly tâm 3200 g trong 10
phút, 4oC, loại bỏ môi trường BHI, rửa với PBS 1X và
vi khuẩn được hòa trong môi trường RPMI 1640 có
bổ sung 10% FBS, 2 mM glutamine, không có kháng
sinh. Nhiễm vi khuẩn vào tế bào với MOI 100 ở tất cả
các thử nghiệm.
Phương pháp biến nạp và thử nghiệm lu-
ciferase reporter
Tế bào AGS được cấy trên đĩa 96 giếng và cấy 0,5x104
tế bào/giếng. Sau 24 giờ, chúng tôi sử dụng phương
pháp hóa biến nạp, sử dụng 0,2 m l hóa chất TurboFect
Transfection Reagent (Thermo) biến nạp hai plasmid
pGL4.32 (50 ng) và pRL-SV40 (5 ng) cho mỗi giếng.
Sau khi biến nạp 24h, chúng tôi tiến hành nhiễm vi
khuẩn vào tế bào. Plasmid pGL4.32 mang gene mã
hóa cho enzyme firefly luciferase (luc2P) và sự biểu
hiện của gene này chịu sự điều khiển của nhân tố
phiênmãNF-kB thông qua yếu tố đáp ứng vớiNF-kB
nằm ở thượng nguồn gene. Plasmid pRL-SV40 mang
genemã hóa enzyme Renilla luciferase (Rluc), có pro-
moter cho phép biểu hiện gene Renilla luciferase như
nhau giữa các tế bào.
Chúng tôi sử dụng hệ thống Dual-Glo Luciferase As-
say (Promega) để phân tích hoạt động luciferase. Kết
quả hiển thị sẽ là cường độ ánh sáng phát ra trong
các mẫu thí nghiệm được đo bằng máy Synergy HT
Multi-Detection Reader. Trong mỗi mẫu sẽ có hai giá
trị: giá trị tương ứng với luciferase firefly (LF) biểu thị
cho hoạt động của NF-kB và giá trị tương ứng với lu-
ciferase Renilla (LR) được xem như là chứng nội dùng
để chuẩn hóa hiệu suất biến nạp và số lượng tế bào
giữa các mẫu. Số lần thay đổi (n) mức độ hoạt hóa
NF-kB trong các mẫu nhiễmH. pylori được tính theo
công thức:
n=
LF
LR
(1)
LF
LR
(2)
Trong đó: (1): Mẫu nhiễm; (2): Mẫu không nhiễm.
Real-time RT PCR
Tế bào AGS được thu sau khi nhiễm 12 và 24 giờ, sau
đó tách chiết thu RNA tổng số bằng kit RNAspinMini
548
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
Kit (GE Healthcare). mRNA sau khi tách chiết được
phiên mã ngược thành cDNA, sử dụng mồi hexamer,
kit Affinity Script RT (Agilent). Phản ứng real-time
PCR sử dụng cặp mồi đặc hiệu cho IL-8, IL-6, COX-2
và GADPH, chất phát huỳnh quang là EvaGreen (Bi-
otium). Kết quả thay đổi biểu hiện gene được thể hiện
qua sự khác biệt giá trị Ct (threshold Cycle) – là chu
kỳ phản ánh số bản sao DNA hiện diện trong mẫu ở
thời điểm đó. GADPH được sử dụng làm chứng nội,
thông tin các cặp mồi được thể hiện ở Bảng 1.
Giá trị Ct của mẫu nhiễm và mẫu không nhiễm được
sử dụng để tính tỷ lệ thay đổi biểu hiện gene. Mức độ
thay đổi biểu hiện gene được tính theo công thức:
Mức độ thay đổi biểu hiện gene= 2 44Ct
Trong đó: DDCt=DCt(nhiễm) - DCt(không nhiễm)
DCt=Ct(gene mục tiêu) - Ct(gene chứng nội)
Kết quả là số lần thay đổi biểu hiện gene (tăng/giảm)
của gene mục tiêu ở mẫu nhiễm so với mẫu không
nhiễm đã được chuẩn hóa với biểu hiện của GADPH.
Phương phápWestern Blot
Sau khi nhiễm 12, 24 và 48 giờ, tế bào được thu và ly
giải thu nhận protein tổng rồi được biến tính và phân
tách kích thước trên gel polyacrilamide. Sau đó, pro-
tein này được chuyển lên màng lai và cuối cùng được
phát hiện bởi các kháng thể chuyên biệt, sử dụng các
kháng thể sơ cấp anti-g-H2AX (sc-517348) và anti-b -
actin (sc-81178), kháng thể thứ cấp anti-mouse-HRP
(P0260), sử dụng phầnmềm ImageJ để phân tích hình
ảnh. Nghiên cứu này sử dụng protein “giữ nhà” b -
actin để làm chứng nội chuẩn hóa lượng protein tổng
trong các mẫu.
Công thức định lượng tương đối sự biểu hiện của pro-
tein mục tiêu ở tế bào nhiễm H. pylori với tế bào
chứng không nhiễm, thu ngay ở thời điểm 0 giờ:
Số lần thay đổi biểu hiện protein
=
g H2AX
b actin (1)
g H2AX
b actin (2)
Với (1): Mẫu nhiễm; (2): Mẫu không nhiễm.
Xử lý và phân tích thống kê
Các thí nghiệm được lặp lại ít nhất 3 lần độc lập. Xử lý
thống kê bằng phầnmềmPrism5Graph, phương pháp
thống kê Student’s t-test 2 chiều, với (*) p-value <0,05;
(**) p-value < 0,01; (***) p-value < 0,001. Số liệu thí
nghiệm được trình bày ở dạng: Trung bìnhĐộ lệch
chuẩn (Mean SD).
Hình 1: Kết quả thử nghiệm sinh hóa urease (A) và
xác định kiểu gene cagA, vacA của chủng DN18 (B).
Giếng 1: chứng âm, giếng 2: chủng Tx30a (cagA-
vacA s2m2), giếng 3: chủng 26695 (cagA+ vacA
s1m1), giếng 4: chủng DN18, giếng 5: thang DNA
100bp
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Phân lập và xác định kiểu gene cagA, vacA
của chủng DN18
Mẫu sinh thiết sau khi nghiền và cấy trải trên môi
trường chọn lọc thu được các khuẩn lạc đơn. Sau đó,
chúng tôi chọn một khuẩn lạc để nuôi tăng sinh và
thử nghiệm sinh hóa urease. Kết quả cho thấy khuẩn
lạc được chọn thể hiện đặc tính phân huỷ urea thành
amoniac củaH. pylori, dung dịch chuyển từmàu vàng
sang hồng (Hình 1 A). Đồng thời, chúng tôi cũng tiến
hành xác định kiểu gene cagA, vacA của chủng phân
lập DN18 bằng phương pháp PCR điện di với các cặp
mồi chuyên biệt11,12. Các gene cagA và vacA là những
gene độc tố điển hình và được nghiên cứu nhiều ở
H. pylori 13. Việc định type hai gene gây độc này bên
cạnh việc chứng minh các chủng phân lập thực sự là
H. pylori còn giúp có cái nhìn sơ bộ về gene gây độc
của các chủngH. pylori. Chúng tôi chọn chứng dương
là chủng H. pylori 26695 (cagA+, s1m1) và Tx30A
(cagA-, s2m2), chứng âm là mẫu không chứa H. py-
lori. Kết quả điện di cho thấy, mẫu DN18 cho 3 vạch
tương ứng với các kích thước 349 bp (cagA), 259 bp
(vacA s1) và 401 bp (vacA m1) (Hình 1 B). Như vậy,
chủngDN18 phân lập từ bệnh nhânViệt Nam có kiểu
gene cagA+ và vacA kiểu s1m1 giống với kiểu gene của
chủng chuẩn 26695.
Mức độ hoạt hóa NF-kB trong tế bào AGS
nhiễm chủng DN18
NF-kB đã được chứngminh là một nhân tố phiênmã
đóng vai trò then chốt điều hòa phiên mã nhiều gene
quan trọng trong tế bào người4. Sự nhiễm H. pylori
làm mất kiểm soát hoạt động của con đường NF-kB
có thể dẫn đến ung thư thông qua các quá trình điều
hòa sự sống sót, tăng trưởng, di căn của các tế bào ung
thư. Một số nhóm nghiên cứu trước sử dụng phương
pháp electrophoretic mobility shift analyses (EMSA)
để phân tích mức độ hoạt hóa NF-kB bằng việc xác
549
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
Bảng 1: Thông tin các cặpmồi
Gene Trình tự mồi
(5’-3’)
Kích thước
(bp)
IL-8 Mồi xuôi ATACTCCAAACCTTTCCACCC 143
Mồi ngược TCTGCACCCAGTTTTCCTTG
COX-2 Mồi xuôi ACAGGCTTCCATTGACCAG 147
Mồi ngược TCACCATAGAGTGCTTCCAAC
IL-6 Mồi xuôi CCACTCACCTCTTCAGAACG 150
Mồi ngược CATCTTTGGAAGGTTCAGGTTG
GADPH Mồi xuôi GAAGGTGAAGGTCGGAGTC 226
Mồi ngược GAAGATGGTGATGGGATTTC
địnhmức độNF-kB trong dịch tách chiết nhân tế bào
AGS.Nghiên cứu cho thấyH. pylori gây ra sự hoạt hóa
NF-kBnhanh chóng, bắt đầu hoạt hóa 30 phút sau khi
nhiễm và gia tăng cao từ 2 đến 4 giờ 14,15. Bên cạnh
đó, các nghiên cứu sử dụng phương pháp luciferase
reporter lại thực hiện ở các thời điểm nhiễm trễ hơn
bởi vì gene reporter cầnmột khoảng thời gian để biểu
hiện15,16. Vì vậy, chúng tôi thực hiện phân tích hoạt
hóa NF-kB ở tế bào AGS nhiễm chủng DN18 sau 6
giờ nhiễm. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cho thấymức
độ hoạt hóa NF-kB trong tế bào ung thư biểu mô dạ
dày AGS gia tăng khi cảm ứng với tác nhân gây viêm
TNF-a 15,16. Do đó, chúng tôi cảm ứng TNF-a (50
ng/ml) để kiểm tra khả năng hoạt hóa NF-kB trong
tế bào AGS cũng như mức độ ổn định của quy trình
thử nghiệm luciferase reporter.
Kết quả cho thấy, tế bào cảm ứng TNF-a làm tăng
mức độ hoạt hóa NF-kB 8,82 0,79 lần so với tế bào
không cảm ứng, chứng tỏ khả năng hoạt hóa NF-kB
trong tế bàoAGS và thử nghiệm luciferase reporter ổn
định qua các lần. Đối với chủng DN18, mức độ hoạt
hóa NF-kB trong tế bào AGS sau khi nhiễm tăng rõ
rệt, tăng 13,06 2,96 lần so với tế bào không nhiễm
(Hình 2). Như vậy, kết quả trên cho thấy chủng H.
pylori DN18 có tác động làm tăng mức độ hoạt hóa
NF-kB, phù hợp với các nghiên cứu trước về tác động
của H. pylori lên sự hoạt hóa NF-kB14–16.
Tác động làm thay đổi biểu hiện ở mức
phiênmã các gene IL-8, IL-6 và COX-2 trong
tế bào AGS của chủng DN18
Sự tăng mức độ hoạt hóa nhân tố phiên mã NF-kB
trong trong tế bào biểu mô khi nhiễm H. pylori dẫn
đến phản ứng viêm thông qua cảm ứng tăng biểu hiện
chemokine tiền viêm IL-8 là một trong những cơ chế
quyết định cho quá trình viêm đặc trưng ở tế bào biểu
mô khi đáp ứng với sự nhiễm H. pylori và trong tiến
Hình 2: Mức độ hoạt hóa NF-kB trong tế bào AGS
nhiễm chủng DN18 và cảm ứng TNF-a
trình dẫn tới UTDD. Bên cạnh IL-8, sự hoạt hóa NF-
kB trong tế bào biểumô còn thúc đẩy biểu hiện COX-
2 và IL-6, có vai trò quan trọng trong nhiều giai đoạn
khác nhau trong hình thành và phát triển UTDD. Do
đó, chúng tôi thu tế bào sau khi nhiễm 12 và 24 giờ
và thực hiện định lượng mRNA IL-8, IL-6 và COX-2
bằng phương pháp real-time RT-PCR.
Các nghiên cứu cho thấy mức độ biểu hiện cao IL-
8 trong biểu mô dạ dày tương quan chặt chẽ với nguy
cơUTDD vàmức độ IL-8 cao trong huyết thanh đóng
vai trò là chỉ thị cho UTDD17,18. Các nghiên cứu cho
thấy H. pylori cảm ứng biểu hiện IL-8 trong tế bào
biểu mô dạ dày, tương quan mạnh mẽ với chức năng
của protein CagA và liên quan tới nhiều độc tố khác
của vi khuẩn như peptidoglycan, DupA, lipopolysac-
charide,15,19. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy
chủng DN18 sau 12 giờ nhiễm làm gia tăng mức độ
biểu hiện mRNA IL-8 trong tế bào AGS lên cao đến
29,4 2,7 lần so với tế bào không nhiễm và tiếp tục
550
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
tăng lên 136,1 25,7 lần sau 24 giờ nhiễm (Hình 3
A).
Bên cạnh IL-8, IL-6 là yếu tố trung gian gây viêm đã
được báo cáo có vai trò trong sự viêm liên quan đến
sự phát triển ung thư. Sự tiết IL-6 khi nhiễmH. pylori
gây ra bởi sự hoạt hóa NF-kB, dẫn đến sự tăng trưởng
và phân chia tế bào, ức chế apoptosis, giải phóng các
nhân tố tăng trưởng khác. Tuy nhiên, cho tới hiện tại,
tác động củaH. pylori lên biểu hiện IL-6 ở tế bào biểu
mô vẫn chưa được hiểu rõ ràng. Trong một số nghiên
cứu, một số dòng tế bào biểu mô dạ dày đều tăng tiết
protein IL-6 sau khi nhiễm các chủng H. pylori lâm
sàng và chủng TN2GF4 20, sự biểu hiện IL-6 ở cả mức
độ phiên mã và dịch mã trong tế bào AGS đều tăng
khi nhiễm chủng ATCC 43504 21. Tuy nhiên, trong
một nghiên cứu khác, chủng H. pylori 60190 không
cảm ứng tiết IL-6 trong tế bào AGS22. Kết quả của
chúng tôi cho thấy sau 12 giờ nhiễm, chủng DN18 có
xu hướng không làm thay đổi biểu hiện mRNA IL-6
trong tế bào AGS (1,32 0,66 lần) và có xu hướng
tăng mức độ biểu hiện khoảng 2,34 1,00 lần sau 24
giờ nhiễm nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (Hình 3
B).
Đối với COX-2, các nghiên cứu cho thấy mô ung thư
dạ dày có biểu hiện mRNA và protein COX-2 cao
hơn rõ rệt so với các mẫu niêm mạc dạ dày không
ung thư và biểu hiện vượt mức ở 50 – 80% các bệnh
nhân UTDD19. COX-2 biểu hiện vượt mức trong
các trường hợp viêm dạ dày dương tính với H. py-
lori so với viêm dạ dày âm tính với H. pylori 19,23.
Một nghiên cứu khác cho thấy sau khi nhiễmH. pylori
vào mô hình chuột có sự gia tăng biểu hiện COX-2 rõ
rệt24. Sau khi nuôi tế bào biểumô dạ dày vớiH. pylori
có sự gia tăng biểu hiện mRNA COX-2 cho thấy vai
trò của COX-2 trong UTDD liên quan tới sự nhiễm
H. pylori25. Kết quả cho thấy chủng DN18 sau 12 giờ
nhiễm tế bào AGS không làm gia tăng mức độ biểu
hiệnmRNACOX-2 (1,09 0,23 lần), nhưng tăng đến
9,26 3,13 lần sau 24 giờ nhiễm (Hình 3 C)
Tác động gây đứt gãy mạch đôi DNA (DSB)
trong tế bào AGS của chủng DN18
Các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng sự phos-
phoryl hóa protein histon H2AX tạo thành g-H2AX
là một chỉ thị (marker) đặc trưng cho DSB và không
tạo thành trong các tổn thương DNA khác9,26. Xie và
cộng sự (2014) đã nghiên cứu sự biểu hiện g-H2AX
trong các mẫu mô dạ dày người đã nhận thấy mức độ
g-H2AX gia tăng dần từ giai đoạn viêm dạ dày mạn
tính, chuyển sản ruột, loạn sản và nhận thấy mức độ
g-H2AX cao hơn khi có sự hiện diện củaH. pylori27 .
Toller và cộng sự (2011) kiểm tra sự hoạt hóa của con
đường sửa sai DNA trong các tế bào AGS nhiễm H.
pylori và kết luận rằng, sự nhiễm H. pylori cảm ứng
sự hình thành của DSB thông qua sự tương tác trực
tiếp giữa tác nhân gây bệnh với tế bào chủ, được đánh
giá thông qua sự phosphoryl hóa của H2AX và ức chế
các con đường sửa sai DSB9. Mặc dù cho tới nay các
nghiên cứu về tác động của H. pylori còn nhiều hạn
chế nhưng các bằng chứng trên cho thấy sự nhiễmH.
pylori thúc đẩy hình thànhDSB qua nhiều con đường
khác nhau, góp phần vào sự mất ổn định bộ gene của
tế bào và dẫn tới ung thư.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát
sự biểu hiện g-H2AX để đánh giá mức độ DSB của
tế bào AGS nhiễm bởi các chủngH. pylori sau 12 giờ,
24 giờ và 48 giờ bằng thử nghiệm Western Blot. Bên
cạnh đó, camptothecin đã được chứng minh cảm ứng
DSB trong tế bào 28,29 nên camptothecin (0,01 mg/ml)
được sử dụng để kiểm tra khả năng tạo DSB trong tế
bào AGS. Kết quả cho thấy sau khi cảm ứng camp-
tothecin sau 48 giờ,mức độ hoạt hóa g-H2AX tăng lên
3,08 0,53 lần trong tế bào AGS so với tế bào không
cảmứng, chứng tỏ camptothecin có thể tạoDSB trong
tế bào AGS và quy trình nghiên cứu có thể xác định
được mức độ hình thành g-H2AX và quy trình ổn
định giữ các lần. Đối với tế bào nhiễm chủng DN18,
sau 12 giờ nhiễm, mức độ hình thành g-H2AX trong
tế bào AGS bằng 0,98 0,48 lần so với tế bào không
nhiễm, bắt đầu có xu hướng tăng lên 1,27 0,27 lần
tại 24 giờ và lên cao nhất đạt 2,44 0,96 lần tại 48h
(Hình 4). Như vậy, kết quả của nghiên cứu cho thấy
chủng Việt Nam DN18 có khả năng gây DSB thông
qua sự tăng phosphoryl hóa H2AX.
KẾT LUẬN
Như vậy, nghiên cứu này đã phân lập chủngH. pylori
Việt NamDN18mang kiểu gene cagA+, vacA s1m1 và
khảo sát một số tác động quan trọng lên tế bào AGS.
Kết quả cho thấy chủng DN18 có khả năng gây viêm
thông qua hoạt hóa NF-kB và làm tăng rõ rệt biểu
hiện ở mức phiên mã các chất trung gian gây viêm
chịu điều hòa bởi NF-kB gồm IL-8 và COX-2, có xu
hướng tăng biểu hiện IL-6. Đồng thời chủngDN18 có
khả năng gây mất ổn định bộ gene thông qua đứt gãy
DNA mạch đôi. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ
được thực hiện trên một chủng Việt Nam và trên mô
hình tế bào nuôi cấy in vitro nên cần có những nghiên
cứu trên nhiều chủng hơn, ở mức độ sâu hơn và mô
hình in vivo để phân tích tác động của các chủng H.
pylori Việt Nam lên khả năng gây ung thư.
DANHMỤC TỪ VIẾT TẮT
CagA : Cytotoxin-associated gene A
cagPAI : Cag pathogenicity island
551
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
Hình 3: Mức độ biểu hiện mRNA của IL-8 (A), IL-6(B) và COX-2 (C) trong tế bào AGS nhiễm chủng DN18. Tế bào
không nhiễm (C) và nhiễm chủng DN18 trong 12 giờ và 24 giờ.
Hình 4: Kết quả Western blot biểu thị mức độ hình thành g-H2AX trong tế bào AGS khi nhiễm chủng H. pylori
DN18. Tế bào không nhiễm (C) và nhiễm chủng H. pylori DN18 trong 12 giờ, 24g và 48g; cảmứng camptothecin trong
48h.
552
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
COX-2 : Cyclooxygenase-2
Ct : Threshold cycle
DSB : Double-strand break
FBS : Fetal bovine serum
GAPDH : Glyceraldehyde-3-phosphate dehydroge-
nase
LF : Luciferase firefly
LR : Luciferase Renilla
IL-8 : Interleukine 8
NF-kB : Nuclear factor kappa B
PCR : Polymerase Chain Reaction
UTDD : ung thư dạ dày
VacA : Vacuolating cytotoxin A
TUYÊN BỐ XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả cam kết không mâu thuẫn quyền lợi và
nghĩa vụ của các thành viên.
TUYÊN BỐĐÓNGGÓP CỦA CÁC TÁC
GIẢ
Tác giả PhạmThịHồng Đào và HồThịMỹ Trang: thu
mẫu, thực hiện thí nghiệm, thu thập và xử lý số liệu.
Tác giả Phạm Thị Hồng Đào và Nguyễn Thụy Vy:
phân tích, giải thích kết quả và viết bản thảo.
LỜI CẢMƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa
học và công nghệQuốc gia (NAFOSTED) trong đề tài
mã số 108.01-2018.17 và Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, ĐHQG-HCM trong khuôn khổ đề tài mã
số T2018-21.
ĐẠOĐỨC TRONG CÔNG BỐ
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức nghiên cứu Y
sinh học thông qua, số 702/ĐHQG-KHCN.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Rawla P, Barsouk A. Epidemiology of gastric cancer : global
trends , risk factors and prevention. 2019;14;PMID: 30944675.
Available from: https://doi.org/10.5114/pg.2018.80001.
2. Wang W, Mani AM, Wu ZH. DNA damage-induced nuclear
factor-kappa B activation and its roles in cancer progression. J
Cancer Metastasis Treat. 2017;3(3):45. PMID: 28626800. Avail-
able from: https://doi.org/10.20517/2394-4722.2017.03.
3. Kalisperati P, Spanou E, Pateras IS, Korkolopoulou P, Var-
varigou A, Karavokyros I, et al. Inflammation, DNA damage,
Helicobacter pylori and gastric tumorigenesis. Vol. 8. Fron-
tiers in Genetics;2017. Available from: https://doi.org/10.3389/
fgene.2017.00020.
4. Lamb A, Chen LF. The many roads traveled by Helicobacter
pylori to NFkB activation. Gut Microbes. 2010;1(2):109–113.
PMID: 21326919. Available from: https://doi.org/10.4161/gmic.
1.2.11587.
5. Brandt S, Kwok T, Hartig R, König W, Backert S. NF-kB acti-
vation and potentiation of proinflammatory responses by the
Helicobacter pylori CagA protein. Proc Natl Acad Sci U S A.
2005;102(26):9300–9305. PMID: 15972330. Available from:
https://doi.org/10.1073/pnas.0409873102.
6. Sepulveda AR. Helicobacter, Inflammation, and Gastric Can-
cer. Curr Pathobiol Rep. 2013;1(1):9–18. PMID: 23687623.
Available from: https://doi.org/10.1007/s40139-013-0009-8.
7. Koeppel M, Garcia-Alcalde F, Glowinski F, Schlaermann P,
Meyer TF. Helicobacter pylori Infection Causes Charac-
teristic DNA Damage Patterns in Human Cells. Cell Rep.
2015;11(11):1703–1713. PMID: 26074077. Available from:
https://doi.org/10.1016/j.celrep.2015.05.030.
8. Hanada K, Uchida T, Tsukamoto Y, Watada M, Yamaguchi
N, Yamamoto, et al. Helicobacter pylori infection intro-
duces DNA double-strand breaks in host cells. Infect Immun.
2014;82(10):4182–4189. PMID: 25069978. Available from:
https://doi.org/10.1128/IAI.02368-14.
9. Toller IM, Neelsen KJ, Steger M, Hartung ML, Hottiger MO,
Stucki M. Carcinogenic bacterial pathogen Helicobacter py-
lori triggers DNA double-strand breaks and a DNA damage
response in its host cells. PNAS. 2011;108(36):14944–14949.
PMID: 21896770. Available from: https://doi.org/10.1073/pnas.
1100959108.
10. Suzuki R, Shiota S, Yamaoka Y. Molecular epidemiology ,
population genetics , and pathogenic role of Helicobacter py-
lori. Infect Genet Evol [Internet]. 2012;12(2):203–213. PMID:
22197766. Available from:
2011.12.002.
11. Nguyen TA, Tran TT, Ho HTD. Xây dựng quy trình định týp
gen cagA và vacA của helicobacter pylori bằng phương pháp
multiplex PCR. Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam. 2010;p.
1443–1448.
12. Sicinschi LA, Correa P, Peek RM, Camargo MC, Delgado A, Pi-
azuelo MB, et al. Helicobacter pylori genotyping and se-
quencing using paraffin-embedded biopsies from residents
of Colombian areas with contrasting gastric cancer risks. He-
licobacter. 2008;13(2):135–145. PMID: 18321303. Available
from: https://doi.org/10.1111/j.1523-5378.2008.00554.x.
13. Argent RH, Thomas RJ, Letley DP, Rittig MG, Hardie KR, Ather-
ton JC. Functional association between the Helicobacter
pylori virulence factors VacA and CagA. J Med Microbiol.
2008;57(2):145–150. PMID: 18201978. Available from: https:
//doi.org/10.1099/jmm.0.47465-0.
14. Keates S, Hitti YS, UptonM, Kelly CP. Helicobacter pylori Infec-
tion Activates NF-kB in Gastric Epithelial Cells. Gastroenterol-
ogy. 1997;113(4):1099–109. PMID: 9322504. Available from:
https://doi.org/10.1053/gast.1997.v113.pm9322504.
15. Philpott DJ, Belaid D, Troubadour P, Thiberge JM, Tankovic
J, Labigne A, et al. Reduced activation of inflammatory
responses in host cells by mouse-adapted Helicobacter py-
lory isolates. Cell Microbiol. 2002;4(5):285–296. PMID:
12064285. Available from: https://doi.org/10.1046/j.1462-
5822.2002.00189.x.
16. Matsumoto Y, Marusawa H, Kinoshita K, Endo Y, Kou T, Mori-
sawaT, et al. Helicobacter pylori infection triggers aberrant ex-
pression of activation-induced cytidine deaminase in gastric
epithelium. Nat Med. 2007;13(4):470–476. PMID: 17401375.
Available from: https://doi.org/10.1038/nm1566.
17. Lee KE, Khoi PN, Xia Y, Park JS, Joo YE, Kim KK, et al. Heli-
cobacter pylori and interleukin-8 in gastric cancer. Gastroen-
terolWJG. 2013;19(45):8192–8202. PMID: 24363509. Available
from: https://doi.org/10.3748/wjg.v19.i45.8192.
18. Macrì A, Versaci A, Loddo S, Scuderi G, Travagliante M, Tri-
marchi G, et al. Serum levels of interleukin 1beta, interleukin 8
and tumour necrosis factor alpha asmarkers of gastric cancer.
Biomarkers. 2006;11(2):184–193. PMID: 16766394. Available
from: https://doi.org/10.1080/13547500600565677.
19. Fu S, Ramanujam KS, Wong A, Fantry GT, Drachenberg CB,
James SP, et al. Increased expression and cellular local-
ization of inducible nitric oxide synthase and cyclooxyge-
nase 2 in Helicobacter pylori gastritis. Gastroenterology.
1999;116(6):1319–1329. Available from: https://doi.org/10.
1016/S0016-5085(99)70496-8.
553
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):547-555
20. Lu H, Wu JY, Kudo T, Ohno T, Graham DY, Yamaoka Y, et al.
Regulation of Interleukin-6 Promoter Activation in Gastric Ep-
ithelial Cells Infected with Helicobacter pylori. 2005;16:4954–
4966. PMID: 16030249. Available from: https://doi.org/10.
1091/mbc.e05-05-0426.
21. Piao J, Lee HG, Kim S, Kim D, Han H, Ngo H, et al. Helicobacter
pylori Activates IL-6-STAT3 Signaling in Human Gastric Cancer
Cells : Potential Roles for Reactive Oxygen Species. 2016;3:1–
12. PMID: 26910614. Available from: https://doi.org/10.1111/
hel.12298.
22. Crawford HC, Krishna US, Israel DA, Matrisian LM, Washington
MK, Peek RM. Helicobacter pylori strain-selective induction
of matrix metalloproteinase-7 in vitro and within gastric mu-
cosa. Vol. 125. Gastroenterology. 2003;p. 1125–1136. Avail-
able from: https://doi.org/10.1016/S0016-5085(03)01206-X.
23. Cheng J, Fan X. Role of cyclooxygenase-2 in gastric cancer
development and progression. World J Gastroenterol WJG.
2013;19(42):7361–7368. PMID: 24259966. Available from:
https://doi.org/10.3748/wjg.v19.i42.7361.
24. Wang Z, Chen J, Liu J. COX-2 Inhibitors and Gastric Can-
cer. Gastroenterol Res Pract. 2014;PMID: 25371669. Available
from: https://doi.org/10.1155/2014/132320.
25. Romano M, Ricci V, Memoli A, Tuccillo C, Popolo AD, Sommi
P, et al. Helicobacter pylori Up-regulates Expression and
Prostaglandin E 2 Synthesis in MKN 28 Gastric Mucosal Cells
in Vitro. J Biol Chem. 1998;273(44). PMID: 9786845. Available
from: https://doi.org/10.1074/jbc.273.44.28560.
26. Georgoulis A, Vorgias CE, Chrousos GP, Rogakou EP. Genome
instability and gH2AX. Vol. 18. International Journal of Molec-
ular Sciences. 2017;PMID: 28914798. Available from: https:
//doi.org/10.3390/ijms18091979.
27. Xie C, Xu LY, Yang Z, Cao XM, Li W, Lu NH. Expression of
H2AX in various gastric pathologies and its association with
Helicobacter pylori infection. Oncol Lett. 2014;7(1):159–163.
PMID: 24348841. Available from: https://doi.org/10.3892/ol.
2013.1693.
28. Jacob S,Miquel C, Sarasin A, Praz F. Effects of camptothecin on
double-strand break repair by non-homologous end-joining
in DNA mismatch repair-deficient human colorectal cancer
cell lines. Nucleic Acids Res. 2005;33(1):106–113. PMID:
15642697. Available from: https://doi.org/10.1093/nar/gki154.
29. Kawashima Y, Yamaguchi N, Teshima R, Narahara H, Ya-
maoka Y, Anai H, et al. Detection of DNA double-strand
breaks by pulsed-field gel electrophoresis. Genes to Cells.
2017;22(1):84–93. PMID: 27976495. Available from: https:
//doi.org/10.1111/gtc.12457.
554
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(2):547-555
Open Access Full Text Article Research Article
Department of Genetics, Faculty of
Biology and Biotechnology, University of
Science, VNU-HCM, Vietnam
Correspondence
Pham Thi Hong Dao, Department of
Genetics, Faculty of Biology and
Biotechnology, University of Science,
VNU-HCM, Vietnam
Email: pthdao@hcmus.edu.vn
Correspondence
Nguyen Thuy Vy, Department of
Genetics, Faculty of Biology and
Biotechnology, University of Science,
VNU-HCM, Vietnam
Email: ntvy@hcmus.edu.vn
History
Received: 19-3-2020
Accepted: 18-5-2020
Published: 15-6-2020
DOI :10.32508/stdjns.v4i2.898
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Effect of Vietnamese Helicobacter pylori strain DN18 on the NF-kB
pathway and H2AX activation of the AGS cell line
Pham Thi Hong Dao*, Ho Thi My Trang, Nguyen Thuy Vy*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Infection with Helicobacter pylori (H. pylori) is the strongest known risk factor for gastric cancer. The
molecularmechanisms of H. pylori-associated gastric carcinogenesis remain not elucidated. Recent
findings indicate that H. pylori infectionmay promote gastric carcinogenesis by inducing inflamma-
tion and genetic instability in gastric epithelial cells. In addition, it is shown that the impact of H.
pylori on infected cells is associated with bacterial virulence that is diverse among geographical re-
gions as well as populations. Therefore, we aimed to investigate the effect of H. pylori strain DN18
from Vietnamese subject on the in vitro activity of NF-kB transcription factor, a key regulator of
inflammation, and expression of its target genes in this study. Moreover, host genomic instabil-
ities were studied through examining the formation of DNA double-strand break (DSB) by using
phosphorylated histone H2AX (gH2AX) as a DSB marker. Our results showed that H. pylori strain
DN18 induced activation of NF-kB pathway and increased transcriptional expression of inflamma-
tory mediators in human gastric mucosal cell AGS. We also provided evidence that the H. pylori
infection triggered accumulation of DSBs marker gH2AX. In summary, our study showed the po-
tential ability to cause inflammation and DNA damage to infected cells of H. pylori strains isolated
from Vietnamese patients.
Key words: Helicobacter pylori, gastric cancer, inflammation, DNA double-strand break (DSB),
genomic instabilities.
Cite this article : Dao P T H, Trang H T M, Vy N T. Effect of Vietnamese Helicobacter pylori strain DN18
on the NF-k B pathway and H2AX activation of the AGS cell line . Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.;
4(2):547-555.
555
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_tac_dong_cua_chung_helicobacter_pylori_dn18_phan_la.pdf