Từ số liệu ở bảng 6 cho thấy mẫu tinh dầu cây húng quế
trồng ở Bình Định có khả năng ức chế mạnh đối với sự phát
triển của chủng nấm Candida albicans với đường kính vòng
ức chế là 22mm. Ngoài ra, mẫu tinh dầu này cũng có khả
năng ức chế sự phát triển của chủng vi khuẩn
Staphylococcus aureus và chủng vi khuẩn Escherichia coli
với đường kính vòng vô khuẩn lần lượt là 17mm và 16mm.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc dùng tinh
dầu húng quế để điều trị một số bệnh do nhiễm nấm
Candida albicans, nhiễm chủng vi khuẩn Staphylococcus
aureus và chủng vi khuẩn Escherichia coli.
Từ bảng 7 nhận thấy khả năng kháng khuẩn và kháng
nấm của tinh dầu cây húng quế ở các nơi khác nhau là
không giống nhau. Sở dĩ như vậy là vì thành phần hóa học
của tinh dầu cây húng quế trồng ở các nơi khác nhau là
khác nhau. Ngoài ra, qua bảng 3 cũng cho thấy tinh dầu cây
húng quế ở Bình Định có khả năng ức chế mạnh đối với sự
phát triển của nấm Candida albicans, vi khuẩn
Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Kết quả nghiên
cứu này khẳng định tiềm năng khai thác tinh dầu cây húng
quế ở Bình Định làm dược liệu để điều trị một số bệnh viêm
nhiễm do vi khuẩn và nấm gây ra.
4. KẾT LUẬN
Bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước, tinh
dầu của cây húng quế trồng ở Bình Định đã được chiết xuất
với hàm lượng 0,64% theo khối lượng mẫu tươi. Điều kiện
tối ưu để chiết xuất tinh dầu là hái húng quế vào lúc 8 giờ,
sau đó tiến hành chưng cất ngay với dung dịch NaCl nồng
độ 6% trong vòng 3 giờ ứng với 200g húng quế.
Tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định có chứa 25
cấu tử với tổng hàm lượng là 99,99%. Cấu tử chính trong
tinh dầu là metyl chavicol với hàm lượng 85,92%.
Tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định sau khi pha
loãng hai lần bằng nước tiệt trùng có khả năng ức chế
mạnh đối với sự phát triển của chủng nấm Candida
albicans, chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và chủng vi
khuẩn Escherichia coli với đường kính vòng vô khuẩn lần
lượt là 22mm, 17mm và 16mm.
Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng cho việc
khai thác cây húng quế trồng ở Bình Định một cách hiệu
quả hơn.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu cây húng quế (ocimum basilicum L) trồng ở Bình Định, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 3 (6/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 114
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH KHÁNG
VI SINH CỦA TINH DẦU CÂY HÚNG QUẾ (Ocimum basilicum L.)
TRỒNG Ở BÌNH ĐỊNH
INVESTIGATION OF CHEMICAL COMPOSITION AND ANTIMICROBIAL
EFFECT OF ESSENTIAL OILS FROM BASIL (Ocimum basilicum L.) GROWN IN BINH ĐINH
Võ Thị Thanh Tuyền1,*, Lê Thị Như Quyền2
TÓM TẮT
Húng quế (Ocimum basilicum L.) là nguồn tinh dầu chứa các thành phần có
hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm. Hàm lượng tinh dầu chiết xuất từ cây húng
quế trồng ở Bình Định thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
chiếm hàm lượng 0,64% theo khối lượng mẫu tươi. Kết quả phân tích sắc ký khí
ghép khối phổ (GC-MS) tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định cho thấy tinh dầu
có chứa 25 cấu tử (đã được định danh) với tổng hàm lượng là 99,99%. Cấu tử chính
trong tinh dầu là metyl chavicol (85,92%). Tinh dầu có khả năng ức chế mạnh sự
phát triển của nấm Candida albicans, chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và
chủng vi khuẩn Escherichia coli với đường kính vòng vô khuẩn lần lượt là 22mm,
17mm và 16mm.
Từ khóa: Ocimum basilicum, húng quế, methyl chavicol.
ABSTRACT
Basil (Ocimum basilicum L.) is a source of essential oils containing ingredients
with antibacterial and antifugal activities. The content of essential oils extracted
from basil grown in Binh Dinh obtained by steam distillation method accounted for
0.64% of the weight of fresh samples. Result of gas chromatography combined
mass spectrometry (GC-MS) of the essential oils showed that the oils contained
twenty-five components (which were identified) with a total content of 99.99%.
Methyl chavicol was the constituent with the highest content in essential oils
(85.92%). The essential oils had the ability to strongly inhibit the growth of Candida
albicans, Staphylococcus aureus and Escherichia coli with inhibition diameter of
22mm, 17mm and 16mm, respectively.
Keywords: Ocimum basilicum, basil, methyl chavicol.
1Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn
2Khoa Sư phạm, Trường Đại học Quy Nhơn
*Email: vothithanhtuyen@qnu.edu.vn
Ngày nhận bài: 03/5/2020
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 12/6/2020
Ngày chấp nhận đăng: 24/6/2020
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dược phẩm tổng hợp
rất phong phú và đa dạng, có tác dụng nhanh, thời gian điều
trị ngắn nhưng nếu sử dụng lâu dài sẽ gây nhiều tác dụng
phụ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Do đó, việc
dùng các dược phẩm thiên nhiên đang ngày được phổ biến.
Trong Đông y, húng quế là dược liệu có nhiều hoạt tính sinh
học quý [1].
Húng quế có tên khoa học là Ocimum basilicum L., thuộc
họ Hoa môi (Lamiaceae). Cây được trồng nhiều ở Châu Á,
Châu Phi, Châu Mỹ và các vùng khí hậu ôn đới khác trên thế
giới [2, 3]. Ở Việt Nam, cây được trồng khắp các địa phương
từ Bắc vào Nam [4].
Theo Marwat thành phần dinh dưỡng của cây húng quế
gồm protein (3,15g/100g), chất béo (0,64g/100g), năng
lượng (23Kcal/100g), vitamin C (18mg/100g), vitamin E
(0,80mg/100g), vitamin K (414,8mcg/100g), canxi
(177mg/100g), sắt (3,17mg/100g), kali (295mg/ 100g), magie
(64mg/100g) và natri (4mg/100g) [5]. Húng quế là loại thảo
mộc ẩm thực được sử dụng thường xuyên. Ngoài ra, cây
được dùng làm thuốc để chữa cảm lạnh, sốt, ho, viêm xoang,
đau đầu, thấp khớp, mụn cóc, giun, suy thận, [5-8]. Các
nghiên cứu cho thấy tinh dầu cây húng quế ngoài khả năng
kháng khuẩn (Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus
aureus, Bacillus subtilis, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae,
Pseudomonas aeruginosa), kháng nấm (Candida albicans,
Candida glabrata), chống oxi hóa còn có khả năng chống
ung thư cổ tử cung (Hela) và ung thư biểu mô thanh quản
(Hep-2) [1, 3, 9].
Hiện nay trên thế giới đã có một số công bố về thành
phần hóa học cũng như hoạt tính kháng vi sinh của tinh
dầu cây húng quế trồng ở một số quốc gia như Algeria,
Cộng hòa Nam Phi, Serbia, Ai Cập, Ấn Độ [1, 3, 10-12]. Ở
Việt Nam đã có công bố về thành phần hóa học tinh dầu
cây húng quế trồng ở thành phố Hồ Chí Minh [13], tuy
nhiên Bình Định chưa có công bố nào về thành phần cũng
như hoạt tính của tinh dầu loài cây này. Do đó, bài báo trình
bày quy trình chiết xuất tinh dầu, thành phần hóa học và
hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu cây húng quế trồng ở
Bình Định.
2. THỰC NGHIỆM
2.1. Nguyên liệu, xử lý nguyên liệu
Cây húng quế (thân, lá và hoa) được thu hái vào tháng
12 năm 2019 tại phường Nhơn Phú, thành phố Quy Nhơn,
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 3 (June 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 115
tỉnh Bình Định. Sau khi hái về, húng quế được xử lý sơ bộ,
rồi rửa sạch, thái nhỏ trước khi đem xay.
2.2. Chiết xuất tinh dầu húng quế
Lấy 200g húng quế tươi vừa hái vào lúc 8 giờ đem xay
nhỏ cùng với 450mL nước cất rồi cho vào bình cầu 1L của
hệ thống chưng cất tinh dầu Clevenger. Hỗn hợp được gia
nhiệt bằng bếp điện cho đến khi thể tích tinh dầu không
đổi thì dừng. Tinh dầu sau khi chiết xuất được đem làm
khan bằng muối Na2SO4, bảo quản ở nhiệt độ 4oC.
Hàm lượng tinh dầu chiết xuất được tính theo công
thức sau:
H =
m
m
x 100%
H: hàm lượng tinh dầu chiết xuất (%)
mTD: khối lượng tinh dầu (g)
m: khối lượng mẫu húng quế tươi (g)
2.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng tinh
dầu húng quế chiết xuất
Nhằm thiết lập quy trình chiết xuất tinh dầu húng quế,
các yếu tố: nồng độ dung dịch NaCl, thời điểm thu hái, thời
gian để héo nguyên liệu và thời gian chưng cất đã được
khảo sát.
2.4. Xác định thành phần hóa học của tinh dầu húng quế
Thành phần hóa học của tinh dầu húng quế được xác
định bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ trên máy
sắc ký khí GC7890A ghép với máy phổ khối 5975C của
Phòng Phân tích hóa học, Viện Hóa học các hợp chất thiên
nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Loại cột sắc ký sử dụng là HP5MS được phủ 5% phenyl
và 95% metyl siloxan, dài 60m, đường kính 0,25nm, độ dày
lớp hấp phụ 0,25µm; khí mang là heli với tốc độ 1mL/min;
nhiệt độ 60oC ÷ 240oC.
2.5. Thử hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu húng quế
Tinh dầu húng quế được thử hoạt tính với chủng vi
khuẩn Staphylococcus aureus, vi khuẩn Escherichia coli và
nấm Candida albicans bằng phương pháp đĩa thạch tại
Phòng Hóa sinh ứng dụng, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Tinh dầu húng quế được pha loãng 2 lần bằng nước tiệt
trùng. Dịch mẫu được hút 50 µL rồi cho vào giếng thạch, đậy
nắp đĩa petri lại, cho vào tủ ấm 37oC. Sau 24 giờ lấy các đĩa
thạch ra khỏi tủ ấm, đọc và ghi lại đường kính vòng vô khuẩn.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chiết xuất tinh dầu húng quế
Tinh dầu húng quế thu được là chất lỏng màu vàng
nhạt, nhẹ hơn nước và có mùi thơm. Hàm lượng tinh dầu
chiết xuất từ cây húng quế trồng ở Bình Định là 0,31% theo
khối lượng mẫu tươi.
3.2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng tinh
dầu húng quế chiết xuất
3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch NaCl
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ dung dịch
NaCl đến hàm lượng tinh dầu chiết xuất được trình bày ở
bảng 1 và hình 1.
Bảng 1. Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế
chiết xuất theo nồng độ dung dịch NaCl
Nồng độ dung dịch NaCl (%) 0 2 4 6 7 8 10
Hàm lượng tinh dầu (%) 0,31 0,39 0,48 0,64 0,41 0,36 0,30
Hình 1. Sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế chiết xuất theo nồng
độ dung dịch NaCl
Từ hình 1 nhận thấy khi dùng dung dịch NaCl với nồng
độ 2% ÷ 6% để chưng cất thì hàm lượng tinh dầu húng quế
thu được tăng từ 0,39% ÷ 0,64% cao hơn khi chỉ dùng nước
cất để chưng cất tinh dầu (0,31%). Sở dĩ hiệu suất chiết tinh
dầu tăng là vì khi cho NaCl vào làm tăng độ phân cực của
dung dịch, nhờ đó làm giảm lực tương tác giữa các cấu tử
tinh dầu với nước. Do đó tinh dầu sẽ dễ dàng bay hơi trong
quá trình chưng cất. Mặt khác, khi cho NaCl vào làm tăng tỷ
trọng của nước nên sự tách lớp của tinh dầu sẽ dễ dàng hơn
[14,15]. Tuy nhiên khi dùng dung dịch NaCl với nồng độ tăng
từ 7 ÷ 10% thì hiệu suất chiết tinh dầu húng quế giảm từ
0,41% xuống còn 0,30%. Bởi lẽ, khi dùng dung dịch NaCl với
nồng độ cao sẽ xảy ra hiện tượng co nguyên sinh, tế bào
chất bị co rút lại ngăn cản sự khuếch tán của tinh dầu ra
ngoài [16].
Tóm lại, qua khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung
dịch NaCl cho thấy hàm lượng tinh dầu chiết xuất đạt cao
nhất khi nồng độ dung dịch NaCl là 6%.
3.2.2. Ảnh hưởng của thời điểm thu hái nguyên liệu
Kết quả khảo sát sự thay đổi hàm lượng tinh dầu húng
quế chiết xuất theo thời điểm thu hái được trình bày ở
bảng 2 và hình 2.
Bảng 2. Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế
chiết xuất theo thời điểm thu hái
Thời điểm thu hái (giờ) 6 8 11 16
Hàm lượng tinh dầu (%) 0,59 0,64 0,48 0,39
Từ hình 2 nhận thấy húng quế hái vào lúc 8 giờ cho hàm
lượng tinh dầu chiết xuất cao hơn khi hái vào lúc 6 giờ, 11
giờ và 16 giờ. Vì lúc 8 giờ cây xanh quang hợp tốt hơn lúc 6
giờ. Sự quang hợp làm thúc đẩy quá trình tổng hợp các
amino axit, làm tăng sự chuyển hóa amino axit thành tinh
dầu nên lượng tinh dầu trong cây sẽ cao hơn [14]. Vì vậy
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 3 (6/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 116
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
hàm lượng tinh dầu chiết xuất khi hái húng quế vào lúc 8
giờ cao hơn khi hái vào lúc 6 giờ. Hàm lượng tinh dầu chiết
xuất khi hái húng quế lúc 8 giờ cao hơn hái lúc 11 giờ và hái
lúc 11 giờ cho hàm lượng tinh dầu chiết xuất cao hơn hái
lúc 16 giờ. Vì khi nắng càng kéo dài, sự thoát hơi nước qua
khí khổng càng tăng kéo theo sự bay hơi của tinh dầu càng
mạnh thì lượng tinh dầu trong cây càng giảm. Do đó hàm
lượng tinh dầu chiết xuất càng giảm.
Hình 2. Sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế chiết xuất theo thời
điểm thu hái
3.2.3. Ảnh hưởng của thời gian để héo nguyên liệu
Kết quả khảo sát thời gian để héo nguyên liệu đến hàm
lượng tinh dầu húng quế chiết xuất được trình bày ở bảng
3 và hình 3.
Bảng 3. Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế
chiết xuất theo thời gian để héo nguyên liệu
Thời gian để héo nguyên liệu (giờ) 0 3 6 9
Hàm lượng tinh dầu (%) 0,64 0,48 0,39 0,30
Hình 3. Sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế chiết xuất theo thời
gian để héo nguyên liệu
Từ hình 3 nhận thấy húng quế hái về rồi tiến hành
chưng cất ngay (thời gian để héo 0 giờ) sẽ cho hàm lượng
tinh dầu cao nhất, còn nếu để héo thì hàm lượng tinh dầu
chiết xuất sẽ giảm dần theo thời gian để héo. Bởi lẽ trong
quá trình để héo húng quế thì một số cấu tử có trong tinh
dầu bị phân hủy làm cho lượng tinh dầu giảm [17].
3.2.4. Ảnh hưởng của thời gian chưng cất mẫu
Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu
húng quế chiết xuất theo thời gian chưng cất được trình
bày ở bảng 4 và hình 4.
Bảng 4. Kết quả khảo sát sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế
chiết xuất theo thời gian chưng cất
Thời gian chưng cất (giờ) 1 1,5 2 2,5 3 3,5 4
Hàm lượng tinh dầu (%) 0,23 0,30 0,44 0,53 0,64 0,64 0,64
Hình 4. Sự phụ thuộc của hàm lượng tinh dầu húng quế chiết xuất theo thời
gian chưng cất
Từ hình 4 nhận thấy hàm lượng tinh dầu chiết xuất tăng
khi thời gian chưng cất tăng từ 1 ÷ 3 giờ. Sau thời gian
chưng cất 3 giờ thì hàm lượng tinh dầu chiết xuất không
thay đổi. Qua đó cho thấy với thời gian chưng cất nhỏ hơn
3 giờ thì chưa đủ để trích ly hết tinh dầu. Với thời gian
chưng cất từ 3 giờ đến 4 giờ thì tinh dầu trong mẫu đã
được trích ly hết nên hàm lượng tinh dầu chiết xuất là
không đổi theo thời gian (1,279g). Do đó để tiết kiệm năng
lượng cũng như thời gian thì thời gian chưng cất thích hợp
nhất cho 200g húng quế là 3 giờ.
Qua khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng tinh
dầu chiết xuất cho thấy điều kiện tối ưu để chiết xuất tinh
dầu húng quế ở Bình Định là hái húng quế vào lúc 8 giờ,
sau đó tiến hành chưng cất ngay (thời gian để héo 0 giờ)
với dung dịch NaCl nồng độ 6% trong vòng 3 giờ ứng với
200g húng quế thì hàm lượng tinh dầu chiết xuất được là
0,64%. So sánh với hàm lượng tinh dầu chiết xuất từ cây
húng quế trồng ở một số nơi khác như Ấn Độ (0,52%) [12],
thành phố Hồ Chí Minh (0,60%) [13], Ai Cập (0,40%) [18] thì
nhận thấy hàm lượng tinh dầu chiết xuất là không giống
nhau. Điều này được giải thích là do có sự khác nhau về khí
hậu, thổ nhưỡng, chế độ chăm sóc cây húng quế cũng như
sự khác nhau về kỹ thuật chiết xuất tinh dầu (chưng cất lôi
cuốn hơi nước với sự có mặt của NaCl).
3.3. Thành phần hóa học của tinh dầu húng quế
Sắc ký đồ của tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định
được trình bày ở hình 5.
Kết quả phân tích GC - MS mẫu tinh dầu húng quế trồng
ở Bình Định cho thấy tinh dầu có chứa 25 cấu tử (đã được
định danh) với tổng hàm lượng là 99,99%.
Thành phần hóa học của tinh dầu húng quế được trình
bày ở bảng 5.
Từ số liệu ở bảng 5 nhận thấy tinh dầu của cây húng
quế trồng ở Bình Định có hàm lượng monotecpen 3,15%,
monotecpenoid 5,49%, sesquitecpen 2,98%,
sesquitecpenoid 1,72% và phenylpropanoit 86,65%. Cấu tử
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 3 (June 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 117
chính trong tinh dầu là metyl chavicol (85,92%). So sánh với
lượng metyl chavicol có trong tinh dầu cây húng quế trồng
ở Cộng hòa Nam Phi (41,40%) [3], Ai Cập (27,82%) [18], Ấn
Độ (38,30%) [19] thì lượng metyl chavicol trong tinh dầu
cây húng quế trồng ở Bình Định (85,92%), thành phố Hồ
Chí Minh (87,90%) [13] là cao hơn nhiều. Kết quả nghiên
cứu này mở ra tiềm năng khai thác metyl chavicol từ cây
húng quế trồng ở Bình Định.
Abudance
Time
Hình 5. Sắc ký đồ của tinh dầu húng quế trồng ở Bình Định
Bảng 5. Thành phần hóa học của tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định
STT Thời gian lưu (phút) Hợp chất
Hàm lượng
(%)
1 10,37 α-pinen 0,14
2 11,74 β-pinen 0,14
3 11,96 myrcen 0,46
4 13,36 limonen 0,32
5 13,49 1,8-cineol 1,66
6 13,87 (E)- β-ocimen 1,95
7 15,42 terpinolen 0,14
8 15,49 fenchon 0,20
9 15,66 linalool 1,25
10 16,36 endo-fenchol 0,69
11 17,53 camphor 0,50
12 18,24 borneol 0,12
13 19,05 α-terpineol 0,28
14 19,38 metyl chavicol 85,92
15 20,08 fenchyl axetat 0,14
16 22,35 bornyl axetat 0,25
17 25,95 cis-β-elemen 0,37
18 26,07 metyleugenol 0,73
19 27,30 α-trans-bergamoten 1,65
20 28,91 D-germacren 0,29
21 29,40 bicyclogermacren 0,18
22 29,62 α-bulnesen 0,17
23 29,87 -cadinen 0,32
24 32,90 1,10-di-epi-cubenol 0,18
25 33,59 epi- α-cadinol 1,54
Tổng 99,99
3.4. Hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu húng quế
Hình ảnh vòng vô khuẩn của mẫu tinh dầu cây húng
quế ở Bình Định trên các chủng vi sinh vật kiểm định được
trình bày ở hình 6, 7 và 8.
Hình 6. Mẫu thử trên chủng Staphylococcus aureus
Hình 7. Mẫu thử trên chủng Escherichia coli
Hình 8. Mẫu thử trên chủng Candida albicans
Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu húng
quế được trình bày ở bảng 6.
Bảng 6. Hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định
Nồng độ thử Đường kính vòng vô khuẩn (mm) Staphylococcus aureus Escherichia coli Candida albicans
Pha loãng tinh
dầu 2 lần
(VTD : VH2O = 1:1)
17 16 22
Ghi chú: VTD : thể tích tinh dầu húng quế đem thử hoạt tính
Từ số liệu ở bảng 6 cho thấy mẫu tinh dầu cây húng quế
trồng ở Bình Định có khả năng ức chế mạnh đối với sự phát
triển của chủng nấm Candida albicans với đường kính vòng
ức chế là 22mm. Ngoài ra, mẫu tinh dầu này cũng có khả
năng ức chế sự phát triển của chủng vi khuẩn
Staphylococcus aureus và chủng vi khuẩn Escherichia coli
với đường kính vòng vô khuẩn lần lượt là 17mm và 16mm.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc dùng tinh
dầu húng quế để điều trị một số bệnh do nhiễm nấm
Candida albicans, nhiễm chủng vi khuẩn Staphylococcus
aureus và chủng vi khuẩn Escherichia coli.
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 3 (6/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 118
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
Hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu cây húng quế
trồng ở một số nơi khác được trình bày ở bảng 7 [20-22].
Bảng 7. Hoạt tính kháng vi sinh của tinh dầu cây húng quế trồng ở một số
nơi khác
STT Mẫu tinh
dầu
húng quế
Nồng độ thử Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
Staphylococcus
aureus
Escherichia
coli
Candida
albicans
1 Bình Định,
Việt Nam
VTD : VH2O = 1:1 17 16 22
2 Ấn Độ VTD : VH2O = 1:1 8 8 12
3 Băng-la-đét VTD : V CH3OH = 1:5 16 11 -
4 Ê-ti-ô-pi-a VTD: V CH3Cl : V CH3OH
= 1:1:1 8,5 8,5 -
Ghi chú: “ - “ : mẫu tinh dầu húng quế không thử hoạt tính với chủng vi
sinh vật này
Từ bảng 7 nhận thấy khả năng kháng khuẩn và kháng
nấm của tinh dầu cây húng quế ở các nơi khác nhau là
không giống nhau. Sở dĩ như vậy là vì thành phần hóa học
của tinh dầu cây húng quế trồng ở các nơi khác nhau là
khác nhau. Ngoài ra, qua bảng 3 cũng cho thấy tinh dầu cây
húng quế ở Bình Định có khả năng ức chế mạnh đối với sự
phát triển của nấm Candida albicans, vi khuẩn
Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Kết quả nghiên
cứu này khẳng định tiềm năng khai thác tinh dầu cây húng
quế ở Bình Định làm dược liệu để điều trị một số bệnh viêm
nhiễm do vi khuẩn và nấm gây ra.
4. KẾT LUẬN
Bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước, tinh
dầu của cây húng quế trồng ở Bình Định đã được chiết xuất
với hàm lượng 0,64% theo khối lượng mẫu tươi. Điều kiện
tối ưu để chiết xuất tinh dầu là hái húng quế vào lúc 8 giờ,
sau đó tiến hành chưng cất ngay với dung dịch NaCl nồng
độ 6% trong vòng 3 giờ ứng với 200g húng quế.
Tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định có chứa 25
cấu tử với tổng hàm lượng là 99,99%. Cấu tử chính trong
tinh dầu là metyl chavicol với hàm lượng 85,92%.
Tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định sau khi pha
loãng hai lần bằng nước tiệt trùng có khả năng ức chế
mạnh đối với sự phát triển của chủng nấm Candida
albicans, chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và chủng vi
khuẩn Escherichia coli với đường kính vòng vô khuẩn lần
lượt là 22mm, 17mm và 16mm.
Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng cho việc
khai thác cây húng quế trồng ở Bình Định một cách hiệu
quả hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. M. Rezzoug, B. Bakchiche, A. Gherib, A. Roberta, F. Guido, Özge
Kilinçarslan, R. Mammadov, S. K. Bardaweel, 2019. Chemical composition and
bioactivity of essential oils and Ethanolic extracts of Ocimum basilicum L. and
Thymus algeriensis Boiss. & Reut. from the Algerian Saharan Atlas. BMC
Complementary and Alternative Medicine, 19(1), 146.
[2]. Neveen Helmy Abou EI-Soud, Mohamed Deabes, Lamia Abou EI-Kassem,
Mona Khalil, 2015. Chemical Composition and Antifungal Activity of Ocimum
basilicum L.. Open Access Macedonian of Medical Sciences, 3(3), 374-379.
[3]. Andrew Bamidele Falowo, Felicitas Esnart Mukumbo, Emrobowansan
Monday Idamokoro, Anthony Jide Afolayan, Voster Muchenje, 2019.
Phytochemical Constituents and Antioxidant Activity of Sweet Basil (Ocimum
basilicum L.) Essential Oil on Ground Beef from Boran and Nguni Cattle.
International Journal of Food Science, 9, 1-8.
[4]. Nguyễn Thạch Bích, Võ Văn Chuyên, Vũ Văn Dũng, Lê Văn Quý, Trịnh
Đình Thanh, 1975. Những họ thực vật có hoa: Cây Hai lá mầm - tập 1. NXB Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[5]. S. K. Marwat, M. S. Khan, S. Ghulam, N. Anwar, G. Mustafa, K. Usman,
2011. Phytochemical constituents and pharmacological activities of sweet Basil-
Ocimum basilicum L. (Lamiaceae). Asian Journal of Chemistry, 23 (9), 3773-3782.
[6]. Kundan Singh Bora, Shruti Arora, Richa Shiri, 2011. Role of Ocimum
basilicum L. in prevention of ischemia and reperfusion-induced cerebral damage,
and motor dysfunctions in mice brain. Journal of Ethnopharmacology, 137(3),
360-1365.
[7]. Opalchenova G., Obreshkova D., 2003. Comparative studies on the activity of
basilan essential oil from Ocimum basilicum L. against multidrug resistant clinical
isolates of the genera Staphylococcus Enterococcus and Pseudomonas by using
different test methods. J. Microbiol Methods, 54(1), 105-110.
[8]. Lee S.J., Umano K., Shibamota T., Lee K.G., 2005. Identification of volatile
components in basil (Ocimum basilicum L.) and thyme leaves (Thymus vulgaris L.)
and their antioxidant properties. Food Chem., 91(1), 131-137.
[9]. Poonkodi K., Ravi S., 2012. Chemical composition of the essential oil from
basil (Ocimum basilicum Linn.) and its in vitro cytotoxicity against HeLa and HEp-2
human cancer cell lines and NIH 3T3 mouse embryonic fibroblasts. Nat Prod Res,
26(12), 112-1118.
[10]. Beatovic D., Milosevic D.K., Trifunovic S., Siljegovic J., Glamoclija J., Ristic
M., Jelacic S., 2015. Chemical composition, antioxidant and antimicrobial activities of
the essential oils of twelve Ocimum basilicum L. cultivars grown in Serbia. Rec Nat
Prod, 9(1), 62-75.
[11]. Mohammed Chenni, Douniazad EI Abed, Njara Rakotomanomana,
Xavier Fernandez, Farid Chemat, 2016. Comparative Study of Essential Oils
Extracted from Egyptian Basil Leaves (Ocimum basilicum L.) Using Hydro-
Distillation and Solvent-Free Microwave Extraction. Molecules, 21, 113-128.
[12]. R. C. Padalia, R. S. Verma, A. Chauhan, P. Goswami, V. R. Singh, S. K.
Verma, M. P. Darokar, A. Kurmi, N. Singh, D. Saikia, C. S. Chanotiya, 2017.
Essential Oils Composition and Antimicrobial Activity of Methyl cinnamate-Linalool
Chemovariant of Ocimum basilicum L. from India. Rec. Nat. Prod., 11(2), 193-204.
[13]. Thien Hien Tran, Huynh Huu Hao Nguyen, Duy Chinh Nguyen, Thanh
Quang Nguyen, Huynh Tan, Le Thi Hong Nhan, Dai Hai Nguyen, Lam Dai Tran, Sy
Trung Do and Trinh Duy Nguyen, 2018. Optimization of Microwave - Assisted
Extraction of Essential Oil from Vietnamese Basil (Ocimum Basilicum L.) Using
Response Surface Methodology. Processes, 6(11), 206.
[14]. Nguyễn Năng Vinh, 1977. Kỹ thuật khai thác và sơ chế tinh dầu. NXB
Nông nghiệp, Hà Nội.
[15]. Đỗ Tất Lợi, 1985. Tinh dầu Việt Nam. NXB Y học, Hà Nội.
[16]. Vũ Văn Vụ, Vũ Thanh Tâm, Hoàng Minh Tâm, 1999. Sinh lí học thực vật.
NXB Giáo dục, Hà Nội.
[17] Claudia Turek, Florian C. Stintzing, 2013. Stability of Essential Oils: A
Review. Comprehensive Reviewsin Food Science and Food Safety, 12, 40.
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 3 (June 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 119
[18]. Amr Farouk, Reda Fikry, Mohamed Mohsen, 2016. Chemical
Composition and Antioxidant Activity of Ocimum basilicum L. Essential Oil
Cultivated in Madinah Monawara, Saudi Arabia and its Comparison to the Egyptian
Chemotype. Journal of Essential Oil Bearing Plants, 5, 119-1128.
[19]. Joshi R.K., 2014. Chemical Composition Antimicrobial Activity of the
Essential Oils of Ocimum basilicum L. (sweet basil) from Western Ghats of North
West Karnataka, India. Anc. Sci. Life, 33(3), 151-156.
[20]. Rajendra Chandra Padalia, Ram Swaroop Verma, Amit Chauhan,
Prakash Goswami, Ved Ram Singh, Sajendra Kumar Verma, Mahendra
Pandurang Darokar, Alka kurmi, Nandan Singh, Dharmendra Saikia, Chandan
Singh Chanotiya, 2017. Essential Oil Composition and Antimicrobial Activity of
Methyl cinnamate-Linalool Chemovariant of Ocimum basilicum L. from India. Rec.
Nat. Prod., 11(2), 193-204.
[21]. Amzad Hossain M., Kabir M.J., Salehuddin S.M., Mizanur Rahman S.M.,
Das A.K., Sandip Kumar Singha, Khorshed Alam Md., Atiqur Rahman, 2010.
Antibacterial properties of essential oils and methanol extracts of sweet basil
Ocimum basilicum occuring in Bangladesh. Pharmaceutical Biology, 48(5),
504-511.
[22]. Hadush Gebrehiwot, Bachetti R.K., Aman Dekebo, 2015. Chemical
composition and antimicrobial activities of leaves of sweet basil (Ocimum
basilicum L.) herb. International Journal of Basic and Clinical Pharmacology, 4(5),
869-875.
AUTHORS INFORMATION
Vo Thi Thanh Tuyen1, Le Thi Nhu Quyen2
1Faculty of Natural Sciences, Quy Nhon University
2Department of Education, Quy Nhon University
Các file đính kèm theo tài liệu này:
khao_sat_thanh_phan_hoa_hoc_va_hoat_tinh_khang_vi_sinh_cua_t.pdf