Kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại trung tâm y tế huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh

KẾT LUẬN Bệnh nhân có kiến thức về triệu chứng, các yếu tố nguy cơ, cách phát hiện bệnh và các biện pháp dự phòng, điều trị. Tuy nhiên sự hiểu biết này không đồng bộ. Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức chung về bệnh THA còn thấp. Đa số bệnh nhân có thái độ đồng tình cao với các biện pháp dự phòng và điều trị THA. Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ phù hợp và tỷ lệ bệnh nhân có thái độ chưa phù hợp là tương đương nhau.Sự TTĐT của bệnh nhân về các biện pháp thay đổi lối sống và biện pháp dùng thuốc đạt tỷ lệ khá cao. Có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh THA với tuổi và nghề nghiệp của bệnh nhân; giữa thái độ về bệnh THA với giới, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến Trung tâm y tế; giữa mức độ TTĐT với học vấn và bảo hiểm y tế của bệnh nhân; giữa mức độ tuân thủ hoàn toàn hay không hoàn toàn với kiến thức và thái độ về bệnh THA của bệnh nhân. KIẾN NGHỊ Cần tư vấn giáo dục sức khỏe để nâng cao kiến thức về bệnh THA cho bệnh nhân.Chú trọng đến đối tượng có học vấn thấp và đối tượng không có thẻ BHYT. Trong quán lý ca bệnh THA cần chú ý đối tượng học vấn thấp, đối tượng trẻ tuổi, giới tính nữ, đối tượng sống độc thân/ góa/ ly thân/ ly dị và những đối tượng ở nơi xa cơ sở điều trị. Cần quan tâm hơn đến đối tượng không có bảo hiểm y tế, đối tượng có kiến thức thấp về bệnh cao huyết áp. Việc kiểm soát tốt huyết áp chỉ được thực hiện khi bệnh nhân có sự tuân thủ điều trị tốt do đó cần hướng dẫn bệnh nhân thực hiện nghiêm túc tuân thủ điều trị.

pdf9 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 28/01/2022 | Lượt xem: 54 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại trung tâm y tế huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 176 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ VIỆC TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ   CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TRUNG TÂM Y TẾ   HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH  Đào Thị Lan*, Đặng Văn Chính**  TÓM TẮT   Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị là yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh tăng huyết áp. Vì vậy đánh giá kiến  thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp (THA) là rất cần thiết trong việc điều trị và  theo dõi bệnh nhân THA.  Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA được điều  trị từ 3 tháng trở lên và các mối liên quan với các đặc điểm dân số xã hội.  Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 bệnh nhân THA ≥ 18 tuổi được  điều trị ngoại trú ≥ 3 tháng tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.  Kết quả: Hơn 20% bệnh nhân có kiến thức chung về bệnh THA thấp, 71% trung bình. Tỷ lệ có thái độ phù  hợp và chưa phù hợp với điều trị THA là tương đương nhau. 86% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn và  70,5% bệnh nhân đạt HA mục tiêu sau thời gian điều trị. Các yếu tố liên quan đến kiến thức THA gồm: tuổi và  nghề nghiệp; đến thái độ điều trị THA gồm: giới, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ  nhà bệnh nhân đến TTYT; đến tuân thủ điều trị gồm: học vấn và bảo hiểm y tế của bệnh nhân. Bệnh nhân có kiến  thức càng cao, thái độ phù hợp thì sự tuân thủ điều trị càng tốt.  Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức thấp và có thái độ chưa phù hợp với điều trị THA còn cao. Sự tuân  thủ điều trị còn phụ thuộc vào kiến thức và thái độ của bệnh nhân.  Từ khóa: Tăng huyết áp, tuân thủ, điều trị.  ABTRACT  KNOWLEDGE, ATTITUDE AND TREATMENT COMPLIANCE OF HIGH BLOOD PRESSURE  PATIENTS AT MEDICAL STATION OF DUONG MINH CHAU DITSTRICT,   TAY NINH PROVINCE  Dao Thi Lan, Dang Van Chinh  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 177 – 185  Background: Treatment  compliance  is one of  the most  important  factors  in high blood pressure  control.  Therefore,  it’s  necessary  to  evaluate  patients’  knowledge,  attitude  and  treatment  compliance  in  high  blood  pressure control and follow‐up.  Objectives: To evaluate knowledge, attitude and treatment compliance of high blood pressure patients, who  have been treated for over three months, and relationships between knowledge, attitude and compliance, and social  determinants.  Methods: This was a cross‐sectional survey based on direct interviews of a sample of 400 high blood pressure  outpatients aged 18 years and older at Health Center in Duong Minh Chau district, Tay Ninh province.  Result: More  than 20% of patients had poor knowledge and 71% of patients had medium knowledge of  * Bệnh viện đa khoa huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh  ** Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh  Tác giả liên lạc: BS. CKI Đào Thị Lan  ĐT: 0919 91 61 44 Email: daothilantn@yahoo.com  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  177 hypertension.  The  proportion  of  patients  with  appropriate  attitude  was  similar  to  that  of  patients  with  unappropriate  attitide. After  treatment  period,  86%  of  patients  completely  complied  treatment  regimen,  and  70.5% achieved high blood pressure treatment goals. There were significant relationships between knowledge and  social  determinants  such  as  age,  occupations.  There  were  also  relationships  between  attitude  and  social  determinants  such  as gender,  occupation,  education, marriage  status  and distance  from patient’  house  to  the  Health Care Center. Education and medical insurance were social determinants which were related to treatment  compliance in this study.  Conclusion: There were  still high proportions of patients with poor knowledge and unappropriate attitude  towards high blood pressure treatment. Treatment compliance was dependent on patients’ knowledge and attitude.  Keywords: Highblood pressure, complied treatment regimen, treatment.  ĐẶT VẤN ĐỀ  Thế  giới  hiện  nay  có  khoảng  1,6  tỷ  người  tăng huyết áp (THA). Ước  tính THA  là nguyên  nhân gây tử vong 7,1 triệu người/năm và chiếm  4,5% gánh nặng bệnh  tật  toàn cầu,  trong đó 64  triệu người sống trong tàn phế(2).  Tuân  thủ  điều  trị  (TTĐT)  là  yếu  tố  quyết  định thành công trong điều trị tuy nhiên vẫn còn  một  tỷ  lệ  lớn bệnh nhân chưa thực sự  tuân  thủ  điều  trị  tốt, một nghiên  cứu  cho  thấy hơn một  nửa  bệnh  nhân  đang  được  điều  trị  bệnh THA  ngưng điều trị hoàn toàn sau một năm và chỉ có  50% trong số người còn lại chỉ dùng khoảng 80%  số thuốc đã được bác sỹ của họ kê toa(6).  THA là bệnh mạn tính nên việc điều trị gần  như suốt đời.Tuy nhiên việc giáo dục nhận thức  về TTĐT của bệnh nhân và công  tác kiểm soát  huyết áp (HA) chưa đạt hiệu quả cao. Chính vì  thiếu sự TTĐT thuốc hạ huyết áp của bệnh nhân  với  chẩn  đoán  THA,  do  đó  xấp  xỉ  75%  bệnh  nhân không kiểm soát HA tốt nhất. Hậu quả là  gia  tăng  biến  chứng  của  bệnh  THA  gây  tổn  thương các cơ quan đích như: tim, thận, não và  làm tăng tỷ lệ tử vong do THA(6).  Có nhiều nghiên cứu TTĐT bệnh THA được  tiến hành  ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam.  Một số nghiên cứu chứng minh rằng không tuân  thủ dùng  thuốc điều  trị THA khả năng có biến  chứng bệnh mạch vành gấp 4,5 lần những người  tuân thủ tốt(6). Vì vậy đánh giá kiến thức, thái độ  và việc TTĐT của bệnh THA ở một vùng nông  thôn,  nơi  có  nhiều  bệnh  nhân  cao  huyết  áp,  thường  thiếu kiến  thức và  sự  tuân  thủ điều  trị  hạn  chế  là  rất  quan  trọng  trong  việc  này  giúp  cho ngành y  tế có kế hoạch can  thiệp phù hợp  nhằm đạt được mục  tiêu điều  trị ngày càng có  hiệu quả hơn(6).  Mục tiêu nghiên cứu  Mục tiêu chung  Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA được điều trị  từ 3 tháng trở lên tại TTYT huyện Dương Minh  Châu năm 2013 có kiến thức, thái độ và tuân thủ  điều  trị  đúng  về  bệnh  THA  và mối  liên  quan  giữa kiến  thức,  thái độ và  tuân  thủ điều  trị với  các đặc điểm dân số xã hội.   Mục tiêu cụ thể  Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA có kiến thức  đúng về bệnh THA.  Xác  định  tỷ  lệ  bệnh  nhân  THA  có  thái  độ  phù hợp về bệnh THA.  Xác định tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ về điều trị  bệnh THA.  Xác định mối liên quan giữa KT, TĐ và mức  độ TTĐT của bệnh nhân với các đặc điểm dân số  xã hội.  Tìm hiểu mối liên quan giữa KT, TĐ về bệnh  THA với sự TTĐT của bệnh nhân.  ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Nghiên  cứu  cắt  ngang.Thực  hiện  trên  bệnh  nhân  ≥18  tuổi  được  chẩn  đoán bệnh THA  đang  sinh sống tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 178 Cỡ mẫu được tính theo công thức:   Trong đó: Z1‐α/2 =1,96; d =0,05; p =0,508(8). Cỡ mẫu tính  được là n = 384 bệnh nhân. Để dự phòng mất mẫu, mẫu  được làm tròn là 400 bệnh nhân.  Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata  và phân tích bằng phầm mềm Stata.  KẾT QUẢ   Đặc điểm mẫu nghiên cứu  Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=400)  Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi 30-44 27 6,7 45-59 179 44,8 60 trở lên 194 48,5 Giới Nam 145 36,3 Nữ 255 63,7 Nghề nghiệp Nội trợ 146 36,5 Nông dân 116 29,0 Công nhân viên chức 103 25,8 Khác 35 8,7 Học vấn Mù chữ, cấp 1 204 51,0 Cấp 2 113 28,2 Cấp 3 66 16,5 Trên cấp 3 17 4,3 Tình trạng hôn nhân Có gia đình 299 74,7 Ly thân/ly dị 8 2,0 Độc thân/góa 92 23,3 Bảo hiểm y tế Có 366 91,5 Không 34 8,5 Khoảng cách từ nhà đến TTYT Dưới 5 km 158 39,5 5 – 10 km 85 21,3 10 – 15 km 63 15,8 Trên 15 km 94 23,5 Nữ giới chiếm tỷ lệ gấp đôi so với nam giới.  Trên 90% bệnh nhân có độ tuổi từ 45 tuổi trở lên.  Hơn 2/3 bệnh nhân nghiên cứu có nghề nghiệp  là nông dân hoặc nội  trợ.Về học vấn, đa số đối  tượng có học vấn mù chữ hoặc cấp 1 với 51%,  chỉ có 4,3% đối tượng có học vấn trên cấp 3. Hơn  90% các đối tượng nghiên cứu đều có bảo hiểm y  tế (BHYT) và trên 70% đối tượng nghiên cứu có  thể  tiếp  cận  cơ  sở y  tế gần nhất  trong  khoảng  cách dưới 15 km.   Kiến thức về bệnh THA  Bảng 2: Kiến thức về bệnh THA (n=400)  Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Kiến thức về bệnh THA Thấp 85 21,2 Trung bình 284 71,0 Cao 31 7,8 Biết ít nhất một triệu chứng bệnh THA 397 99,3 Biết các yếu tố ảnh hưởng đến THA 383 95,8 Biết bệnh THA có thể được phòng ngừa 251 62,8 Biết cách phát hiện bệnhTHA 355 89,0 Biết yếu tố làm thay đổi HA đột ngột 370 92,5 Bệnh THA phải điều trị lâu dài 344 86,0 Biến chứng bệnh THA 393 98,3 Biết cách hạn chế bệnh THA ngoài uống thuốc 400 100,0 Hơn 20% đối tượng nghiên cứu có kiến thức  thấp về bệnh THA, 71% ở mức trung bình và 8%  ở mức cao.  Gần  100%  bệnh  nhân  biếtít  nhất một  triệu  chứng  của  bệnh  THA,  10%  bệnh  nhân  không  biết  cách  phát  hiện  THA  và  37%  bệnh  nhân  không biết bệnh THA có  thể phòng ngừa. 96%  bệnh nhân biết  ít nhất một yếu  tố nguy cơ ảnh  hưởng đến THA, 93% biết yếu các  tố  làm  thay  đổi HA đột ngột, 86% biết THA phải điều trị lâu  dài, 98% biết ít nhất một biến chứng của THA và  100% biết  ít nhất một biện pháp hạn  chế bệnh  THA ngoài uống thuốc.  Thái độ về bệnh THA  Bảng 3: Thái độ về bệnh THA (n = 400)  Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Thái độ về bệnh THA Phù hợp 202 50,5 Chưa phù hợp 198 49,5 Đồng ý theo dõi HA trong quá trình điều trị 399 99,8 Đồng ý bệnh THA cần điều trị lâu 396 99,0 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  179 Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đồng ý cần tái khám bệnh THA định kỳ 399 79,8 Đồng ý hút thuốc lá làm THA 201 46,3 Đồng ý uống bia rượu làm THA 212 53,1 Đồng ý ăn mặn làm THA 398 99,5 Đồng ý ít vận động làm THA 327 81,8 Đồng ý căng thẳng làm THA 337 84,3 Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ phù hợp đối với  bệnh THA khoảng 50%,  tương đương với  tỷ  lệ  bệnh nhân  có  thái  độ  chưa  tốt. Hơn 90% bệnh  nhân đồng ý rằng cần phải theo dõi HA thường  xuyên, cần phải  điều  trị  lâu dài, phải  tái khám  định kỳ và ăn mặn là một trong những nguy cơ  của bệnh THA. Khoảng 80% bệnh nhân cho rằng  ít vận động và trạng thái tinh thần căng thẳng là  yếu tố nguy cơ của bệnh THA. Khoảng 50% số  bệnh nhân cho rằng hút thuốc là và uống nhiều  bia, rượu là yếu tố nguy cơ của bệnh THA.  Tuân thủ điều trị  Bảng 4: Mức độ TTĐT của đối tượng nghiên cứu  (n=400)  Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Mức độ TTĐT Hoàn toàn 336 84,0 Không hoàn toàn 64 16,0 Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Bỏ hút thuốc lá theo hướng dẫn 97 95,1 Hạn chế rượu 44 86,3 Giảm ăn mặn 395 98,7 Tăng vận động 317 79,2 Uống đủ thuốc hạ áp 391 97,7 Uống thuốc đủ liều 367 91,7 Uống thuốc đúng thời gian 364 91,0 Tái khám đúng hẹn 341 85,2 Tình trạng sau 3 tháng điều trị Tiếp tục điều trị 397 99,2 Bỏ điều trị 3 0,7 Đạt huyết áp mục tiêu Đạt 282 70,5 Không 118 29,5 84%  bệnh  nhân  TTĐT  hoàn  toàn,  70%  đạt  HA mục tiêu  là 70%. Trong số người hút thuốc  lá có hơn 95% bỏ thuốc lá hoặc có giảm hút theo  hướng  dẫn.  86%  hạn  chế  uống  rượu. Hầu  hết  bệnh nhân có giảm ăn mặn,  tăng vận động  thể  lực (98% và 79%). Gần 98% uống đủ thuốc hạ áp;  92% uống  thuốc đủ  liều; 91% uống  thuốc đúng  thời gian và  có 85% bệnh nhân  tái khám  đúng  hẹn.  Sau  3  tháng  điều  trị,  trên  99% bệnh nhân  tiếp tục điều trị.  Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và mức độ TTĐT với các điều kiện dân số xã hội  Bảng 5: Mối liên quan giữa kiến thức bệnh THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)  Đặc điểm Kiến thức p Thấp (n, %) Trung bình (n, %) Cao (n, %) Nhóm tuổi < 45 12 (44,4) 14 (51,9) 1 (3,7) 0,049 45 – 59 34 (18,9) 130 (72,6) 15 (8,4) ≥ 60 39 (20,1) 140 (72,2) 15 (7,7) Giới Nam 27 (18,6) 107 (73,8) 11 (7,6) 0,6 Nữ 58 (22,7) 177 (69,4) 20 (7,8) Nghề nghiệp Nội trợ 30 (20,6) 100 (68,5) 16 (11,0) 0,13 Nông dân 22 (19,0) 88 (75,9) 6 (5,2) Công nhân viên chức 21 (20,4) 77 (74,8) 5 (4,8) Khác 12 (34,3) 19 (54,3) 4 (11,4) Học vấn Mù chữ, cấp 1 45 (22,1) 142 (69,6) 17 (8,3) 0,2 Cấp 2 30 (26,6) 78 (69,0) 5 (4,4) Cấp 3 7 (10,6) 52 (78,8) 7 (10,6) Trên cấp 3 3 (17,6) 12 (70,6) 2 (11,8) Hôn nhân Có gia đình 66 (22,1) 209 (69,9) 24 (8,0) 0,85 Ly thân/ly dị 2 (25,0) 6 (75,0) 0 Độc thân/góa 17 (18,3) 69 (74,2) 7 (7,5) Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 180 Đặc điểm Kiến thức p Thấp (n, %) Trung bình (n, %) Cao (n, %) BHYT Có 77 (21,0) 259 (70,8) 30 (8,2) 0,54 Không 8 (23,5) 25 (73,5) 1 (2,9) Khoảng cách đến trạm y tế gần nhất <5 km 34 (21,5) 109 (69,0) 15 (9,5) 0,68 5 – 10 km 21 (24,7) 58 (68,2) 6 (7,1) 10 – 15 km 9 (14,3) 49 (77,8) 5 (7,9) >15 km 21 (22,3) 68 (72,3) 5 (5,3) Có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  kiến  thức về bệnh THA với  đặc  điểm  tuổi  của  bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân tuổi càng cao thì tỷ lệ  có kiến thức về bệnh cao huyết áp càng cao.  Các  đặc  điểm:  giới,  học  vấn,  nghề  nghiệp,  tình  trạng  hôn  nhân,  có  hay  không  có  BHYT,  khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến TTYT không  có mối liên quan với kiến thức về bệnh THA.  Bảng 6: Mối liên quan giữa thái độ về bệnh THA và  một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)  Đặc điểm Thái độ p Chưa phù hợp (n, %) Phù hợp (n, %) Nhóm tuổi Dưới 45 14 (51,8) 13 (48,2) 0,86 45 – 59 86 (48,0) 93 (52,0) 60 trở lên 98 (50,5) 96 (49,5) Giới Nam 23 (15,9) 122 (84,1) < 0,001 Nữ 175 (68,6) 80 (31,4) Nghề nghiệp Nội trợ 96 (65,8) 50 (34,2) <0,001 Nông dân 45 (38,8) 71 (61,2) Công nhân viên chức 42 (40,8) 61 (59,2) Khác 15 (42,9) 20 (57,1) Học vấn Mù chữ, cấp 1 117 (57,4) 87 (42,6) <0,001Cấp 2 58 (51,3) 55 (48,7) Cấp 3 19 (28,8) 47 (71,2) Trên cấp 3 4 (23,5) 13 (76,5) Hôn nhân Có gia đình 137 (45,8) 162 (54,2) 0,04 Ly thân/ly dị 5 (62,5) 3 (37,5) Độc thân/góa 56 (60,2) 37 (39,8) Bảo hiểm y tế Có 176 (48,1) 190 (51,9) 0,06 Không 22 (64,7) 12 (35,3) Khoảng cách đến trạm y tế gần nhất <5 km 68 (43,0) 90 (57,0) 0,02 5 – 10 km 37 (43,5) 48 (56,5) 10 – 15 km 36 (57,1) 27 (42,9) >15 km 57 (60,6) 37 (39,4) Bảng 6 cho  thấy có sự khác biệt có ý nghĩa  thống kê giữa thái độ về THA của bệnh nhân với  các  đặc  điểm:  giới,  nghề  nghiệp,  trình  độ  học  vấn, tình trạng hôn nhân, và khoảng cách từ nhà  bệnh  nhân  đến  TTYT  (p<0,05).  Các  đặc  điểm  tuổi, có hay không có BHYT không có mối  liên  quan  có ý nghĩa  thống kê với  thái  độ về bệnh  THA của bệnh nhân.  Bảng 7: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh  THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)  Đặc điểm Mức độ tuân thủ p Không hoàn toàn (n, %) Hoàn toàn (n, %) Nhóm tuổi Dưới 45 6 (22,2) 21 (77,8) 0,44 45 – 59 31 (17,3) 148 (82,7) 60 trở lên 27 (13,9) 167 (86,1) Giới Nam 21 (14,5) 124 (85,5) 0,53 Nữ 43 (16,9) 212 (83,1) Nghề nghiệp Nội trợ 20 (13,7) 126 (86,3) 0,8 Nông dân 21 (18,1) 95 (81,9) Công nhân viên chức 17 (16,5) 86 (83,5) Khác 6 (17,1) 29 (82,9) Học vấn Mù chữ, cấp 1 28 (13,7) 176 (86,3) 0,02 Cấp 2 27 (23,9) 86 (76,1) Cấp 3 5 (7,6) 51 (92,4) Trên cấp 3 4 (23,5) 13 (76,5) Hôn nhân Có gia đình 47 (15,7) 252 (84,3) 0,9 Ly thân/ly dị 1 (12,5) 7 (87,5) Độc thân/góa 16 (17,2) 77 (82,8) BHYT Có 48 (13,1) 318 (86,9) <0,001 Không 16 (47,1) 18 (52,9) Khoảng cách từ nhà đến TTYT <5 km 34 (21,5) 124 (78,5) 0,11 5 – 10 km 11 (12,9) 74 (87,1) 10 – 15 km 8 (12,7) 55 (87,3) >15 km 11(11,7) 83 (88,3) Không có sự khác biệt có ý nghĩa  thống kê  giữa mức độ TTĐT với các nhóm tuổi, giới tính,  nghề  nghiệp,  tình  trạng  hôn  nhân  và  khoảng  cách nhà đến TTYT của đối tượng nghiên cứu.  Những  người  học  vấn  dưới  cấp  2  hoặc  có  học vấn cấp 3, tỷ lệ tuân thủ hoàn toàn trên 86%.  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  181 Những người có học vấn cấp 2 hoặc học vấn trên  cấp 3 thì tỷ lệ tuân thủ chỉ có 76%.Bệnh nhân có  BHYT tuân thủ hoàn toàn gần 87%, những bệnh  nhân  không  có  BHYT  tuân  thủ  hoàn  toàn  chỉ  khoảng 53%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống  kê (p< 0,05).  Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ về bệnh  THA với mức độ TTĐT  Bảng 8: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh THA  với kiến thức và thái độ đối với bệnh THA áp (n=400)  Đặc điểm Mức độ tuân thủ p Hoàn toàn (n, %) Không hoàn toàn (n, %) Kiến thức <0,001 Thấp 57 (67,1) 28 (32,9) Trung bình 250 (88,0) 34 (12,0) Cao 29 (93,6) 2 (6,4) Thái độ Phù hợp Chưa phù hợp 0,002 181 (89,6) 21 (10,4) 155 (78,3) 43 (21,7) Bảng 8 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa  thống kê giữa mức độ TTĐT và kiến thức bệnh  THA và với thái độ bệnh THA.Tỷ lệ TTĐT tỷ lệ  thuận với kiến thức, kiến thức càng cao thì tuân  thủ hoàn toàn càng cao.Những người có thái độ  phù hợp tuân thủ hoàn toàn gần 90%, người có  thái độ chưa phù hợp tuân thủ hoàn toàn là 78%.  BÀN LUẬN  Về kiến thức, 21% bệnh nhân vẫn còn có kiến  thức thấp về THA, kiến thức cao chỉ đạt 8%, chủ  yếu  kiến  thức  trung  bình  với  71%.  99%  người  biết mô tả được từ 1 triệu chứng trở lên của bệnh  THA,  kết  quả  này  cao  so  với  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Xuân  Thắng  (9%)(Error!  Reference  source  not  found.).  89%  bệnh  nhân  biết  cách  phát hiện THA là đo HA thường xuyên, kết quả  này tương đương với kết quả của Nguyễn Tuấn  Khanh (87%)(7), cao hơn kết quả của Lâm Thanh  Vân  (53%)(4). 63% bệnh nhân biết THA  là bệnh  có  thể phòng ngừa được. Trong khi đó kết quả  của Nguyễn Tuấn Khanh chỉ có 28%. Có sự khác  biệt này là do nhóm bệnh nhân THA của chúng  tôi đã được tư vấn về bệnh THA trong quá trình  theo dõi điều trị.  Về  thái độ,  tỷ  lệ bệnh nhân có  thái độ phù  hợp  và  chưa  phù  hợp  về  bệnh  THA  là  tương  đương nhau. Kết quả này  tương  tự với nghiên  cứu của Nguyễn Xuân Thắng,  thái độ đúng về  bệnh THA là 50%; cao hơn kết quả của Nguyễn  Tuấn Khanh  (39%). Với  tỷ  lệ  trên cho  thấy  thái  độ phù hợp của người tham gia nghiên cứu đối  với bệnh THA chưa cao. Ðiều này có  thể  là do  điều kiện  sống  chưa  cao,  trình  độ học vấn  còn  thấp, nên người dân chưa quan  tâm nhiều đến  bệnh THA nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói  chung. Đây cũng là cơ sở để tăng cường công tác  truyền  thông giáo dục  sức khỏe về bệnh THA  cho  người  dân.  Gần  100%  người  tham  gia  nghiên cứu có thái độ đúng  là phải theo dõi trị  số HA  trong  quá  trình  điều  trị.  Điều  này  cho  thấy  đây  là  dấu  hiệu  tốt,  khi  phần  lớn  người  tham gia nghiên  cứu  có học vấn không  cao và  nghề nghiệp nội trợ và nông dân chiếm số đông.  Đối với các  thói quen có nguy cơ THA gần  100% bệnh nhân có thái độ đồng ý ʺăn mặn làm  THAʺ,  kết  quả  này  tương  đương  với Nguyễn  Văn Út  (97%)(9)  và  cao hơn  của Nguyễn Xuân  Thắng (63%). Thái độ này cũng phù hợp với kiến  thức bệnh nhân.  Về TTĐT, 84% bệnh nhân TTĐT hoàn toàn.  Kết  quả  này  cao  hơn  của Ðào Duy An  (48%),  Trần Hữu Hậu (23%), của Nguyễn Tuấn Khanh  (41%), của Nguyễn Xuân Thắng (53%). Vẫn còn  26% bệnh nhân  tuân  thủ không hoàn  toàn, đây  là điều mà nhân viên y  tế cần phải  tư vấn  tích  cực  hơn  cho  bệnh  nhân  về  hậu  quả  của  việc  không  TTĐT  sẽ  gây  ra  các  biến  chứng  nguy  hiểm của bệnh THA.  Người hút  thuốc  đã  thực hành bỏ  thuốc  lá  theo hướng dẫn đạt  tỷ  lệ 88%. Đây  là dấu hiệu  tích cực của người bệnh vì ngưng hút thuốc lá là  một trong các biện pháp hiệu quả nhất để giảm  các yếu tố nguy cơ tim mạch. Ngưng hút thuốc  lá giảm THA còn giảm cả bệnh động mạch vành  và  đột  quỵ,  góp  phần  làm  tăng  tác  dụng  của  thuốc hạ áp. Kết quả này cao hơn của Trần Hữu  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 182 Hậu  (70%),  của Nguyễn  Tuấn Khanh  (68%)(7),  của Huỳnh Thị Tiền (41%)(3).   Bệnh  nhân  uống  rượu  thực  hiện  giảm  uống  rượu theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 86%. Kết quả này cao  hơn của Nguyễn Tuấn Khanh (79%), của Nguyễn  Xuân Thắng (45%), của Huỳnh Thị Tiền (52%).  Kết quả của chúng tôi cao hơn có thể là do số  bệnh nhân uống rượu  trong mẫu  ít, nên việc  tư  vấn, nhắc nhở dễ dàng và đạt hiệu quả hơn. Giảm  ăn mặn: 99% bệnh nhân thực hành giảm ăn mặn,  tỷ lệ này cao do bệnh nhân đã nhận thức được ăn  mặn là yếu tố nguy cơ của THA và đồng tình với  việc giảm ăn mặn khá cao nên bệnh nhân ý thức  ăn lạt để phòng ngừa và điều trị THA. Tỷ lệ này  cao hơn của Nguyễn Văn Nành (28%)(8), Nguyễn  Tuấn Khanh  (47%), Nguyễn Xuân Thắng  (50%),  Huỳnh Thị Tiền (63%)(3).  Có  98%  bệnh  nhân  uống  đủ  thuốc  hạ  áp  được  bác  sĩ  kê  đơn,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  của  Nguyễn  Văn Nành  (32%),  Bùi  Thị Mai  Tranh  (28%),  của  Huỳnh  Thị  Tiền  (35%).  Và  tương  đương với kết quả của Trần Hữu Hậu (94%). Kết  quả  của  chúng  tôi  cao  đó  là  do  TTYT Dương  Minh Châu  đã  thành  lập phòng  khám  chuyên  khoa cho bệnh THA và bệnh nhân được làm hồ  sơ  bệnh  án  ngoại  trú,  theo  dõi  điều  trị  và  xét  nghiệm định kỳ cho bệnh nhân.  Tái khám  đúng hẹn:  có  85% bệnh nhân  tái  khám  theo  lịch  hẹn,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  của  Nguyễn  Văn Nành  (32%),  Bùi  Thị Mai  Tranh  (34%),  Nguyễn  Tuấn  Khanh  (65%),  Nguyễn  Xuân  Thắng  (73%), Huỳnh  Thị  Tiền  (31%)  và  thấp hơn của Nguyễn Hữu Hậu (93%).  Một số mối liên quan  Nhóm tuổi từ 45‐59 có kiến thức mức trung  bình  và  cao  là  73%  và  8%  tương  đương  với  nhóm từ 60 tuổi trở lên có kiến thức trung bình  và  cao  là  72% và  8%,  tỷ  lệ này  cao hơn nhóm  dưới 45 tuổi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống  kê  (p<0,05).  Những  nhóm  tuổi  này  là  những  bệnh nhân chiếm số đông trong mẫu, từng tiếp  cận với y  tế, với các phương  tiện  truyền  thông  nên phần nào  đã  được  tư  vấn  và  hiểu  biết  về  bệnh THA vì thế tỷ lệ kiến thức mức độ cao và  mức  độ  trung  bình  cao  hơn  nhóm  khác.  Bệnh  nhân có kiến thức thấp ở nhóm tuổi <45 là 44%,  điều này cho thấy cần phải giáo dục sức khỏe, tư  vấn  bệnh  THA  cho  nhóm  bệnh  nhân  dứới  45  tuổi  để  họ  có  kiến  thức  dự  phòng  và  điều  trị  bệnh THA.  Theo giới, nữ giới có tỷ lệ thái độ chưa phù  hợp cao hơn gấp đôi so với nam giới. Theo nghề  nghiệp,  nhóm  nghề  nghiệp  nội  trợ  có  thái  độ  chưa  phù  hợp  cao  nhất. Nghiên  cứu  cũng  ghi  nhận, học vấn càng thấp  thái độ chưa phù hợp  càng cao, những người chưa có gia đình hay góa  có thái độ phù hợp thấp. Sự khác biệt này có ý  nghĩa  thống kê, đây  là điểm đặc biệt cần chú ý  trong công  tác  truyền thông, giáo dục sức khỏe  về  bệnh THA,  tập  trung nhiều  vào giới nữ  và  những người nội trợ. Các bệnh nhân có khoảng  cách nhà càng xa TTYT thì thái độ phù hợp càng  thấp. Điều này cho thấy điều kiện xa cơ sở y tế,  việc tiếp xúc nhân viên y tế ít hơn, ít được tư vấn  cặn kẽ hơn nên thái độ đồng tình về bệnh THA  thấp hơn.  Các  đối  tượng  có học  vấn  là mù  chữ  hoặc  cấp 1 và nhóm có học vấn cấp 3 tuân thủ hoàn  toàn cao nhất với hơn 86%. Sự TTĐT hoàn toàn  ở nhóm có học vấn cấp 2 và nhóm có học vấn  trên cấp 3  thấp hơn, khoảng 76%. Sự khác biệt  này  có ý nghĩa  thống kê  (p<0,05). Kết quả này  tương tự như kết quả của Huỳnh Thị Tiền(3), học  vấn có liên quan đến TTĐT bệnh THA của bệnh  nhân. Nhóm có BHYT, có tỷ lệ TTTĐT hoàn toàn  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  183 là  87%  so với  tỷ  lệ  53%  trong nhóm không  có  BHYT.  Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Nguyên  nhân  có  thể  do  người  có  BHYT  quan  tâm  đến  việc  tái  khám  định  kỳ  để  được  lãnh  thuốc uống đúng liều, đủ liều nhiều hơn những  đối tượng không tham gia BHYT. Việc tham gia  BHYT cũng là yếu tố giúp cho bệnh nhân TTĐT  đầy đủ hơn,  lý do quan  trọng  là bệnh nhân có  BHYT không phải trả nhiều chi phí cho dịch vụ  khám  chữa  bệnh,  do  đó  họ  TTĐT  cao  hơn.  Nghiên  cứu  của Nguyễn Văn Nành  cũng  cho  thấy  người  có BHYT TTĐT  gấp  5,7  lần  so  với  người không BHYT(8). Huỳnh Thị Tiền cũng cho  kết quả tương tự(3).Bùi Thị Mai Tranh cũng cho  kết quả các yếu  tố  liên quan đến việc  tuân  thủ  dùng thuốc chống THA trên bệnh nhân cao tuổi  THA là BHYT, tuổi và tình trạng hôn nhân(1).  Những người có kiến  thức cao, TTĐT hoàn  toàn  đạt 94% so với những người có kiến  thức  thấp TTĐT hoàn  toàn  chỉ  có  67%. Nghiên  cứu  của Nguyễn  Thị Minh Hằng,  tại  phòng  khám  Bệnh viện Đà Nẵng cũng có kết quả tương tự, có  kiến thức về bệnh THA thì tuân trị và kiểm soát  THA  tốt  hơn(5). Những  người  có  thái  độ  phù  hợp  thì  tỉ  lệ TTĐT  đạt 90%  so với  tỷ  lệ 78%  ở  những người có thái độ chưa phù hợp. Sự khác  biệt này có ý nghĩa thống kê.  KẾT LUẬN  Bệnh nhân có kiến  thức về  triệu chứng, các  yếu tố nguy cơ, cách phát hiện bệnh và các biện  pháp dự phòng, điều trị. Tuy nhiên sự hiểu biết  này  không  đồng  bộ.  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  kiến  thức chung về bệnh THA còn thấp. Đa số bệnh  nhân có thái độ đồng tình cao với các biện pháp  dự phòng và điều trị THA. Tỷ  lệ bệnh nhân có  thái độ phù hợp và  tỷ  lệ bệnh nhân có  thái độ  chưa  phù  hợp  là  tương  đương  nhau.Sự  TTĐT  của  bệnh  nhân  về  các  biện  pháp  thay  đổi  lối  sống và biện pháp dùng thuốc đạt tỷ lệ khá cao.  Có mối  liên  quan  giữa  kiến  thức  về  bệnh  THA  với  tuổi  và  nghề  nghiệp  của  bệnh  nhân;  giữa thái độ về bệnh THA với giới, nghề nghiệp,  học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ  nhà bệnh nhân đến Trung tâm y tế; giữa mức độ  TTĐT  với học  vấn  và  bảo hiểm y  tế  của  bệnh  nhân;  giữa  mức  độ  tuân  thủ  hoàn  toàn  hay  không  hoàn  toàn  với  kiến  thức  và  thái  độ  về  bệnh THA của bệnh nhân.  KIẾN NGHỊ  Cần  tư vấn giáo dục sức khỏe để nâng cao  kiến  thức  về  bệnh  THA  cho  bệnh  nhân.Chú  trọng  đến  đối  tượng  có  học  vấn  thấp  và  đối  tượng không có thẻ BHYT.  Trong quán  lý  ca bệnh THA  cần  chú ý  đối  tượng học vấn thấp, đối tượng trẻ tuổi, giới tính  nữ, đối tượng sống độc thân/ góa/ ly thân/ ly dị  và những đối tượng ở nơi xa cơ sở điều trị.  Cần quan tâm hơn đến đối tượng không có  bảo hiểm y  tế,  đối  tượng  có kiến  thức  thấp về  bệnh cao huyết áp. Việc kiểm soát  tốt huyết áp  chỉ được thực hiện khi bệnh nhân có sự tuân thủ  điều trị tốt do đó cần hướng dẫn bệnh nhân thực  hiện nghiêm túc tuân thủ điều trị.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Bùi Thị Mai Tranh  (2012). Sự  tuân  thủ dùng  thuốc hạ áp  trên  bệnh nhân cao tuổi THA tại phòng khám Bệnh Viện Quận 7. Luận  án chuyên Khoa  II chuyên ngành Nội Lão khoa. Đại học Y  Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 41‐72.  2. Hội Tim mạch Việt Nam (2006). Khuyến cáo về các bệnh lý tim  mạch và chuyển hoá giai đoạn 2006‐2010. Nhà xuất bản Y học.  Thành phố Hồ Chí Minh. Tr. 1‐24.  3. Huỳnh Thị Tiền (2007). Khảo sát sự tuân thủ điều trị bệnh nhân  THA. Luận văn  thạc sỹ y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí  Minh. Tr. 36‐98.  4. Lâm Thanh Vân (2008). Kiến thức và thực hành điều trị THA ở  người có tuổi tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ y  học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐85.  5. Nguyễn Thị Minh Hằng (2008). Khảo sát sự tuân thủ thuốc điều  trị trên bệnh nhân THA tại phòng khám Bệnh Viện Đà Nẵng.Luận  văn thạc sỹ y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 46‐90.  6. Nguyễn  Thị Mỹ Hạnh  (2010). Kiến  thức.  thái  độ về  sử  dụng  thuốc và tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 184 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương. Luận văn  thạc sỹ y học chuyên ngành Điều dưỡng. Đại học Y Dược TP.  Hồ Chí Minh. Tr. 41‐95.  7. Nguyễn Tuấn Khanh (2012). Tỷ lệ THA và kiến thức. thực hành  về phòng ngừa. điều trị THA ở người lớn tuổi tại Thành phố Mỹ  Tho năm  2011.  Luận  văn  thạc  sỹ  y  học  chuyên  ngành  Lão  khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 31‐66.  8. Nguyễn Văn Nành  (2011). Các yếu tố  liên quan đến tỷ  lệ bệnh  nhân tuân thủ điều trị THA tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Phong  Điền TP. Cần Thơ. Luận án chuyên khoa cấp II chuyên ngành  Quản Lý Y tế. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 38‐83.  9. Nguyễn Văn Út (2007). Đánh giá kiến thức. thái độ và thực hành  của  bệnh  nhân  cao HA  tại  Bệnh  Viện Nguyễn  Tri  Phương  về  những biện pháp phòng bệnh cao HA năm 2006. Luận án chuyên  khoa cấp II. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 36‐67.  10. Nguyễn Xuân Thắng  (2008). Kiến  thức.  thái  độ.  thực hành về  phòng ngừa và điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện  Đa khoa tình Bình Phước. Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành  Nội khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐86  Ngày nhận bài báo:       23/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   27/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkien_thuc_thai_do_va_viec_tuan_thu_dieu_tri_cua_benh_nhan_ta.pdf
Tài liệu liên quan