3.2 Đánh giá sức sống của lợi khuẩn trong sản
phẩm ở các điều kiện khắc nghiệt của hệ
tiêu hóa
Một sản phẩm probiotic, ngoài đặc điểm
phải đảm bảo yêu cầu về mật độ, còn phải chịu
được pH dạ dày và muối mật [10]. Vì vậy, L.
acidophilus ATCC 4356 trong nước thanh long lên
men được ủ riêng biệt trong từng môi trường để
đánh giá sự sống sót trong từng điều kiện cực đoan
của hệ tiêu hóa.
Trong môi trường dịch dạ dày nhân tạo SGJ
pH 2, sau 2 giờ thì mật độ vi sinh giảm từ 10,35 log
xuống 9,77 log ứng với tỉ lệ sống sót 94,39%. Điều
này chứng tỏ L. acidophilus ATCC 4356 có khả năng
chịu pH rất tốt (Hình 2). Trong môi trường dịch
ruột nhân tạo SIF, mật độ vi sinh vật giảm nhanh
sau mỗi giờ ủ. Có thể muối mật đã gây hại cho các
vi sinh vật bằng cách ngăn cản nhiều cơ chế bên
trong tế bào gây ra hiện tượng stress như quá trình
sinh tổng hợp màng hay trong quá trình sửa chữa
DNA [11]. Sau 4 giờ ủ trong môi trường SIF, mật số
vi khuẩn giảm từ 10,35 log xuống 7,99 log ứng với
tỉ lệ sống sót 77,19%. Điều này chứng tỏ L.
acidophilus ATCC 4356 có khả năng kháng muối mật
tốt. Các chi vi khuẩn có nguồn gốc từ hệ tiêu hóa
động vật hữu nhũ như Bifidobacterium, Lactobacillus
và Enterococcus chứa enzyme thủy phân muối mật
(bile salthydrolase: BSH) (là những enzyme nội bào
xúc tác quá trình thủy phân các liên kết amide giữa
steroid và chuỗi bên amino acid) giúp chúng biến
đổi muối mật [11].
Hình 2. Tỉ lệ sống sót của vi khuẩn trong môi trường
SGJ pH 2 và SIF
Thí nghiệm kiểm chứng này cho thấy L.
acidophilus ATCC 4356 vẫn giữ được khả năng sống
sót trong điều kiện của hệ tiêu hóa.
3.3 Đánh giá sức sống của lợi khuẩn theo điều
kiện bảo quản sản phẩm
Thách thức lớn đối với các dạng sản phẩm
probiotic là việc duy trì khả năng tồn tại của lợi
khuẩn trong sản phẩm. Theo khuyến nghị của Hiệp
hội sữa quốc tế (IDF), MBV (Minimum of bio value)
phải là ≥107 CFU/g hoặc CFU/mL cho đến hạn bảo
quản sản phẩm [12]. Đây là chỉ số đại diện cho số
lượng tế bào probiotic tối thiểu trong sản phẩm tại
thời điểm tiêu dùng. Điều này là cần thiết cho các
tác động có lợi của chúng khi được hấp thụ qua
đường tiêu hóa.
Nước thanh long lên men được bảo quản ở
4 °C và theo dõi sự thay đổi mật độ trong 21 ngày.
Sau 14 ngày bảo quản, mật độ L. acidophilus ATCC
4356 giảm chậm (từ 10,35 xuống 10,06 log), nhưng
sau 21 ngày bảo quản, mật độ giảm gần 10 lần so
với ban đầu (còn 9,91 log) (Hình 3). Nhiệt độ thấp
thường không gây chết vi sinh vật ngay mà nó tác
động lên khả năng năng chuyển hóa hợp chất, ức
chế hoạt động của hệ enzyme và trì hoãn khả năng
trao đổi chất của chúng. Tuy nhiên, nhiệt độ 4 °C
không ức chế hoàn toàn các tế bào vi khuẩn; vẫn
còn một số vi khuẩn tiếp tục sử dụng cơ chất của
môi trường tạo ra acid lactic, làm pH giảm từ 3,83
xuống 3,21 sau 21 ngày bảo quản. Ở mốc thời gian
này, nước lên men vẫn đảm bảo tốt chỉ số MBV
theo yêu cầu.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Lên men lactic tạo đồ uống giàu probiotic từ thanh long ruột trắng (hylocereus undatus), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 71–77, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5436 71
LÊN MEN LACTIC TẠO ĐỒ UỐNG GIÀU PROBIOTIC TỪ
THANH LONG RUỘT TRẮNG (Hylocereus undatus)
Nguyễn Thị Quỳnh Mai*, Đào Thị Mỹ Linh, Đỗ Thị Hoàng Tuyến,
Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Phạm Kim Tuyến
Khoa CNSH, Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 140 Lê Trọng Tấn, P. Sơn Kỳ,
Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Nguyễn Thị Quỳnh Mai
(Ngày nhận bài: 06-09-2019; Ngày chấp nhận đăng: 04-02-2020)
Tóm tắt. Thanh long (Hylocereus undatus) là loại trái cây chứa hàm lượng dinh dưỡng phong phú, giàu
vitamin, khoáng và chất xơ. Đây là nguồn cơ chất rất phù hợp cho vi khuẩn lactic sinh trưởng. Hiện tại
ở Việt Nam, thanh long chủ yếu được sử dụng trực tiếp ở dạng quả tươi hoặc lên men tạo rượu. Trong
nghiên cứu này, lần đầu tiên dịch quả thanh long trắng được lên men lactic bằng vi khuẩn Lactobacillus
acidophilus ATCC 4356 nhằm tạo đồ uống lên men giàu lợi khuẩn, hướng đến đa dạng hóa các sản phẩm
từ nguyên liệu thanh long ruột trắng. Các thông số lên men được khảo sát bao gồm nồng độ chất khô,
pH, tỉ lệ giống cấy và thời gian lên men. Đồng thời, sức sống của lợi khuẩn theo thời gian bảo quản và
khả năng sống sót trong điều kiện khắc nghiệt ở hệ tiêu hóa cũng được theo dõi. Kết quả cho thấy, ở các
điều kiện lên men bao gồm nồng độ chất khô 16 °Bx, pH 6,0, tỉ lệ giống cấy 4% (v/v) tương ứng mật độ
ban đầu là 4,8 × 107 CFU/mL, thời gian lên men phù hợp nhất là 72 giờ. Sản phẩm có mật độ lợi khuẩn
đạt 10,4 log tương ứng với 2,5 × 1010 CFU/mL). Lợi khuẩn trong dịch lên men có khả năng sống sót 94,39%
sau 2 giờ ở dịch dạ dày nhân tạo (SGJ, pH 2,0) và 77,19% sau 4 giờ ở dịch ruột nhân tạo (SIF). Sau thời
gian bảo quản 21 ngày ở 4 °C, mật độ lợi khuẩn giảm còn 9,91 log.
Từ khóa: lên men lactic, lợi khuẩn, Lactobacillus acidophilus, thanh long trắng
Fermentation of dragon fruit juice by using probiotic lactic acid bacteria
Nguyen Thi Quynh Mai*, Dao Thi My Linh, Do Thi Hoang Tuyen,
Nguyen Thi Thuy Hang, Nguyen Pham Kim Tuyen
Department of Biotechnology, Ho Chi Minh City University of Food Industry, 140 Le Trong Tan St., Son Ky Ward,
Tan Phu Dist., Ho Chi Minh City, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Thi Quynh Mai
(Received: 06 September 2019; Accepted: 04 February 2020)
Abstract. Dragon fruit (Hylocereus undatus), a tropical fruit, is rich in valuable nutrients such as vitamins,
minerals, and fiber. Therefore, this fruit can be considered as a suitable source for the growth of lactic
acid bacteria. In Vietnam, dragon fruit is directly consumed or used for the production of alcoholic
fermented beverages. In this study, the juice was fermented by using Lactobacillus acidophilus to fabricate
beverages rich in probiotics to diversify the products. The optimal culture conditions are as follows: pH
6.0, initial cell density of lactic acid bacteria 4.8 × 107 (CFU/mL), dry matter concentration 16 °Bx, and
Nguyễn Thị Quỳnh Mai và CS.
72
fermentation time 72 h. The product consists of 10 log (or 2.5 × 1010 CFU/mL) of L. acidophilus. The survival
of probiotics in fermented dragon fruit juice remains at 94.39% after 2 h in the simulated gastric fluid
medium and 77.19% after 4 h in the simulated intestinal fluid medium. After 21 days of storage at 4 °C,
the viable count of probiotics decreased to 9.91 log.
Keywords: dragon fruit, lactic fermented juice, lactobacillus acidophilus, probiotics
1 Mở đầu
Probiotic là những vi sinh vật sống hữu
dụng được đưa trực tiếp vào trong thực phẩm.
Chúng có khả năng tồn tại và phát triển trong
đường tiêu hóa. Chúng không gây hại cho cơ thể
vật chủ, trái lại còn cung cấp một số lợi ích đáng kể
như sinh tổng hợp các chất kháng khuẩn bao gồm
bacteriocin, acid hữu cơ, hydrogen peroxide, v.v.
[1]. Các sản phẩm sữa lên men là môi trường tốt
cho các chủng vi khuẩn lactic có chức năng
probiotic phát triển. Tuy nhiên, việc tiêu thụ các
sản phẩm này bị hạn chế ở một số lượng lớn những
người không dung nạp đường sữa hoặc đang trong
chế độ ăn kiêng hạn chế cholesterol. Sự gia tăng số
lượng người ăn chay là một yếu tố khác giới hạn
tiêu thụ sản phẩm sữa. Do đó, các sản phẩm
probiotic từ trái cây và rau quả đã được nghiên cứu
rộng rãi [2].
Nước ép trái cây chứa nguồn dinh dưỡng
phong phú (chất chống oxy hóa, khoáng chất và
vitamin) và đường tự nhiên trong trái cây góp
phần vào sự tăng trưởng của probiotic. Các loại
nước ép trái cây cũng có hương vị tươi mát nên
được tất cả các nhóm tuổi ưa chuộng. Một lợi thế
khác của cơ chất nước ép so với sữa là sự tiêu hóa
các loại nước ép trong dạ dày nhanh hơn, do đó vi
sinh vật bị lưu trong môi trường acid của dạ dày ít
thời gian hơn, giảm tác động đến sức sống lợi
khuẩn. Trong nhiều nghiên cứu, nước ép trái cây
từ dứa, dưa đỏ, táo, cam, nho đen, chuối, quả việt
quất, v.v. được sử dụng làm cơ chất cho probiotic
[2]. Có hai cách để chuyển nước ép trái cây thành
thực phẩm probiotic là bổ sung lợi khuẩn vào nước
ép trái cây hoặc lên men nước trái cây với lợi
khuẩn. Sự lên men nước trái cây bằng lợi khuẩn thể
hiện một số lợi thế so với việc bổ sung vì trong
nước ép với lượng đường thấp, vi sinh vật thích
nghi tốt hơn và có thể có tỷ lệ sống cao hơn. Một
lợi thế khác của quá trình lên men là sản xuất các
chất chuyển hóa giúp gia tăng chất lượng sản
phẩm, chẳng hạn như bacteriocin (giúp chống tạp
nhiễm vi sinh vật suốt thời gian bảo quản) [2]. Hiện
nay, nhiều loại nước trái cây probotic và đồ uống
liên quan đã được thương mại hóa như Proviva
(Thụy Điển), Biola (Phần Lan), Goodbely (Mỹ),
v.v., nhưng chủ yếu là dạng nước trái cây bổ sung
probiotic [3].
Ở Việt Nam, thanh long hiện được trồng ở
30 tỉnh thành. Riêng ba tỉnh Bình Thuận, Tiền
Giang và Long An chiếm 93,6% diện tích và chiếm
95,5% sản lượng cả nước. Sản xuất thanh long ở
Việt Nam phát triển mạnh; từ năm 2000 đến 2013,
diện tích tăng 4,5 lần và sản lượng tăng 13 lần. Diện
tích thanh long trên cả nước năm 2013 là 28,700 ha
và sản lượng đạt 520 ngàn tấn [4]. Như vậy, có thể
nhận thấy tiềm năng nguyên liệu thanh long trong
nước luôn dồi dào. Tuy nhiên, thanh long chủ yếu
lưu được bán trên thị trường ở dạng trái tươi, do
vậy thời gian bảo quản không dài. Hiện nay, một
số cơ sở sản xuất đã nghiên cứu chế biến thanh
long ở dạng rượu vang, mứt dẻo và thanh long sấy.
Do vậy, việc tạo ra nước thanh long lên men giàu
probiotic sẽ góp phần làm đa dạng hóa các sản
phẩm của địa phương.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 71–77, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5436 73
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Đối tượng
Quả thanh long ruột trắng được thu mua tại
xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Chọn quả có cùng độ chín, khối lượng trung bình
0,3–0,4 kg, không dập nát, hư hỏng. Lactobacillus
acidophilus ATCC 4356 do Bộ môn Công nghệ sinh
học, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí
Minh cung cấp. Giống được giữ giống trong
glycerol 10% ở –18 °C trên môi trường MRS–agar
(Himedia, Ấn Độ) ở 4 °C.
2.2 Vật liệu
Hóa chất chính sử dụng bao gồm acid citric
(Trung Quốc), NaHCO3 (Trung Quốc), NaCl
(Trung Quốc), pepsin (Sigma – Aldrich, Mỹ) và
muối mật (Sigma – Aldrich, Mỹ). Đường tinh luyện
RE có hàm lượng saccharose >99,8% mua từ công
ty Đường Biên Hòa. Các môi trường được sử dụng
trong nghiên cứu bao gồm: môi trường MRS Broth,
MRS agar (Himedia , Ấn Độ); môi trường dịch dạ
dày nhân tạo (SGJ – Simulated Gastric Juice: NaCl
9 g·L–1, pepsin 3 g·L–1, pH 2); môi trường dịch ruột
nhân tạo (SIF – Simulated Intestinal Fluid: NaCl 9
g·L–1, muối mật 3 g·L–1, pH 6,5).
2.3 Phương pháp
Chuẩn bị giống cho lên men
Lactobacillus acidophilus được nhân giống cấp
2 trong môi trường MRS – broth ở 37 °C trong 22
giờ; ly tâm 4000 v/ph trong 20 phút ở 4 °C; rửa sinh
khối 2 lần bằng nước muối sinh lý và hoàn lại thể
tích ban đầu. Dịch giống được pha loãng theo dãy
thập phân và cấy trải trên môi trường MRS agar.
Mật độ vi khuẩn được xác định bằng phương pháp
đếm khuẩn lạc trên môi trường MRS agar. Dịch
giống có mật độ 109 CFU/mL.
Khảo sát quá trình lên men lactic
Quả thanh long được rửa sạch, tách vỏ lấy
thịt quả và ép thu dịch. Để tiết kiệm dịch quả và
không làm mất nhiều tính chất ban đầu, dịch quả
được pha loãng với nước ở tỉ lệ 2:1 (v/v); chỉnh pH
về các giá trị khảo sát bằng dung dịch
natribicacbonat 5% hoặc acid citric 10%; chuẩn hóa
nồng độ chất khô. Thanh trùng Pasteur dịch quả ở
80 °C trong 10 phút; làm nguội về 30 °C và cấy
giống lên men.
Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình lên men
bao gồm:
– pH ban đầu: 5,0; 5,5; 6,0; 6,5; thông số cố
định là nồng độ chất khô 12 °Bx; tỉ lệ giống
cấy 2% (v/v); thời gian lên men tại 48 giờ.
– Nồng độ chất khô: 12, 14, 16, 18 °Bx; thông
số cố định gồm pH chỉnh theo kết quả thí
nghiệm trước; tỉ lệ giống cấy 2% (v/v); thời
gian lên men tại 48 giờ.
– Tỉ lệ cấy giống: 2, 4, 6% (v/v); thông số cố
định gồm pH và nồng độ chất khô chỉnh
theo kết quả của thí nghiệm trước; thời gian
lên men 48 giờ.
– Kết hợp các thông số được chọn ở các thí
nghiệm trước, thời gian lên men: 24, 48, 72,
96 giờ.
Các nghiệm thức được theo dõi và đánh giá
thông qua mật độ vi khuẩn sau lên men (CFU/mL),
nồng độ chất tan, pH và điểm cảm quan thị hiếu về
vị.
Khảo sát sức sống của lợi khuẩn trong sản phẩm
lên men ở điều kiện khắc nghiệt của hệ tiêu hóa
Sức sống của lợi khuẩn trong điều kiện khắc
nghiệt được thực hiện theo Kalita và cs. và có một
số điều chỉnh [5]: Chuẩn bị các môi trường dịch dạ
dày và dịch mật nhân tạo, thanh trùng ở 90 °C
trong 5 phút. Hút dịch thanh long lên men vào
từng môi trường theo tỷ lệ 1:10 (v/v), trộn đều bằng
vortex. Với môi trường SGJ, tiến hành xác định mật
số lợi khuẩn (CFU/mL) sau mỗi 30 phút ủ trong
tổng thời gian theo dõi là 2 giờ. Với môi trường SIF,
tiến hành xác định mật độ lợi khuẩn sau mỗi 60
phút ủ trong tổng thời gian theo dõi là 4 giờ.
Nguyễn Thị Quỳnh Mai và CS.
74
Khảo sát sức sống lợi khuẩn theo thời gian bảo
quản sản phẩm lên men
Sức sống của lợi khuẩn trong sản phẩm lên
men theo thời gian bảo quản được theo dõi thông
qua các chỉ tiêu: pH, acid lactic và mật độ tế bào
sau mỗi 21 ngày bảo quản.
Các phương pháp phân tích
Mật độ vi khuẩn được xác định bằng
phương pháp trải đĩa trên môi trường MRS–agar
với các bước chính gồm [6]: dịch mẫu dược pha
loãng thành một dãy theo các tỉ lệ từ 10–1 đến 10–9.
Chọn tỉ lệ 10–8 và 10–9 cấy trải trên môi trường MRS–
agar. Ủ các đĩa ở 37 °C trong 48 giờ. Tính kết quả
theo công thức [7]:
𝐴 =
𝑁
𝑛1 × 𝑣 × 𝑓1 + ⋯ + 𝑛𝑖 × 𝑣 × 𝑓𝑖
trong đó, A là mật độ vi khuẩn (CFU/mL); N là tổng
số khuẩn lạc; n là số đĩa cấy tương ứng ở từng nồng
độ pha loãng; v là thể tích cấy; f là tỉ lệ pha loãng.
pH của dịch lên men được đo bằng máy đo
pH inoLab® pH 7110, Đức. Nồng độ chất khô hòa
tan được xác định bằng chiết quang kế ATAGO
Master 53M, Nhật. Hàm lượng acid lactic được xác
định theo TCVN 4589-1988. Đánh giá cảm quan
bằng phương pháp cảm quan thị hiếu [8].
2.4 Xử lý số liệu
Tất cả các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên
và lặp lại 3 lần. Đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa
giữa các mẫu thí nghiệm được thực hiện bằng
phương pháp thống kê Anova và kiểm định LSD
với độ tin cậy 95%. Các số liệu thu nhận được xử lý
bằng phần mềm thống kê Statgraphic Centurion
XVI.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Ảnh hưởng của các điều kiện lên men
Dịch quả ban đầu có hàm lượng acid lactic
0,29 ± 0,01 g/100 mL, pH 4,44 ± 0,15 và nồng độ chất
tan 10,5 ± 0,17 °Bx. Do vậy, để đảm bảo điều kiện
tăng trưởng và lên men của L. acidophilus ATCC
4356, dịch quả cần được điều chỉnh về pH phù hợp.
Nồng độ chất tan là yếu tố thể hiện hàm lượng
đường và các chất hòa tan khác có trong môi
trường lên men. Hàm lượng đường trong môi
trường sẽ tạo sự chênh lệch áp suất thẩm thấu giữa
tế bào vi khuẩn làm cho các chất dinh dưỡng dễ
dàng thấm vào tế bào qua màng. Tuy nhiên, theo
thời gian lên men lactic, độ chua sẽ tăng và ảnh
hưởng đến tính cảm quan của sản phẩm nên
đường saccharose được bổ sung vào dịch quả và
khảo sát cùng với tỉ lệ giống cấy và thời gian lên
men. Các kết quả khảo sát được trình bày trong
Bảng 1.
Bảng 1. Ảnh hưởng của các yếu tố khảo sát đến các thông số sau lên men
Nghiệm
thức
Nồng độ chất tan
sau lên men (°Bx)
pH sau
lên men
Mật độ tế bào
sau lên men (log)
Điểm cảm quan
thị hiếu về vị
pH5,0 10,83 ± 0,12ab 4,26 ± 0,04a 10,14 ± 0,10b 5,12 ± 0,15a
pH5,5 10,97 ± 0,06b 4,48 ± 0,03b 10,08 ± 0,03b 5,93 ± 0,73b
pH6,0 10,80 ± 0,10a 4,27 ± 0,03a 10,16 ± 0,17b 7,13 ± 0,63c
pH6,5 11,17 ± 0,06 c 5,07 ± 0,15c 9,61 ± 0,28a 6,03 ± 0,51b
Bx12 11,33 ± 0,15a 4,05 ± 0,13b 9,22 ± 0,25a 5,8 ± 1,04b
Bx14 13,07 ± 0,06b 4,10 ± 0,05bc 9,63 ± 0,22b 6,2 ± 0,83c
Bx16 14,97 ± 0,06c 3,91 ± 0,01a 10,22 ± 0,04c 7,2 ± 1,12d
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 71–77, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5436 75
Nghiệm
thức
Nồng độ chất tan
sau lên men (°Bx)
pH sau
lên men
Mật độ tế bào
sau lên men (log)
Điểm cảm quan
thị hiếu về vị
Bx18 17,37 ± 0,23d 4,23 ± 0,02c 9,94 ± 0,11bc 5,43 ± 0,68a
G2 15,07 ± 0,06b 4,00 ± 0,10b 9,97 ± 0,07a 6,5 ± 1,17a
G4 14,77 ± 0,06a 3,83 ± 0,02a 10,42 ± 0,06b 7,3 ± 1,24c
G6 15,00 ± 0,00b 3,90 ± 0,01ab 10,21 ± 0,19ab 7,0 ± 1,02b
Bx12 đến Bx18 là các nghiệm thức với nồng độ chất khô từ 12 đến18 oBx. G2 đến G6 là các nghiệm thức với tỉ lệ giống cấy 2, 4, 6%.
Các ký tự (a, b, c, d) khác nhau biễu diễn mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%.
Có thể thấy rằng, các nghiệm thức pH 6,0,
nồng độ chất tan ban đầu 16 °Bx và tỉ lệ cấy giống
4% (tương ứng mật độ tế bào gieo cấy ban đầu là
4,8 × 107 CFU/mL) đều cho giá trị mật độ lợi khuẩn
sau lên men cao nhất, tương ứng với đó là sự giảm
nhanh nồng độ chất khô và pH sau lên men tại mỗi
nghiệm thức. Ngoài ra, kết quả đánh giá về vị ở 3
nghiệm thức này cũng cao nhất. Do vậy, đây là các
thông số lên men phù hợp được lựa chọn để thực
hiện theo dõi thời gian lên men.
Hình 1 cho thấy mật độ tế bào tăng rất nhanh
trong khoảng từ 24 đến 72 giờ (từ 10,10 đến 10,4
log); nồng độ chất khô giảm từ 16 xuống còn 14,73
°Bx; pH giảm đến 3,83. Sau đó, nếu kéo dài thời
gian lên men thì thấy rằng mật độ tế bào và pH bắt
đầu suy giảm. Trong thời gian từ 24 đến 72 giờ thì
vi khuẩn đang ở pha log nên số lượng tăng sinh rất
nhanh; quá trình trao đổi chất diễn ra rất mạnh mẽ
kéo theo nồng độ chất khô và pH cũng giảm
nhanh. Sau một thời gian nuôi cấy, chất dự trữ
trong môi trường cạn dần, một số sản phẩm của sự
trao đổi có tính độc tích tụ lại và pH của môi
trường thay đổi. Sự chuyển hóa năng lượng chậm
lại; những cá thể bắt đầu gây trở ngại cho nhau; tốc
độ sinh sản giảm dần; tế bào chết bắt đầu xuất hiện.
Các tế bào mới hình thành bằng với số lượng tế bào
chết đi và quần thể vi sinh vật tiến vào pha cân
bằng nên khi thời gian lên men lớn hơn 72 giờ, mật
độ vi sinh vật không tăng mà giảm đi; đặc biệt, ở
96 giờ, quần thể vi sinh vật đã tiến tới pha suy
vong; mật độ vi sinh giảm đi do pH thấp ức chế vi
khuẩn. Mật độ tế bào cao nhất tại 72 giờ (10,40 log
tương ứng với 2,5 × 1010 CFU/mL) và có sự khác
biệt có ý nghĩa so với các thời điểm còn lại. Vì vậy,
thời điểm dừng quá trình lên men là 72 giờ. Theo
Mousavi và cs., khi lên men nước lựu bằng L.
acidophilus DSMZ 20079 và L. plantarum DSMZ
20174, thời gian lên men tối ưu là 72 giờ với mật độ
vi khuẩn 3,9 × 108 CFU/mL [9]. Trong nghiên cứu
này mật độ L. acidophilus ATTC 4356 cao hơn, có
thể do sự khác biệt trong nguyên liệu lên men.
Hình 1. Biến động của các yếu tố sau quá trình lên men theo thời gian
Nguyễn Thị Quỳnh Mai và CS.
76
3.2 Đánh giá sức sống của lợi khuẩn trong sản
phẩm ở các điều kiện khắc nghiệt của hệ
tiêu hóa
Một sản phẩm probiotic, ngoài đặc điểm
phải đảm bảo yêu cầu về mật độ, còn phải chịu
được pH dạ dày và muối mật [10]. Vì vậy, L.
acidophilus ATCC 4356 trong nước thanh long lên
men được ủ riêng biệt trong từng môi trường để
đánh giá sự sống sót trong từng điều kiện cực đoan
của hệ tiêu hóa.
Trong môi trường dịch dạ dày nhân tạo SGJ
pH 2, sau 2 giờ thì mật độ vi sinh giảm từ 10,35 log
xuống 9,77 log ứng với tỉ lệ sống sót 94,39%. Điều
này chứng tỏ L. acidophilus ATCC 4356 có khả năng
chịu pH rất tốt (Hình 2). Trong môi trường dịch
ruột nhân tạo SIF, mật độ vi sinh vật giảm nhanh
sau mỗi giờ ủ. Có thể muối mật đã gây hại cho các
vi sinh vật bằng cách ngăn cản nhiều cơ chế bên
trong tế bào gây ra hiện tượng stress như quá trình
sinh tổng hợp màng hay trong quá trình sửa chữa
DNA [11]. Sau 4 giờ ủ trong môi trường SIF, mật số
vi khuẩn giảm từ 10,35 log xuống 7,99 log ứng với
tỉ lệ sống sót 77,19%. Điều này chứng tỏ L.
acidophilus ATCC 4356 có khả năng kháng muối mật
tốt. Các chi vi khuẩn có nguồn gốc từ hệ tiêu hóa
động vật hữu nhũ như Bifidobacterium, Lactobacillus
và Enterococcus chứa enzyme thủy phân muối mật
(bile salthydrolase: BSH) (là những enzyme nội bào
xúc tác quá trình thủy phân các liên kết amide giữa
steroid và chuỗi bên amino acid) giúp chúng biến
đổi muối mật [11].
Hình 2. Tỉ lệ sống sót của vi khuẩn trong môi trường
SGJ pH 2 và SIF
Thí nghiệm kiểm chứng này cho thấy L.
acidophilus ATCC 4356 vẫn giữ được khả năng sống
sót trong điều kiện của hệ tiêu hóa.
3.3 Đánh giá sức sống của lợi khuẩn theo điều
kiện bảo quản sản phẩm
Thách thức lớn đối với các dạng sản phẩm
probiotic là việc duy trì khả năng tồn tại của lợi
khuẩn trong sản phẩm. Theo khuyến nghị của Hiệp
hội sữa quốc tế (IDF), MBV (Minimum of bio value)
phải là ≥107 CFU/g hoặc CFU/mL cho đến hạn bảo
quản sản phẩm [12]. Đây là chỉ số đại diện cho số
lượng tế bào probiotic tối thiểu trong sản phẩm tại
thời điểm tiêu dùng. Điều này là cần thiết cho các
tác động có lợi của chúng khi được hấp thụ qua
đường tiêu hóa.
Nước thanh long lên men được bảo quản ở
4 °C và theo dõi sự thay đổi mật độ trong 21 ngày.
Sau 14 ngày bảo quản, mật độ L. acidophilus ATCC
4356 giảm chậm (từ 10,35 xuống 10,06 log), nhưng
sau 21 ngày bảo quản, mật độ giảm gần 10 lần so
với ban đầu (còn 9,91 log) (Hình 3). Nhiệt độ thấp
thường không gây chết vi sinh vật ngay mà nó tác
động lên khả năng năng chuyển hóa hợp chất, ức
chế hoạt động của hệ enzyme và trì hoãn khả năng
trao đổi chất của chúng. Tuy nhiên, nhiệt độ 4 °C
không ức chế hoàn toàn các tế bào vi khuẩn; vẫn
còn một số vi khuẩn tiếp tục sử dụng cơ chất của
môi trường tạo ra acid lactic, làm pH giảm từ 3,83
xuống 3,21 sau 21 ngày bảo quản. Ở mốc thời gian
này, nước lên men vẫn đảm bảo tốt chỉ số MBV
theo yêu cầu.
0 7 14 21
12
13
14
15
M
Ë
t
®
é
v
i
s
in
h
v
Ë
t
(l
o
g
(
C
F
U
/g
))
N
å
n
g
®
é
c
h
Ê
t
k
h
«
(
o
B
x
)
p
H
Thêi gian lªn men (ngµy)
2,0
2,5
3,0
3,5
4,0
4,5
5,0
9
10
11
Hình 3. Sự thay đổi các thông số trong nước thanh long
lên men theo thời gian bảo quản
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 71–77, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5436 77
4 Kết luận
Như vậy, dịch ép của quả thanh long trắng
sau khi pha loãng 2 lần với nước chuẩn hóa về các
điều kiện nồng độ chất khô 16 °Bx và pH 6,0 là phù
hợp cho sự lên men của vi khuẩn L. acidophilus
ATCC 4356. Lợi khuẩn trong sản phẩm lên men
duy trì sức sống tốt (trên 70%) trong điều kiện pH
thấp ở dạ dày và muối mật ở hệ tiêu hóa. Có thể
xem các kết quả trong nghiên cứu này là tiền đề
cho các nghiên cứu sâu hơn về tối ưu hóa quá trình
lên men tạo sản phẩm phù hợp với thị hiếu của
người sử dụng, hướng tới sự đa dạng hóa sản
phẩm nước trái cây mang tính tác động có lợi cho
sức khỏe.
Thông tin tài trợ
Nghiên cứu này do Trường Đại học Công
nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh bảo trợ
và cấp kinh phí theo Hợp đồng số 93/HĐ-DCT
Tài liệu tham khảo
1. Septembre-Malaterre A, Remize F, Poucheret P.
Fruits and vegetables, as a source of nutritional
compounds and phytochemicals: Changes in
bioactive compounds during lactic fermentation.
Food Research International. 2018 02;104:86-99.
2. Fernandes Pereira AL, Rodrigues S. Turning Fruit
Juice Into Probiotic Beverages. In: Rajauria G, Tiwari
BK, editors. Fruit Juices. London: Academic Press;
2018. p. 279-87.
3. Patel A. Probiotic fruit and vegetable juices- recent
advances and future perspective. International Food
Research Journal. 2017;24:1850-1857.
4. Minh VĐ, Thanh LVT, Vũ KH, Thanh TN. Phân tích
chuỗi giá trị thanh long tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền
Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
2015;36:10-22.
5. Kalita D, Saikia S, Gautam G, Mukhopadhyay R,
Mahanta CL. Characteristics of synbiotic spray dried
powder of litchi juice with Lactobacillus plantarum
and different carrier materials. LWT. 2018;87:351-
360.
6. Angelov A, Gotcheva V, Kuncheva R, Hristozova T.
Development of a new oat-based probiotic drink.
International Journal of Food Microbiology. 2006;
112(1):75-80.
7. Thước TL. Phương pháp phân tích vi sinh vật trong
nước, thực phẩm và mỹ phẩm. Hà Nội: Nxb Giáo
Dục; 2005.
8. Tư HD. Kỹ thuật phân tích cảm quan thực phẩm. Hà
Nội: Nxb Khoa học và Kỹ thuật; 2006.
9. Mousavi ZE, Mousavi SM, Razavi SH, Hadinejad M,
Emam-Djomeh Z, Mirzapour M. Effect of
Fermentation of Pomegranate Juice byLactobacillus
plantarumandLactobacillus acidophiluson the
Antioxidant Activity and Metabolism of Sugars,
Organic Acids and Phenolic Compounds. Food
Biotechnology. 2013;27(1):1-13.
10. Ding WK, Shah N. Survival of Free and
Microencapsulated Probiotic Bacteria in Orange and
Apple Juices. Int Food Res J. 2008;15:219-232.
11. Kumar R, Grover S, Batish VK. Bile Salt Hydrolase
(Bsh) Activity Screening of Lactobacilli: In Vitro
Selection of Indigenous Lactobacillus Strains with
Potential Bile Salt Hydrolysing and Cholesterol-
Lowering Ability. Probiotics and Antimicrobial
Proteins. 2012;4(3):162-172.
12. Mortazavian AM, Sohrabvandi S. Probiotics and
food probiotic products; based on dairy probiotic
products. Tehran: Eta Publication. 2006.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
len_men_lactic_tao_do_uong_giau_probiotic_tu_thanh_long_ruot.pdf