KẾT LUẬN
Vùng triều Lý Sơn có tính đa dạng loài cao,
đã ghi nhận được 92 loài thân mềm, 76 loài
giáp xác, 71 loài giun nhiều tơ, 22 loài da gai.
Trong đó 7 loài có giá nguồn lợi, thường được
khai thác làm thực phẩm gồm hải sâm
Holothuria (Semperothuria) cinerascens, nhum
sọ Tripneustes gratilla, cầu gai Echinothrix
diadema, Diadema savignyi (thuộc ngành da
gai); Ốc nhảy đỏ lợi Strombus luhuanus, ốc mặt
trăng Turbo chrysostomus và dòm nâu
Modiolus barbatus (thuộc ngành thân mềm).
Một số loài khác có hình dáng, màu sắc đẹp,
thường được khai thác làm hàng mỹ nghệ như
trai ngọc môi đen Pinctada margaritifera, trai
tai tượng Tridacna maxima, ốc sứ Trung Hoa
Cypraea chinensis chinensis và các loài khác
thuộc họ ốc cối Conidae.
Mật độ động vật đáy có sự dao động giữa
các trạm khảo sát, từ 38 đến 1.632 cá thể/m2 và
tập trung chủ yếu vào hai nhóm giáp xác và
giun nhiều tơ. Độ phong phú của động vật đáy
tăng dần từ vùng triều cao đến vùng triều thấp;
Sinh cảnh san hô chết có mật độ (1.575 cá
thể/m2) cao hơn so với sinh cảnh bờ đá (379 cá
thể/m2) và nền đáy cát (475 ở Đảo Lớn và 859
cá thể/m2 ở Đảo Bé).
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Macrozoobenthos in the intertidal zone of the Ly Son island, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
287
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 287–297
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14607
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Macrozoobenthos in the intertidal zone of the Ly Son island
Phan Thi Kim Hong
*
, Nguyen An Khang, Dao Tan Hoc, Nguyen Thi My Ngan,
Hua Thai Tuyen
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: phn_kimhong@yahoo.com
Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
The surveys of macrozoobenthos fauna of Ly Son tidal area were carried out at 8 stations in September
2016. The 4 replicate samples were collected in high, middle and low tidal zones at each station. The results
record 92 taxa of mollusc (accounting for 35% of total number of taxa), 76 taxa of crustacean (29%), 71 taxa
of polychaete (27%) and 22 taxa of echinoderm (9%). Among them, there are 7 species of valuable
resources that were exploited for food such as sea cucumber (Holothuria (Semperothuria) cinerascens),
collector urchin (Tripneustes gratilla), diadema urchin (Echinothrix diadema), Diadema savignyi (belonging
to Echinoderma), strawberry conch (Strombus luhuanus), goldmouth turban (Turbo chrysostomus) and
bearded horse mussel (Modiolus barbatus). Some species with beautiful shapes and colors are used for
handycraft such as black-lip pearl oyster (Pinctada margaritifera), small giant clam (Tridacna maxima),
Chinese cowrie (Cypraea chinensis)... The densities of mactozoobenthos vary from 38 to 1,632
individuals/m
2
between stations and tend to increase from high to low tide zones; from sandy bottom and
shore rock to dead coral habitats covered by seaweed and seagrass bed.
Keywords: Macrobenthos, intertidal, Ly Son.
Citation: Phan Thi Kim Hong, Nguyen An Khang, Dao Tan Hoc, Nguyen Thi My Ngan, Hua Thai Tuyen, 2019.
Macrozoobenthos in the intertidal zone of the Ly Son island. Vietnam Journal of Marine Science and Technology,
19(4A), 287–297.
288
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 287–297
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14607
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Động vật đáy vùng triều đảo Lý Sơn
Phan Thị Kim Hồng*, Nguyễn An Khang, Đào Tấn Học, Nguyễn Thị Mỹ Ngân,
Hứa Thái Tuyến
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam
*
E-mail: phn_kimhong@yahoo.com
Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019
Tóm tắt
Động vật đáy vùng triều Lý Sơn được khảo sát tại 8 trạm vào tháng 9/2016, mỗi trạm khảo sát ở cả 3 đới
triều và thu lặp lại 4 mẫu trên mỗi đới. Kết quả đã ghi nhận được tổng cộng 261 taxa gồm 92 taxa thân mềm
(chiếm 35% tổng số taxa), 76 taxa giáp xác (29%), 71 taxa giun nhiều tơ (27%) và 22 taxa da gai (9%).
Trong số đó có 7 loài có giá trị nguồn lợi, được khai thác làm thực phẩm như hải sâm Holothuria
(Semperothuria) cinerascens, nhum sọ Tripneustes gratilla, cầu gai Echinothrix diadema, Diadema savignyi
(thuộc ngành da gai), ốc nhảy đỏ lợi Strombus luhuanus, ốc mặt trăng Turbo chrysostomus và dòm nâu
Modiolus barbatus; Một số loài có hình dáng, màu sắc đẹp dùng làm hàng mỹ nghệ như trai ngọc môi đen
Pinctada margaritifera, trai tai tượng Tridacna maxima, ốc sứ Trung hoa Cypraea chinensis chinensis... Mật
độ động vật đáy có sự dao động lớn giữa các trạm khảo sát, từ 38 đến 1.632 cá thể/m2 và có xu hướng tăng
từ đới triều cao đến triều thấp, sinh cảnh nền đáy san hô chết phủ rong và cỏ biển có mật độ cao hơn so với
nền đáy cát và bờ đá.
Từ khóa: Động vật đáy, vùng triều, Lý Sơn.
MỞ ĐẦU
Lý Sơn là một huyện đảo thuộc tỉnh
Quảng Ngãi cách đất liền khoảng 15 hải lý,
nằm trong khoảng 15o32‟04‟‟ đến 15o38‟14‟‟
vĩ độ Bắc và 109o05‟04‟‟ đến 109o14‟12‟‟
kinh độ Đông với diện tích khoảng 10,33 km².
Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
đã ghi nhận được 224 loài san hô cứng, 232
loài cá rạn san hô, 75 loài thân mềm, 14 loài
da gai [1]; 15 loài giáp xác [2]; san hô mềm có
60 taxa thuộc 19 giống, 5 họ trong đó có 33
loài thuộc 2 giống lần đầu tiên được ghi nhận
cho vùng biển Việt Nam [3]; rong biển có 133
loài rong biển trong đó có 119 loài phân bố ở
vùng triều, 99 loài có phân bố ở vùng dưới
triều [4]; 6 loài cỏ biển [5]. Nhìn chung đa
dạng sinh học ở vùng biển Lý Sơn đã được
nghiên cứu trong nhiều đề tài với nhiều qui
mô khác nhau. Sản lượng khai thác bình quân
hàng năm ở vùng biển xung quanh Lý Sơn khá
lớn, khoảng 28.000 tấn, chiếm gần 30% so với
toàn tỉnh; tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước
mặn có thể lên đến 250 ha.
Vùng triều Lý Sơn khá đa dạng về sinh
cảnh, bao gồm vùng triều bờ đá, đáy cát, san hô
chết, cỏ biển. Tuy nhiên các dẫn liệu về đa dạng
sinh học trên vùng triều còn hạn chế. Tình hình
khai thác sử dụng nguồn tài nguyên ở vùng triều
cũng chưa được nghiên cứu, cập nhật trong thời
gian gần đây trừ nguồn lợi rong biển.
Ngày nay với sự ấm lên của khí hậu toàn
cầu, sinh vật vùng triều là các đối tượng chịu
nhiều tác động nhất. Somero (2010) cho rằng
sự biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến “kẻ thắng
(winners) người thua (losers)” tùy thuộc khả
năng thích nghi với sự ấm lên của khí hậu hoặc
289
khả năng chịu đựng đối với sự thay đổi khí hậu
của từng loài [6]. Hơn thế nữa, dưới tác động
của biến đổi khí hậu sẽ làm tăng hàm lượng
axit trong nước dẫn đến quần xã sinh vật đáy
vùng triều vốn nhạy cảm với các yếu tố thủy
hóa sẽ biến động [7, 8]. Do vậy, việc nghiên
cứu về đa dạng sinh học ở vùng triều Lý Sơn sẽ
cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đánh
giá, giám sát cũng như các dự báo về sự thay
đổi quần xã sinh vật trong khu vực.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
Địa điểm và thời gian thu mẫu
Đã tiến hành 1 đợt thu mẫu vào 9/2016 tại
08 trạm ở vùng triều đảo Lý Sơn với 3 dạng
sinh cảnh là bờ đá, san hô chết có phủ rong và
cỏ biển và cát. Trong đó, 6 trạm (từ T1 đến T6)
thuộc Đảo Lớn và 2 trạm (T7 và T8) thuộc Đảo
Bé. Vị trí các trạm thu mẫu được thể hiện ở
hình 1 và bảng 1.
Hình 1. Vị trí các trạm khảo sát động vật đáy ở vùng triều đảo Lý Sơn
Bảng 1. Vị trí trạm khảo sát đa dạng sinh học ở vùng triều Lý Sơn, 9/2016
Trạm Địa danh Kinh độ Vĩ độ Sinh cảnh
T1 Dinh bà Thuỷ Long 109,1278 15,37474 Cát
T2 Cầu An Vĩnh 109,0931 15,38977
San hô chết
T3 Thôn Tây An Vĩnh 109,0965 15,37490
T4 Đông đảo lớn 109,1412 15,38839
Bờ đá
T5 Chùa Hang 109,1228 15,39289
T6 Hang Câu 109,1342 15,39012
T7 Nam An Bình 109,0805 15,42681 Cát
T8 Tây An Bình 109,0760 15,43022
Phƣơng pháp thu, xử lý và phân tích mẫu
Mẫu được thu ở 3 đới triều cao, triều giữa
và triều thấp. Thu lặp lại 4 mẫu trên mỗi đới.
Tại mỗi vị trí thu mẫu đặt khung 1 m2 để đếm
và thu tất cả các động vật đáy có kích thước lớn
trên bề mặt trầm tích (hình 2A). Đồng thời,
Phan Thị Kim Hồng và nnk.
290
dùng khung thu mẫu có kích thước 0,1 m2 để
thu lớp trầm tích sâu 10 cm. Tổng số mẫu thu là
96 mẫu khung 1 m2 và 96 mẫu khung 0,1 m2.
Ngoài ra, còn thu thêm mẫu định tính để bổ
sung thêm thành phần loài.
Ngoài hiện trường, trầm tích được rửa và
rây qua lưới 500 µm để thu tất cả các nhóm
sinh vật. Sau đó cố định mẫu bằng formalin
10% và chuyển về phòng thí nghiệm. Trong
phòng thí nghiệm, mẫu được tách ra làm 4
nhóm chính là giun nhiều tơ, thân mềm, giáp
xác và da gai. Mẫu được cố định lại bằng cồn
70% và thêm một lượng nhỏ glycerin để bảo
quản lâu dài.
Phân loại động vật đáy theo phương pháp
giải phẫu so sánh hình thái dựa theo các tài liệu
[9–29].
B
C
A
Hình 2. A) Thu mẫu động vật đáy bằng khung 1 m2, B) Vũng triều bờ đá trạm T4,
C) Vũng triều bờ đá trạm T5
Phân tích và xử lý số liệu
Mật độ của động vật đáy được tính theo
đơn vị là cá thể/m2.
Sử dụng phần mềm Primer 6.0 để phân tích
nhóm trung bình Cluster, số liệu phân tích gồm
thành phần loài và mật độ.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đa dạng loài
Kết quả phân tích cho thấy vùng triều đảo
Lý Sơn có thành phần động vật đáy khá đa
dạng, đã xác định được 261 đơn vị phân loại
(taxa) thuộc 94 họ, 4 ngành từ 9.223 cá thể thu
tại 8 trạm trong chuyến khảo sát vào tháng
9/2016 (bảng 2). Trong đó, 87 taxa được xác
định từ bộ mẫu định tính, 94 taxa từ bộ mẫu
định lượng khung 1 m2 và 158 taxa từ bộ mẫu
định lượng khung 0,1 m2. Về mức độ phân loại
có 70% số lượng taxa được xác định đến mức
độ loài; 24% phân loại đến giống; 6% phân loại
đến mức độ họ và bộ, bao gồm các nhóm giáp
xác có kích thước nhỏ như Amphipoda,
Copepoda, Cumacea, Ostracoda, Stomatopoda
và các dạng ấu trùng của các nhóm Decapoda,
Stomatopoda hay Polychaeta.
Bảng 2. Số lượng taxa của 4 ngành động vật đáy chính ở các trạm khảo sát
Ngành
Trạm Tổng
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 Họ Taxa
Giun đốt (Annelida) 21 32 49 0 22 21 37 24 21 71
Chân khớp (Arthropoda) 15 37 43 4 13 23 24 17 27 76
Da Gai (Echinodermata) 2 6 10 0 4 6 10 5 12 22
Thân mềm (Mollusca) 10 27 24 12 28 25 27 14 30 92
Tổng cộng 48 102 126 16 67 75 98 60 90 261
Động vật đáy vùng triều đảo Lý Sơn
291
Ngành giun đốt (Annelida)
Kết quả phân tích 4.873 cá thể từ 96 mẫu
đã ghi nhận được 71 taxa, 21 họ thuộc lớp giun
nhiều tơ (Polychaeta), ngành giun đốt
(Annelida). Trong đó, 39 taxa thuộc lớp phụ
sống di động (Errantia), ăn động vật và mùn bã
hữu cơ và 32 taxa thuộc lớp phụ sống cố định
(Sedentaria) trong ống được làm từ cát vật liệu
khác nhau như bùn, bùn cát, ống vôi canxi. Các
họ có số lượng taxa nhiều là Syllidae (16 taxa),
Spionidae (9), Eunicidae (6), Nereididae và
Capitellidae cùng có 5 taxa.
So sánh giữa các trạm khảo sát cho thấy có
sự chênh lệch lớn về số lượng taxa, trạm bờ đá
ở đông Đảo Lớn T4 không ghi nhận được loài
nào, trong khi đó các trạm T3 (thôn Đông An
Vĩnh), T7 (Đảo Bé) và T2 (cầu An Vĩnh) lại có
số lượng loài cao (lần lượt là 49, 37 và 32 taxa)
(bảng 2).
So với danh mục 35 loài ghi nhận được ở
chuyến khảo sát vào tháng 11/2009 và tháng
5/2010 của Vũ Thanh Ca và nnk.. (2011) [1],
kết quả này đã ghi nhận được số lượng loài
nhiều hơn gấp hai lần (71 taxa). Tính chất
thành phần loài cũng khác nhau, nhóm loài
chiếm ưu thế trong khảo sát trước đây chủ yếu
tập trung vào các họ Eunicidae (11 loài) và
Nereidae (6 loài), trong khi đó nghiên cứu này
nhóm loài ưu thế thuộc về các họ Syllidae (16
taxa) và Spionidae (8 taxa); họ Eunicidae có 6
taxa, Nereididae và Capitellidae cùng có 5 taxa.
Điều này là do cách khảo sát và thu mẫu khác
nhau, nghiên cứu này đã khảo sát chi tiết trong
cả sinh cảnh bờ đá, cát, san hô chết, trong khi
đó khảo sát năm 2009–2010 chỉ tập trung trong
nền đáy san hô chết.
Ngành chân khớp (Arthropoda)
Neopetrolisthes maculatus Daldofia sp. Actaeodes hirsutissimus
Actaeodes tomentosus Calappa hepatica Menaethius monoceros
Cycloachelous granulatus Thalamita prymna Thalamita admete
Leptodius sp. Grapsus albolineatus Plagusia immaculata
Hình 3. Một số loài giáp xác thường gặp đặc trưng ở vùng triều Lý Sơn
Động vật đáy vùng triều đảo Lý Sơn
292
Đã ghi nhận được 76 taxa thuộc ngành phụ
Giáp xác (Crustacea) thuộc 3 lớp (Hexanauplia,
Malacostraca và Ostracoda), 4 lớp phụ, 7 bộ,
28 họ. Lớp Ostracoda chỉ có 1 taxon duy nhất;
Lớp Hexanauplia cũng chỉ có 2 taxa và có sự
xuất hiện của hà sun (Balanus sp.) vốn là loài
đặc trưng của sinh cảnh vùng triều bờ đá; Lớp
Malacostraca có số lượng loài nhiều nhất với
73 taxa (chiếm 96% tổng số taxa giáp xác được
phát hiện), bao gồm 2 lớp phụ là lớp phụ
Hoplocarida (có 2 taxa thuộc bộ tôm tít
Stomatopoda) và lớp phụ Eumalacostraca với
71 taxa thuộc 5 bộ như sau: Bộ Amphipoda (1),
Cumacea (2), Isopoda (3) và Tanaidacea (4) là
các bộ bao gồm những động vật có kích thước
rất nhỏ (phiêu sinh động vật); Bộ Decapoda (5)
chiếm ưu thế về thành phần loài với 62/71 taxa
(87% tổng số taxa của lớp phụ
Eumalacostraca). Bộ Decapoda vốn được biết
đến với các taxa giáp xác thường gặp như tôm
ma (phân bộ phụ Axiidea, 2 họ, 2 taxa), cua ký
cư/ốc mượn hồn (phân bộ phụ Anomura, 3 họ,
4 taxa), tôm nhỏ (phân bộ phụ Caridea, 3 họ, 8
taxa), và đặc biệt là cua (phân bộ phụ
Brachyura) với 12 họ và 47 taxon, chiếm tới
62% taxa giáp xác được phát hiện. Các họ có
tính đa dạng nhất về thành phần loài đều thuộc
Brachyura bao gồm họ cua sỏi Xanthidae (18
taxa), họ cua lông Pilumnidae (9 taxa) hay họ
cua bơi Portunidae (9 taxa) (Phụ lục).
Một số loài giáp xác thường gặp đặc trưng
cho vùng triều ở đảo Lý Sơn như
Neopetrolisthes maculatus, Daldofia sp.,
Actaeodes hirsutissimus, Actaeodes
tomentosus, khúm núm Calappa hepatica,
Menaethius monoceros, Cycloachelous
granulatus, ghẹ đá Thalamita prymna,
Thalamita admete, Leptodius sp. (hình 3).
Ngành thân mềm (Mollusca)
Vùng triều Lý Sơn có thành phần loài thân
mềm đa dạng nhất trong 4 ngành động vật đáy,
với 92 taxa (chiếm 34,7% tổng số lượng loài
động vật đáy) thuộc 2 lớp và 30 họ. Xét cấu
trúc thành phần loài theo cấp độ họ cho thấy
các họ Muricidae, Conidae, Cerithiidae,
Cypraeidae, Littorinidae, Columbellidae và
Nassariidae là các họ chiếm ưu thế về số lượng
loài (lần lượt là 16, 15, 8, 8, 7, 5 và 4 taxa); các
họ còn lại có số lượng loài ít hơn dao động từ
1–2 taxa.
So sánh sự phân bố về thành phần loài giữa
các trạm cho thấy có sự dao động không lớn, từ
11–28 taxa, các trạm T2, T3, T5, T6, T7 (với số
lượng lần lượt là 27, 24, 28, 25, 27 taxa) có số
lượng loài nhiều hơn các trạm T1 và T8 (lần
lượt là 11 và 14 taxa) (bảng 2). Kết quả cũng
chỉ ra rằng số lượng loài thân mềm có kích
thước lớn sống trên bề mặt hoặc vùi một phần
cơ thể trong trầm tích đáy (được thu bằng
khung định lượng 1 m2 và định tính, lần lượt là
64 và 57 taxa) nhiều hơn hẳn so với nhóm sống
vùi trong trầm tích (thu bằng khung 0,1 m2 với
chỉ 18 taxa).
Ngành da gai (Echinodermata)
Thành phần loài da gai tại vùng triều Lý
Sơn khá đa dạng, đã ghi nhận được 22 taxa
thuộc 12 họ và 3 lớp. Trong đó, lớp Hải sâm
(Holothuroidea) có số lượng loài nhiều nhất (8
taxa, chiếm 36,4%), tiếp đến là lớp cầu gai
(Echinoidea) và đuôi rắn (Ophiuroidea) (cùng
có 6 taxa, chiếm 27,3%) và ít nhất là lớp sao
biển (Asteroidea) có 2 taxa - chiếm 9,1%
(bảng 2). Xét ở cấp độ họ, thành phần loài tập
trung nhiều vào các họ như họ Holothuriidae
(5 taxa), họ Ophiocomidae (4 taxa) và họ
Diadematidae (3 taxa), các họ còn lại chỉ ghi
nhận được 1–2 taxa.
Xét sự phân bố thành phần loài giữa các
trạm khảo sát cho thấy trạm T4 (bờ đá) không
ghi nhận được loài da gai nào trong khi đó hai
trạm T3 (Đảo Lớn) và T7 (Đảo Bé) có số lượng
loài nhiều nhất (10 taxa). Các loài có phân bố
rộng, thường gặp ở vùng triều Lý Sơn là loài
hải sâm Holothuria (Platyperona) difficilis và
loài đuôi rắn Ophiocoma dentata.
Các đối tƣợng nguồn lợi
Sự có mặt của hệ sinh thái đặc trưng là
thảm cỏ biển và rạn san hô ở vùng triều xung
quanh đảo Lý Sơn có ý nghĩa quan trọng về
mặt sinh thái và nguồn lợi, là nơi cư trú, sinh
sản, kiếm mồi của nhiều sinh vật. Kết quả phân
tích cũng ghi nhận sự hiện diện của 12 loài có
giá trị kinh tế:
Nhóm thân mềm có 3 loài có giá trị nguồn
lợi, thường được khai thác làm thực phẩm, như
ốc nhảy đỏ lợi Strombus luhuanus, ốc mặt trăng
Turbo chrysostomus (hình 4A) và dòm nâu
Modiolus barbatu. Ngoài ra, còn có nhiều loài
có hình dáng, màu sắc đẹp, thường được khai
Phan Thị Kim Hồng và nnk.
293
thác làm hàng mỹ nghệ như trai ngọc môi đen
Pinctada margaritifera (hình 4B), ốc sứ
Erronea cylindrical (hình 4C), trai tai tượng
Tridacna maxima (hình 4D), ốc sứ Erosaria
helvola (hình 4E), ốc sứ Trung hoa Cypraea
chinensis chinensis.
A) Ốc mặt trăng Turbo chrysostomus B) Trai ngọc Môi đen Pinctada margaritifera C) Ốc Sứ Erronea cylindrical
D) Trai tai tượng Tridacna maxima E) Ốc sứ Erosaria helvola
Hình 4. Một số loài thân mềm có giá trị kinh tế
A) Holothuria (Platyperona) difficilis B) Đuôi rắn Ophiocoma dentata C) Tripneustes gratilla
D) Holothuria (Semperothuria) cinerascens E) Echinothrix diadema F) Diadema savignyi
Hình 5. Một số loài da gai thường gặp, có giá trị nguồn lợi ở vùng triều Lý Sơn
Động vật đáy vùng triều đảo Lý Sơn
294
Nhóm da gai đã xác định được 4 loài được
khai thác làm thực phẩm ở các nước Châu Á
như loài nhum sọ Tripneustes gratilla
(hình 5C), hải sâm Holothuria (Semperothuria)
cinerascens (hình 5D), cầu gai Echinothrix
diadema (hình 5E) và Diadema savignyi
(hình F). Khu vực phân bố của 2 loài
Holothuria (Semperothuria) cinerascens và
Echinothrix diadema là trạm T7 (Đảo Bé) trong
khi đó Diadema savignyi có phân bố tại trạm
T3 (thôn Tây An Vĩnh) và Tripneustes gratilla
có phân bố ở Chùa Hang, Hang Câu, Trạm T3
và ở Hang Cò.
Phân bố thành phần loài động vật đáy giữa
các loại sinh cảnh khác nhau
Sử dụng 2 bộ mẫu định lượng để phân tích
đặc trưng quần xã động vật đáy cho thấy có sự
dao động rất lớn về số lượng loài động vật đáy
trong các sinh cảnh khác nhau, da dạng nhất
thuộc về sinh cảnh san hô chết (152 taxa), kế
đến là vùng đáy cát (88 taxa ở Đảo Lớn và 108
taxa ở Đảo Bé) và ít nhất là vùng triều bờ đá
(59 taxa) (bảng 3). Điều này cho thấy tính đa
dạng loài có liên quan đến đặc điểm nền đáy,
nơi có nhiều kiểu trú ẩn và sinh sống khác nhau
như trong nền san hô chết cùng với các đám
rong và cỏ biển phủ lên trên đã thu hút nhiều
loài động vật đáy làm cho thành phần loài trong
sinh cảnh này đa dạng hơn. Ngược lại, ở vùng
triều bờ đá (T4), chỉ có các nhóm sinh vật sống
bám, cơ thể có cấu tạo thích nghi với sự tác
động của sóng, gió mới tồn tại và phát triển
được như các loài hầu Ostrea, hà Balanus, ốc
vú nàng Pattella hay các loại ốc thuộc họ
Littorinidae và Neritidae.
Kết quả phân tích nhóm trung bình dựa trên
ma trận giống nhau về thành phần loài cho thấy
quần xã động vật đáy ở vùng triều Lý Sơn được
chia thành 4 quần xã nhỏ: Quần xã 1 gồm tập
hợp các loài sống trong nền đáy san hô chết có
phủ rong và cỏ biển (T2 và T3) với mức độ
giống nhau về thành phần loài là 60,8%. Quần
xã 2 gồm các loài thuộc 3 trạm đáy cát (T6,
T7và T8) và 1 trạm thuộc sinh cảnh bờ đá (T5)
với mức độ giống nhau là 46,6%. Trong quần
xã này, hai trạm T7 và T8 ở đảo bé có thành
phần loài giống nhau nhiều hơn (54%). Quần
xã 3 gồm các loài ở sinh cảnh đáy cát (T1), có
mức độ tương đồng về thành phần loài với
quần xã 1 và 2 khoảng 31%. Quần xã 4 chỉ có 1
trạm (T4) đặc trưng cho sinh cảnh bờ đá và có
thành phần loài khác hẳn so với các quần xã
còn lại, chỉ giống nhau khoảng 3% (hình 6).
Cùng có kiểu vùng triều bờ đá nhưng cấu
trúc nền đáy ở vùng triều thấp của hai trạm T4
và T5 khác nhau. Trạm T4 có nền đá gốc phân
bố từ triều cao xuống triều thấp còn trạm T5
(Chùa Hang) nền đá gốc phân bố ở triều cao và
giữa, vùng triều thấp là nền san hô chết có phủ
rong và cỏ biển, đôi chổ có san hô sống phân
bố rải rác. Chính vì cấu trúc nền đáy khác nhau
nên thành phần loài động vật đáy cũng khác
nhau và được xếp vào 2 nhóm riêng biệt.
Hai trạm T4 và T5 có cùng sinh cảnh bờ đá
nhưng thành phần loài lại khác xa nhau, xếp
vào hai nhóm riêng biệt là cấu trúc nền đáy
khác nhau ở vùng triều thấp, nền đá gốc phân
bố từ vùng triều cao đến triều thấp tại trạm T4
và chỉ phân bố ở triều cao và triều giữa ở trạm
T5 (Chùa Hang), vùng triều thấp là nền rạn san
hô chết có phủ rong và cỏ biển, thỉnh thoảng có
san hô sống phân bố rải rác (hình 2B, 2C).
Chính vì vậy ngoài các loài đặc trưng cho bờ
đá, trạm T5 còn xuất hiện nhóm loài thích sống
vùi, chui rúc như nhóm giun nhiều tơ (23 taxa),
giáp xác, và chính điều này làm cho số lượng
loài ở trạm T5 (67 taxa) đa dạng hơn hẳn so với
trạm T4 (16 taxa). Ưu thế thành phần loài ở
trạm T4 là ốc gai Morula granulate. Trạm T1
cũng xếp vào nhóm khác với trạm T6 tuy cùng
sinh cảnh đáy cát, điều này là do trạm T1 có
xuất hiện loài ưu thế (Ciratullus sp. và nhóm
giáp xác thấp Amphipoda - chiếm 53% tổng
mật độ của trạm).
Bảng 3. Số lượng taxa của các nhóm động vật đáy giữa các sinh cư
Ngành San hô chết Bờ đá Cát-ĐL Cát-ĐB Tổng
Annelida 55 23 34 43 71
Arthropoda 50 11 27 26 66
Echinodermata 10 2 6 10 19
Mollusca 37 23 21 29 72
Tổng 152 59 88 108 228
Phan Thị Kim Hồng và nnk.
295
Hình 6. Sơ độ nhóm phân bố quần xã động vật đáy theo các dạng sinh cảnh
Mật độ các nhóm sinh vật
Mật độ động vật đáy ở khu vực đảo Lý Sơn
có sự dao động giữa các trạm khảo sát, từ 38
đến 1.632 cá thể/m2 và tập trung chủ yếu vào
hai nhóm giáp xác và giun nhiều tơ; thân mềm
và da gai có mật độ thấp hơn nhiều (nhỏ hơn 20
cá thể/m2) (bảng 4). Phân tích sự phân bố động
vật đáy theo đới triều cho thấy độ phong phú có
xu hướng tăng dần từ vùng triều cao đến vùng
triều thấp; Động vật đáy trong sinh cảnh san hô
chết có phủ rong và cỏ biển (1.575 cá thể/m2)
phong phú hơn nhiều so với sinh cảnh bờ đá
(379 cá thể/m2) và nền đáy cát (475 ở Đảo Lớn
và 859 cá thể/m2 ở Đảo Bé) (hình 7).
Bảng 4. Mật độ trung bình (cá thể/m2) của các nhóm động vật đáy tại các trạm khảo sát
Trạm Annelida Arthropoda Echinodermata Mollusca Tổng
T1 269 104 0 1 374
T2 821 676 10 11 1.518
T3 1.071 531 18 13 1.632
T4 0 34 0 4 38
T5 578 68 1 73 721
T6 232 330 7 6 575
T7 786 285 9 12 1.091
T8 304 321 1 2 628
a
c b
d
Hình 7. Mật độ (cá thể/m2) của các nhóm động
vật đáy trong các sinh cảnh khác nhau
Kết quả phân tích cũng cho thấy mỗi
dạng sinh cảnh có một nhóm loài và loài ưu
thế xuất hiện, các loài hầu đá (Ostrea sp.) và
hà sun Balanus sp. là loài ưu thế ở nền đá gốc
(T4 và đới triều cao và giữa ở T5) nhưng các
loài giun nhiều tơ Linopherus
paucibranchiata, Typosyllis sp. và
Langerhansia cornuta lại chiếm đa số ở
đới triều thấp trạm. Nhóm giáp xác thấp có
kích thước nhỏ Amphipoda là loài ưu thế
nhất trong sinh cảnh cỏ biển và đáy cát, tiếp
theo là các loài giun Armandia sp.,
Scyphoproctus sp. (cỏ biển) hay Linopherus
paucibranchiata, Typosyllis sp. (đáy cát -
Phan Thị Kim Hồng và nnk.
296
Đảo Lớn) và Cirratulus sp., Neanthes
acuminata (đáy cát - Đảo Bé).
KẾT LUẬN
Vùng triều Lý Sơn có tính đa dạng loài cao,
đã ghi nhận được 92 loài thân mềm, 76 loài
giáp xác, 71 loài giun nhiều tơ, 22 loài da gai.
Trong đó 7 loài có giá nguồn lợi, thường được
khai thác làm thực phẩm gồm hải sâm
Holothuria (Semperothuria) cinerascens, nhum
sọ Tripneustes gratilla, cầu gai Echinothrix
diadema, Diadema savignyi (thuộc ngành da
gai); Ốc nhảy đỏ lợi Strombus luhuanus, ốc mặt
trăng Turbo chrysostomus và dòm nâu
Modiolus barbatus (thuộc ngành thân mềm).
Một số loài khác có hình dáng, màu sắc đẹp,
thường được khai thác làm hàng mỹ nghệ như
trai ngọc môi đen Pinctada margaritifera, trai
tai tượng Tridacna maxima, ốc sứ Trung Hoa
Cypraea chinensis chinensis và các loài khác
thuộc họ ốc cối Conidae.
Mật độ động vật đáy có sự dao động giữa
các trạm khảo sát, từ 38 đến 1.632 cá thể/m2 và
tập trung chủ yếu vào hai nhóm giáp xác và
giun nhiều tơ. Độ phong phú của động vật đáy
tăng dần từ vùng triều cao đến vùng triều thấp;
Sinh cảnh san hô chết có mật độ (1.575 cá
thể/m2) cao hơn so với sinh cảnh bờ đá (379 cá
thể/m2) và nền đáy cát (475 ở Đảo Lớn và 859
cá thể/m2 ở Đảo Bé).
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả xin cảm ơn Chi
cục Biển và Hải đảo Quảng Ngãi đã cung cấp
nguồn kinh phí cũng như cho sử dụng nguồn số
liệu để xuất bản bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hoàng Xuân Bền, Nguyễn Văn Long,
Hứa Thái Tuyến, Phan Kim Hoàng, Thái
Minh Quang, 2016. Đa dạng sinh học và
đặc điểm quần xã sinh vật rạn san hô ở
khu bảo tồn Lý Sơn, Quảng Ngãi. Tạp
chí Khoa học và Công nghệ biển, 18(2),
150–159.
[2] Vũ Thanh Ca, Đàm Đức Tiến, Phạm Văn
Hiếu, 2011. Thực trạng hệ sinh thái biển
khu vực đảo Lý Sơn và tiềm năng bảo tồn.
Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển
toàn quốc lần thứ V. Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam. Tr. 84–90.
[3] Ben, H. X., and Dautova, T. N., 2010.
Soft corals (Octocorallia: Alcyonacea) in
Ly Son islands, the central of Vietnam.
Vietnam Journal of Marine Science and
Technology, 10(4), 39–49.
[4] Đàm Đức Tiến, Lê Văn Sơn, Vũ Thanh
Ca, 2011. Thành phần loài và phân bố của
rong biển quần đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển,
11(3), 57–69.
[5] Vũ Thanh Ca, Phạm Văn Hiếu, Cao Văn
Lương, Đầm Đức Tiến, 2011. Áp dụng
thử nghiệm phương pháp đánh giá định
lượng tiềm năng bảo tồn hệ sinh thái cỏ
biển ở ven đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Tạp
chí Khoa học và Công nghệ biển, 11(4),
47–56.
[6] Somero, G. N., 2010. The physiology of
climate change: how potentials for
acclimatization and genetic adaptation
will determine „winners‟ and „losers‟.
Journal of Experimental Biology, 213(6),
912–920.
[7] Reid, R. A., Somers, K., and David, S. M.,
1995. Spatial and temporal variation in
littoral-zone benthic invertebrates from
three south-central Ontario lakes.
Canadian Journal of Fisheries and
Aquatic Sciences, 52(7), 1406–1420. Doi:
10.1139/f95-136.
[8] Lento, J., Dillon, P. J., Somers, K. M., and
Reid, R. A., 2008. Changes in littoral
benthic macroinvertebrate communities in
relation to water chemistry in 17
Precambrian Shield lakes. Canadian
Journal of Fisheries and Aquatic
Sciences, 65(5), 906–918. Doi:
10.1139/f08-033.
[9] Abbott, R. T., 1991. Seashells of
Southeast Asia. Graham Brash. 145 p.
[10] Abbott, R. T., and Dance, S. P., 1986.
Compendium of Shells: a full-color guide
to more than 4200 of the world‟s marine
shells. American Malacologist. Inc.,
Melbourne, Fl and Burlington, MA.
[11] Böggemann, M., and Eibye-Jacobsen, D.,
2002. The glyceridae and goniadidae
(Annelida: Polychaeta) of the bioshelf
Động vật đáy vùng triều đảo Lý Sơn
297
project, Andaman Sea, Thailand. Phuket
Marine Biological Center Special
Publication, 24, 149–196.
[12] Cernohorsky, W. O., 1972. Marine shells
of the Pacific (Vol. 2). Pacific
publications.
[13] Dai, A., and Yang, S., 1991. Crabs of
the China seas. China Ocean Press
Beijing and Springer - Verlag. pp. 1–
608. Pl. 1–74.
[14] Dance, S. P., 1977. Das grobe Bush der
Meeresmuscheln: Schnecken u. Muscheln
d. Weltmeere. Verlag Eugen Ulmer
Stuttgart.
[15] Day, J. H., 1967. A monograph on the
Polychaeta of Southern Africa. British
Museum of Natural History, Publication,
(656), 1–878.
[16] Fauchald, K., 1968. Nephtyidae
(Polychaeta) from the bay of Nha Trang,
South Viet Nam. Naga Report, 4(3), 5–34.
[17] Fauvel, P., 1953. The Fauna of India
including Pakistan, Ceylon, Burma and
Malaya. Annelida Polychaeta. Indian
Press, Allahabad, 12, 507.
[18] Fitzhugh, K., 2002. Fan worm polychaetes
(Sabellidae: Sabellinae) collected during
the Thai-Danish BIOSHELF project.
Phuket Marine Biological Center Special
Publication, 24, 353–424.
[19] Gallardo, V. A., 1968. Polychaeta from
the Bay of Nha Trang, South Viet Nam.
Naga report, 4(3), 35–279.
[20] Holthuis, L. B., Fransen, C. H. J. M., and
Van Achterberg, C., 1993. The recent
genera of the Caridean and Stenopodidean
shrimps (Crustacea, Decapoda): with an
appendix on the order Amphionidacea.
328 p.
[21] Imajima, M., 1972. Review of the annelid
worms of the family Nereidae of Japan,
with descriptions of five new species or
subspecies. Bulletin of the National
Science Museum Tokyo, 15, 37–153.
[22] Imajima, M., and Hartman, O., 1964. The
polychaetous annelids of Japan. Allan
Hancock Foundation, Occasional Papers.
452 p.
[23] Lovell, L. L., 2002. Paraonidae (Annelida:
Polychaeta) of the Andaman Sea,
Thailand. Phuket Marine Biological
Center Special Publication, 24, 33–56.
[24] Morris, P. A., 1972. A Field Guide to
Shells of the Atlantic and Gulf Coasts and
the West Indies. The Peterson Field Guide
series. Houghton Mifflin Company
Voston. 330 p.
[25] Turner, R. D., and Boss, K. J., 1962. The
genus Lithophaga in the western Atlantic.
Department of Mollusks, Museum of
Comparative Zoölogy, Harvard
University.
[26] Radashevsky, V. I., and Hsieh, H. L.,
2000. Polydora (Polychaeta: Spionidae)
species from Taiwan. Zoological Studies,
39(3), 203–217.
[27] Sakai, T., 1976. Crabs of Japan and the
Adjacent Seas. Tokyo, Kodansha Ltd.,
pp. xxix, pls. 251.
[28] Serène, R., 1937. Inventaire des
invertébrés marins de l'Indochine:
première liste. Gouvernement général de
l'Indochine.
[29] Serène, R., 1984. Crustaces Decapodes
Brachyoures de l'Ocean Indien Occidental
et de la Mer Rouge, Xanthoidea:
Xanthidae et Trapeziidae. Avec un
addendum par Crosnier A.: Carpiliidae et
Menippidae. Faune tropicale, 24, 1–243.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
macrozoobenthos_in_the_intertidal_zone_of_the_ly_son_island.pdf