Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Sinh trưởng của quả cam giống Sông Con thông qua chỉ số thể tích quả và
khối lượng thịt quả, tăng dần từ quả non, đạt cực đại tại thời điểm quả 30 tuần
tuổi, sau đó giảm.
- Hệ sắc tố trong vỏ quả cam Sông Con chứa lượng diệp lục b luôn cao hơn
nhiều so với diệp lục a; dla, dlb và dl (a+b) đạt cực đại trong vỏ quả 12 tuần tuổi,
sau đó giảm dần đến khi quả chín. Carotenoit, ngược lại, thấp trong vỏ quả cam
non, tăng liên tục đến khi quả chín.
- Lượng tinh bột, pectin tăng đến thời điểm quả 18 tuần tuổi, sau đó giảm
đến quả chín, đường khử tăng liên tục đến quả chín, hoạt độ enzym-amylase tăng
đến khi quả 24 tuần tuổi, rồi giảm dần đến khi quả chín.
- Hàm lượng axit hữu cơ tổng số và axit citric tăng đến khi quả 18 tuần tuổi,
rồi giảm dần đên thời điểm quả chín, vitamin C tăng liên tục, đạt cực đại trong quả
30 tuần tuổi, sau đó giảm.
- Quả cam Sông Con 30 tuần tuổi đạt trạng thái chín sinh lý, khi quả hầu như
ngừng sinh trưởng, chứa phần thịt quả lớn nhất, lượng đường khử và vitamin C cao
nhất, lượng tinh bột và pectin thấp. Đó là thời điểm thu hái thích hợp nhất đối với
giống cam Sông Con ghép trên gốc bưởi. Dấu hiệu thời điểm chín sinh lý là sự xuất
hiện màu vàng lục (xanh) trên phần lớn bề mặt vỏ quả.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam (citrus sinensis linn.osbeck) giống cam sông con trồng tại Yên Định, Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Natural Sci., 2012, Vol. 57, No. 3, pp. 89-98
MỘT SỐ CHUYỂN HÓA SINH LÝ, HÓA SINH
THEO TUỔI PHÁT TRIỂN CỦA QUẢ CAM (Citrus sinensis Linn.Osbeck)
GIỐNG CAM SÔNG CON TRỒNG TẠI YÊN ĐỊNH, THANH HÓA
Nguyễn Như Khanh(∗)
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Lê Văn Trọng
Trường Đại học Hồng Đức
(∗)Email: nhunguyenkhanh02@yahoo.com.vn
Tóm tắt. Bài báo nghiên cứu xác định tốc độ sinh trưởng (thể tích quả,
khối lượng thịt quả) và sự chuyển hóa của một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh
theo tuổi phát triển của quả cam giống Sông Con, trồng tại Yên Định Thanh
Hóa, như hệ sắc tố vỏ quả, vitamin C, đường khử, tinh bột, pectin, axit hữu
cơ tổng số, axit citric. Dựa vào các chỉ số đó, chúng tôi đã xác định được
thời điểm chín sinh lý, khi quả đã ngừng sinh trưởng và tích lũy được hầu
như tối đa các chất dinh dưỡng chủ yếu. Đối với quả cam giống Sông Con,
trồng tại Yên Định, Thanh Hóa, thời điểm chín sinh lý là quả đạt 30 tuần
tuổi. Đó chính là thời điểm thu hái tốt nhất, khi quả đạt thể tích, phần thịt
quả, lượng đường khử, viatmin C lớn nhất, lượng axit hữu cơ tổng số, axit
citric cao, lượng pectin thấp nhất. Dấu hiệu nhận biết thời điểm chín sinh
lý, thời điểm cần thu hái là xuất hiện màu vàng lục, vàng nhạt của vỏ quả.
Từ khóa: Chuyển đổi sinh lý - hóa sinh, phát triển quả, chín sinh lý, thời
điểm thu hoạch.
1. Mở đầu
Quả là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể con người như
các vitamin, đường, các axit hữu cơ,... Nghiên cứu các quá trình chuyển hóa sinh lý,
hóa sinh theo tuổi phát triển của quả thuộc các giống cây lấy quả nhằm xác định
thời điểm thu hái thích hợp nhất. Ở Việt Nam quá trình nghiên cứu này còn hạn
chế, việc thu hái và bảo quản quả chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của nhà làm
vườn nên phẩm chất của quả, qua quá trình bảo quản và lưu thông, khi đến người
tiêu dùng đã giảm sút nhiều, không còn tốt. Thu hái sớm, khi quả còn sinh trưởng,
chưa tích lũy đủ các chất dinh dưỡng, qua thời gian bảo quản và lưu thông sau thu
hái, quả sẽ dễ bị giảm thiểu nhanh hàm lượng các chất dinh dưỡng và mẫu mã xấu.
Để thúc quả chín, người ta dùng hóa chất, nhất là các hóa chất có tác dụng bảo
89
Nguyễn Như Khanh và Lê Văn Trọng
quản tốt mẫu mã nhưng rất độc hại, gây bệnh tật cho người tiêu dùng và ô nhiễm
môi trường. Ngược lại, nếu thu hái muộn khi quả đã qua thời điểm chín sinh lý,
đang ở trạng thái chín hoàn toàn, quả như vậy sẽ chín rất nhanh, chín nhũn, dễ bị
vi sinh vật xâm nhiễm gây ra sự giảm thiểu số lượng và chất lượng của các chất dinh
dưỡng dẫn tới sự hư thối quả, phải loại bỏ, gây tổn thất lớn về kinh tế và ô nhiễm
môi trường. Vì vậy chúng tôi đã nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh theo tuổi
phát triển của quả để tìm ra thời điểm chín sinh lý, khi quả đã ngừng sinh trưởng
và đã tích lũy được gần như tối đa các chất dinh dưỡng chủ yếu, nhưng chưa chín
(chưa chín ăn được), nhằm góp phần tìm hiểu quá trình chín của quả cam ở điều
kiện Việt Nam, đồng thời đóng góp xác lập căn cứ khoa học cho việc xác định thời
điểm thu hái thích hợp. Bài báo này trình bày một số kết quả phân tích, nghiên cứu
về vấn đề được nêu của quả cam giống Sông Con trồng ở Yên Định, Thanh Hóa.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Giống cam (Citrus sinensis Linn. Osbeck) [1] Sông Con ghép trên gốc bưởi
.Cây cam lấy từ gia đình anh Lưu Quốc Tuấn và chị Đặng Thị Hợp tại khu phố 3,
thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Cây được 9 năm tuổi, sinh
trưởng tốt, ít sâu bệnh, năng suất cao và ổn định.
* Phương pháp nghiên cứu
Các chỉ tiêu sinh lý:
+ Xác định khối lượng bằng phương pháp sấy khô ở nhiệt độ 105oC đến khi
được khối lượng ổn định và sử dụng cân phân tích chính xác đến 10−4.
+ Xác định thể tích của quả cam bằng phương pháp đo lượng nước do quả
thế chỗ.
+ Xác định hàm lượng sắc tố trong vỏ quả bằng phương pháp quang phổ theo
công thức của Mac - Kinney [5].
Các chỉ tiêu sinh hóa:
+ Định lượng đường khử theo phương pháp Bertrand [3];
+ Định lượng tinh bột theo phương pháp Bertrand [3];
+ Xác định hoạt độ α - amylaza trên máy quang phổ ở bước sóng 656 nm [6];
+ Định lượng axit tổng số theo Ermacov [8];
+ Định lượng axit citric theo Ermacov [8];
+ Định lượng vitamin C theo phương pháp chuẩn độ [3];
+ Định lượng pectin theo phương pháp kết tủa canxi pectat [6].
90
Một số chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam...
2.2. Kết quả và thảo luận
2.2.1. Động thái sinh trưởng theo tuổi của quả cam giống Sông Con
Trước hết, chúng tôi trình bày kết quả về động thái sinh trưởng theo tuổi của
quả cam giống Sông Con. Theo tài liệu và qua thăm dò, chúng tôi biết được tốc độ
sinh trưởng cũng như các chuyển hóa sinh lý hóa sinh của quả diễn ra không đồng
đều trong toàn bộ thời gian phát triển. Khi quả còn non sinh trưởng xảy ra nhanh,
thời kì phát triển cuối gần đến thời điểm chín, sinh trưởng thường chậm nhưng các
chuyển hóa xảy ra nhanh. Do vậy khoảng thời gian giữa các lần quan trắc không
bằng nhau, thời gian chuyển hóa hóa sinh nhanh, ví dụ như thời kì cuối của quá
trình phát triển, thời điểm theo dõi ngắn hơn so với các thời kì khác (Bảng 1).
Bảng 1. Động thái sinh trưởng của quả cam giống Sông Con
Tuổi phát
triển của
quả
Thể tích của quả Thịt quả
(Số tuần) (cm3)
Tăng trưởng
(% lần kế
trước)
(% sinh
khối quả
tươi)
Tăng trưởng
(% lần kế
trước)
4 1,160 ± 0,001 100,00 13,268 100
8 15,700 ± 0,050 1.353,44 23,966 180,630
12 43,000 ± 0,078 273,88 31,000 129,349
18 78,502 ± 0.105 182,56 61,785 199,306
21 111,500 ± 0.050 142,03 71,668 116,028
24 161,667 ± 0, 140 144,99 72,324 100,915
27 187,105 ± 0, 092 115,73 73,325 101,384
29 193,223 ± 0,086 103,26 73,972 100,882
30 195,137 ± 0, 023 100,99 74,142 100,229
32 195,324 ± 0,042 100,09 74,102 99,946
Số liệu trong Bảng 1 cho thấy, nhìn chung, thể tích quả và phần thịt quả cam
giống Sông Con tăng theo tuổi và hầu như đã ngừng tại thời điểm quả 30 tuần tuổi.
Thể tích quả tăng nhanh nhất là thời kì từ 4 - 8 tuần tuổi, khi quả 8 tuần tuổi, thể
tích quả đã đạt 15,7 cm3, tương đương 1.353,44% so với thể tích quả bốn tuần tuổi
(1,160cm3). Đây cũng là thời kì thịt quả tăng mạnh, bằng 180,63% so với thời điểm
4 tuần tuổi. Thời kì này trong quả tăng nhanh sinh trưởng dãn dài của các tế bào
[7]. Từ tuần thứ 12, sinh trưởng thể tích của quả chậm dần và thể tích quả hầu như
ngừng tăng tại thời điểm khi quả 30 tuần tuổi, lúc này thể tích của quả chỉ đạt xấp
xỉ gần với lần kế trước đó (100,99% ). Sau thời điểm đó hai tuần, thể tích quả hầu
như được giữ nguyên (100,09%). Khối lượng thịt quả cũng tăng dần theo tuổi quả,
trong đó tốc độ tăng khối lượng thịt trong quả thời kì 8 đến 12 tuần tuổi lại giảm,
91
Nguyễn Như Khanh và Lê Văn Trọng
rồi lại tăng nhanh đến thời điểm quả 18 tuần tuổi. Sau thời điểm 18 tuần tuổi, tuy
khối lượng thịt vẫn tăng liên tục, đạt cực đại trong quả 30 tuần tuổi (74,142% quả
tươi), sau đó giảm xuống. Nhưng tốc độ tích lũy sinh khối phần thịt quả giảm dần
và ngừng tăng trưởng tại thời điểm quả 30 tuần tuổi (đạt 100,229% so với lần kế
trước đó). Như vậy, tại thời điểm quả 30 tuần tuổi, quá trình tăng trưởng thể tích
và khối lượng phần thịt quả đều đã đạt cực đại, hầu như đã ngừng, sau đó tốc độ
tăng trưởng của cả hai chỉ tiêu đều giảm.
2.2.2. Sự biến đổi của hệ sắc tố trong vỏ quả cam
Sự biến đổi trong hệ sắc tố vỏ quả là chỉ tiêu quan trọng giúp ta liên hệ được
những biến đổi màu sắc thấy được bên ngoài vỏ quả với những chuyển hóa hóa sinh
bên trong của quả theo tiến trình phát triển, đặc biệt là về mặt thực tiễn trong việc
xác định thời điểm cần thu hái. Kết quả phân tích hàm lượng các sắc tố trong vỏ
quả được dẫn ra trong Bảng 2.
Bảng 2. Sự biến đổi của hệ sắc tố vỏ theo tuổi phát triển
của quả cam giống Sông Con
Tuổi phát
triển của
quả
Diệp lục a
(mg/g vỏ
tươi)
Diệp lục b
(mg/g vỏ
tươi)
Diệp lục
a+b (mg/g
vỏ tươi)
Hàm lượng
carotenoit
(mg/g vỏ
tươi)
4 tuần 2,149.10−2 32,717.10−2 34,866.10−2 0,891.10−2
8 tuần 1,558.10−2 31,696.10−2 33,254.10−2 1,323.10−2
12 tuần 1,746.10−2 34,353.10−2 36,099.10−2 1,367.10−2
18 tuần 1,037.10−2 30,340.10−2 31,436.10−2 2,327.10−2
21 tuần 1,025.10−2 23,221.10−2 24,246.10−2 10,977.10−2
24 tuần 0,575.10−2 20,425.10−2 21,000.10−2 14,795.10−2
27 tuần 0,861.10−2 15,376.10−2 16,237.10−2 24,525.10−2
29 tuần 0,266.10−2 8,040.10−2 8,306.10−2 25,662.10−2
30 tuần 0,268.10−2 7,303.10−2 7,571.10−2 29,845.10−2
32 tuần 0,255.10−2 8,517.10−2 8,772.10−2 34,253.10−2
Trong những tuần tuổi đầu tiên, hàm lượng diệp lục (dl) trong vỏ quả cam
chiếm tỉ lệ cao: hàm lượng dla là 2,149.10−2mg/g, dlb là 32,717.10−2 mg/g và diệp
lục tổng số là 34,866.10−2mg/g vỏ tươi vào thời điểm quả 4 tuần tuổi. Hàm lượng dl
trong vỏ quả cam đạt giá trị cao nhất vào thời điểm 12 tuần tuổi (dl a là 1,746.10−2
mg/g, dl b là 34,353.10−2 mg/g, dl a + b là 36,099.10−2 mg/g vỏ tươi), ở thời điểm
này quả có màu xanh sẫm. Diệp lục a, b và a+b khá cao trong thời kì 12 tuần đầu,
đạt trị số cao nhất tại thời điểm quả 12 tuần tuổi, rồi giảm dần, thấp nhất là tại
thời điểm quả 30 tuần tuổi. Nhìn chung, hàm lượng diệp lục cao trong thời kì phát
triển đầu của quả cam khá phù hợp với sự gia tăng sinh trưởng (thể tích) của quả
92
Một số chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam...
và khối lượng thịt quả. Đây là thời gian khi quả cần nguồn cung cấp cacbohidrat bổ
sung từ vỏ quả để phục vụ quá trình tổng hợp các chất cần cho sinh trưởng nhanh
nhờ sự tạo vách thứ cấp liên quan đến sinh trưởng dãn dài của tế bào như đã nói ở
phần trước.
Ngược lại, lượng carotenoit tăng dần liên tục cho đến khi quả chín hoàn toàn
(32 tuần tuổi). Trong những tuần tuổi đầu tiên, hàm lượng carotenoit có giá trị thấp
và đạt 0,891.10−2 mg/g ở 4 tuần tuổi. Thời kì quả từ 4 đến 18 tuần tuổi, hàm lượng
carotenoit tăng chậm, sau đó tăng nhanh và khi quả 30 tuần tuổi, lượng carotenoit
trong vỏ đã khá cao (29, 845.10−2 mg/g vỏ quả) và vỏ đã có màu vàng lục bao phủ
phần lớn, nhất là phần vỏ phía dưới đối diện với cuống quả. Tại thời điểm 30 tuần
tuổi, mặt cắt ngang quả cam có màu vàng sáng đẹp. Trong vỏ quả 32 tuần tuổi,
hàm lượng carotenoit đạt trị số cao nhất (34,253.10−2 mg/g vỏ quả tươi), lúc này
vỏ có màu vàng đậm đặc trưng cho màu sắc của quả cam chín.
Như vậy, sự giảm hàm lượng diệp lục cùng với sự gia tăng lượng carotenoit
theo tuổi của quả là phù hợp với quá trình phát triển của quả [7]. Ngoài ra cũng
cần nhận xét rằng vỏ quả cam chứa lượng diệp lục b cao hơn nhiều so với lượng
diệp lục a (gấp từ 15,22 lần ở quả 4 tuần tuổi, đạt tỉ số cao nhất, 35,52 lần trong
vỏ quả 24 tuần tuổi; trong vỏ quả chín hoàn toàn ở 32 tuần tuổi, tỉ lệ đó vẫn còn
gấp 33,40 lần). Lượng dl a giảm mạnh hơn qua quá trình phát triển của quả từ
2,149.10−2 trong vỏ quả 4 tuần tuổi xuống còn 0,255.10−2 trong vỏ quả chín (32
tuần tuổi), nghĩa là so với lượng dl a ở quả 4 tuần tuổi, trị số đó ở quả 32 tuần
tuổi chỉ bằng 0,119 (0,255/2,149 = 0,119), tỉ lệ đó của diệp lục b tương ứng bằng
0,26 (8,517/32,717) và bằng 0,25 đối với tổng diệp lục a+b). Ngược lại, tỉ lệ của
carotenoit trong vỏ quả chín (32 tuần tuổi) so với bản thân các sắc tố đó trong vỏ
quả cam 4 tuần tuổi là đã tăng gấp 38,44 lần (34,253/0,891).
2.2.3. Động thái một số chỉ tiêu hóa sinh theo tuổi phát triển của quả
cam giống Sông Con
Chỉ số được quan trắc đầu tiên là sự chuyển hóa của hàm lượng tinh bột và
đường khử, enzym α-amylase xúc tác quá trình chuyển hóa đó và pectin. Kết quả
phân tích lượng tinh bột, đường khử và hoạt độ α-amylaza theo tuổi phát triển của
quả cam giống Sông Con được dẫn ra trong Bảng 3.
Số liệu trong Bảng 3 cho thấy khi quả mới hình thành, hàm lượng tinh bột
thấp chỉ đạt 0,405% khối lượng thịt quả tươi ở quả 8 tuần tuổi. Sau đó thể tích thịt
quả gia tăng (Bảng 1), bề mặt vỏ quả tăng, lượng sắc tố quang hợp tăng cho đến
khi quả 18 tuần tuổi (Bảng 2), là cơ sở cho sự gia tăng quang hợp tạo nên nguồn
saccarozơ bổ sung để quả tổng hợp tinh bột, tương ứng với lượng tinh bột cực đại
(0,694% ) tại thời điểm khi quả 18 tuần tuổi (Bảng 3). Sau 18 tuần, hàm lượng tinh
bột trong quả giảm dần do sự phân giải tinh bột thành đường cần cho quá trình
trao đổi chất trong quả diễn ra mạnh mẽ phù hợp vời thời kì gia tăng sinh trưởng
93
Nguyễn Như Khanh và Lê Văn Trọng
(thể tích và khối lượng thịt) của quả (Bảng 1).
Sự chuyển hóa tinh bột vừa nêu hoàn toàn phù hợp với sự biến động (theo
hướng ngược lại) của lượng đường khử vốn là sản phẩm phân giải của tinh bột (Bảng
3). Theo số liệu trong cột 3 Bảng 3, hàm lượng đường khử thấp nhất (2,188% khối
lượng quả tươi) trong quả 8 tuần tuổi, rồi tăng dần và đạt trị số cực đại (9,275%
khối lượng quả tươi) tại thời điểm quả 30 tuần tuổi. Sự biến động hàm lượng đường
khử theo tuổi phát triển của cam này cũng phù hợp với sự biến động của hợp chất
cacbohiđrat trong quả dứa Cayen ở nông trường Đồng Giao, Tam Điệp, Ninh Bình,
nghĩa là lượng đường khử thấp lúc quả non rồi tăng liên tục và đạt trị số cực đại
trong quả chín [4].
Bảng 3. Sự biến đổi hàm lượng tinh bột, đường khử
và hoạt độ α-amylase
Tuổi phát
triển của
quả
Hàm lượng tinh
bột (% khối lượng
thịt quả tươi)
Hàm lượng đường
khử (% khối
lượng thịt quả
tươi)
Hoạt độ
α-amylase
(UI/g/phút)
8 tuần 0,405 ± 0,021 2,188 ± 0,034 0,038 ± 0,003
12 tuần 0,506 ± 0,03 2,498 ± 0,024 0,041 ± 0,002
18 tuần 0,694 ± 0,005 2,683 ± 0,012 0,116 ± 0,012
21 tuần 0,309 ± 0,052 5,550 ± 0,071 0,156 ± 0,015
24 tuân 0,248 ± 0,034 6,938 ± 0,007 0,169 ± 0,022
27 tuần 0,237 ± 0,019 7,524 ± 0,052 0,142 ± 0,003
29 tuần 0,221 ± 0,041 8,852 ± 0,004 0,093 ± 0,007
30 tuần 0,135 ± 0,008 9,275 ± 0,034 0,108 ± 0,021
32 tuần 0,102 ± 0,004 9,015 ± 0,032 0,107 ± 0,002
Sự biến động ngược nhau của hàm lượng tinh bột và hàm lượng đường khử
trong quả vừa nêu phù hợp với sự biến động hoạt độ của enzym α-amylase vốn
xúc tác phản ứng chuyển hóa tinh bột thành đường [2]. Số liệu Bảng 4 chỉ rõ rằng
hoạt độ enzym này thấp nhất (0,038 UI/phút) trong quả non 8 tuần tuổi, đạt cực
đại (0,169 UI/phút) trong quả 24 tuần tuổi, sau đó giảm dần và đạt trị số thấp
trong quả chín (0,107 UI/phút). Sự biến động giảm dần như thế của hoạt độ enzym
α-amylase tương ứng hoàn toàn với sự biến động cùng hướng của hàm lượng tinh
bột, nhưng ngược hướng của hàm lượng đường khử theo tuổi của quả cam (Bảng 3).
Sự chuyển hóa về hàm lượng tinh bột, đường khử và hoạt độ của enzym α-amylase
trong quả cam Sông Con trồng tại Yên Định, Thanh Hóa cũng phù hợp với nhiều
tài liệu đã có ở trong và ngoài nước [2,4,7].
Một chỉ tiêu tiếp theo thuộc các hợp chất cacbohidrat của quả cam đã được
phân tích là pectin. Pectin là thành phần tham gia tạo lưới ba chiều trong vách tế
bào thực vật giúp duy trì hình dạng và độ rắn chắc của quả. Kết quả phân tích
94
Một số chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam...
lượng pectin trong cùi của quả cam Sông Con được dẫn ra trong Bảng 4. Theo số
liệu trong Bảng 4, hàm lượng pectin tương đối thấp (1,932% cùi khô) trong quả cam
4 tuần tuổi, tăng dần lên đến trị số cực đại (2,699% chất khô của cùi) tại thời điểm
khi quả 18 tuần tuổi, sau đó giảm dần liên tục đến trị số thấp nhất (1,317% chất
khô) trong quả chín hoàn toàn (32 tuần tuổi.). Thời kì khi lượng pectin tăng liên
tục trùng với thời kì gia tăng của tinh bột, đường khử (Bảng 3), axit hữu cơ tổng
số và axit citric (Bảng 5). Điều đó chứng tỏ rằng thờì gian từ 4 tuần tuổi đến 18
tuần tuổi, các quá trình trao đổi chất cần cho sự tạo vách thứ cấp trong quá trình
sinh trưởng dãn dài của tế bào diễn ra mạnh, phù hợp với sự gia tăng sinh trưởng
thể hiện ra ở tỉ lệ tăng thể tích và khối lượng thịt của quả giữa 2 lần kế tiếp vẫn còn
cao (Bảng 1). Sau tuần tuổi thứ 18, tốc độ tăng thể tích quả và khối lượng thịt quả
chậm lại, nhu cầu về pectin để tạo vách tế bào giảm sút và lượng pectin được tổng
hợp ít hơn. Sự giảm thiểu dần lượng pectin trong cùi quả sau tuần tuổi 18 phù hợp
với sự giảm tốc độ tăng thể tích quả và thịt quả, cũng như giảm thiểu chung của
các chỉ tiêu liên quan trao đổi chất như giảm lượng tinh bột, đường khử, axit hữu
cơ tổng số và axit citric. Sự giảm liên tục của lượng pectin trong cùi quả và đạt trị
số rất thấp nhất trong quả ở thời kì 32 tuần tuổi liên quan với sự long vách tế bào
dẫn tới trạng thái mềm vỏ [7] là đặc trưng của quả chín ăn được (chín hoàn toàn,
chín mõm).
Sự chuyển hóa của các hợp chất cacbohiđrat vừa nêu dẫn tới sự xuất hiện các
sản phẩm trung gian trong đó các axit hữu cơ, vốn đóng vai trò quan trọng như là
nguyên liệu cho các quá trình sinh tổng hợp mới các chất cần thiết của quả, đồng
thời các axit hữu cơ kể cả axit citric, một axit đặc trưng của họ cam quít và axit
ascorbic (vitamin C) đều rất cần cho dinh dưỡng của cơ thể con người. Kết quả
phân tích hàm lượng axit hữu cơ theo tuổi phát triển của quả cam Sông Con được
dẫn ra trong Bảng 5.
Bảng 4. Động thái hàm lượng pectin trong cùi của quả cam Sông con
Tuổi phát triển của quả
(tuần) Hàm lượng pectin (% chất khô)
4 1, 932± 0,012
8 2,438 ± 0,003
12 2,515 ± 0,027
18 2,699 ± 0,023
21 1,859 ± 0,004
24 1,613 ± 0,005
27 1,583 ± 0,019
29 1,552 ± 0,002
30 1,320 ± 0,025
32 1,317 ± 0,027
95
Nguyễn Như Khanh và Lê Văn Trọng
Số liệu trong Bảng 5 cho thấy lượng axit hữu cơ tổng số và axit citric biến
động tương tự nhau. Trị số về hai chỉ số đó là thấp nhất trong quả cam 8 tuần tuổi,
đạt 55, 012 ldl/100g thịt quả tươi đối với axit hữu cơ tổng số,và bằng 0,352 g% thịt
quả tươi đối với axit citric. Sau đó tăng dần và đạt cực đại tại thời điểm quả cam
18 tuần tuổi, bằng 80,00 ldl/100g đối với axit hữu cơ tổng số và 0,512 g% thịt quả
tươi đối với axit citric.
Lượng vitamin C cũng thấp nhất trong quả 8 tuần tuổi, bằng 9,175 mg% thịt
quả tươi. Sau đó chỉ số này tăng dần đạt đến trị số cực đại trong quả cam 30 tuần
tuổi, bằng 35,175 mg% thịt quả tươi rồi giảm xuống, chỉ còn 31,429 mg% trong quả
chín hoàn toàn (32 tuần tuổi).
Nhìn chung, sự biến động của lượng axit hữu cơ tổng số và vitamin C trong
quả cam có nét tương đồng với sự biến động của các chỉ số trên trong quả dứa Cayen
được phát triển từ chồi nách cũng như từ chồi ngọn, nghĩa là trong những tháng
phát triển đầu trong quả cam và quả dứa hàm lượng các chất nêu trên đều tăng
dần và đạt cực đại tại thời điểm chín sinh lý của mỗi loại quả, sau đó giảm xuống
cho đến khi quả chín mõm [4].
Hàm lượng vitamin C trong quả cam khá cao, cao nhất đạt 35,175 mg/100g
thịt quả tươi tại tuần tuổi 30. Từ tuần 8 đến tuần 21, hàm lượng vitamin C tăng
mạnh, từ 9,175mg% tăng lên đến 28,336 mg% (gấp 3,088 lần), đây là thời kỳ thịt
quả phát triển mạnh và có sự tích lũy vitamin C cùng với các chất dinh dưỡng khác
trong quả. Sau tuần 21, hàm lượng vitamin C vẫn tiếp tục tăng nhưng với tốc độ
chậm hơn, đến tuần 30, tốc độ tăng chỉ đạt 1,241 lần.
Bảng 5. Sự biến đổi hàm lượng axit hữu cơ tổng số,
hàm lượng axit citric và vitamin C theo tuổi của quả cam Sông Con
Tuổi phát
triển của
quả
Hàm lượng axit
hữu cơ tổng số
(lđl/ 100g thịt
quả tươi)
Hàm lượng axit
citric (g% thịt quả
tươi)
Hàm lượng vitamin
C (mg% thịt quả
tươi)
8 tuần 55,012 ± 0,002 0,352 ± 0,023 9,175 ± 0,003
12 tuần 66,103 ± 0,019 0,423 ± 0,007 13,203 ± 0,005
18 tuần 80,000 ± 0,015 0,512 ± 0,014 18,480 ± 0,012
21 tuần 76,471 ± 0,023 0,489 ± 0,253 28,336 ± 0,004
24 tuần 63,723 ± 0,005 0,409 ± 0,057 28,615 ± 0,045
27 tuần 59,092 ± 0,032 0,378 ± 0,004 30,800 ± 0,030
29 tuần 55,238 ± 0,007 0,354 ± 0,002 33,524 ± 0,005
30 tuần 47,273 ± 0,005 0,303 ± 0,031 35,175 ± 0,027
32 tuần 45,217 ± 0,012 0,289 ± 0,090 31,429 ± 0,093
96
Một số chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam...
3. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Sinh trưởng của quả cam giống Sông Con thông qua chỉ số thể tích quả và
khối lượng thịt quả, tăng dần từ quả non, đạt cực đại tại thời điểm quả 30 tuần
tuổi, sau đó giảm.
- Hệ sắc tố trong vỏ quả cam Sông Con chứa lượng diệp lục b luôn cao hơn
nhiều so với diệp lục a; dla, dlb và dl (a+b) đạt cực đại trong vỏ quả 12 tuần tuổi,
sau đó giảm dần đến khi quả chín. Carotenoit, ngược lại, thấp trong vỏ quả cam
non, tăng liên tục đến khi quả chín.
- Lượng tinh bột, pectin tăng đến thời điểm quả 18 tuần tuổi, sau đó giảm
đến quả chín, đường khử tăng liên tục đến quả chín, hoạt độ enzym-amylase tăng
đến khi quả 24 tuần tuổi, rồi giảm dần đến khi quả chín.
- Hàm lượng axit hữu cơ tổng số và axit citric tăng đến khi quả 18 tuần tuổi,
rồi giảm dần đên thời điểm quả chín, vitamin C tăng liên tục, đạt cực đại trong quả
30 tuần tuổi, sau đó giảm.
- Quả cam Sông Con 30 tuần tuổi đạt trạng thái chín sinh lý, khi quả hầu như
ngừng sinh trưởng, chứa phần thịt quả lớn nhất, lượng đường khử và vitamin C cao
nhất, lượng tinh bột và pectin thấp. Đó là thời điểm thu hái thích hợp nhất đối với
giống cam Sông Con ghép trên gốc bưởi. Dấu hiệu thời điểm chín sinh lý là sự xuất
hiện màu vàng lục (xanh) trên phần lớn bề mặt vỏ quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Tiến Bân, 1997. Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật Hạt kín
(Magnoliophyta, Angiospermae) ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
[2] Phạm Thị Trân Châu, Trần Thị Áng, 2003. Hóa Sinh học. Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
[3] Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn Thị Hiền, Phùng Gia Tường, 1996. Thực hành
Hóa Sinh học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[4] Nguyễn Như Khanh, Nguyễn Bảo Châu, 2008. So sánh một số chỉ tiêu hóa sinh
theo pha phát triển của quả dứa Cayen Bromelia ananas L. phát triển từ chồi
ngọn và chồi nách. Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ IV Hóa sinh và Sinh
học phân tử phục vụ nông, sinh, y học và công nghiệp thực phẩm. Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 194-197.
[5] Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Như Khanh, 1982. Thực hành Sinh lý Thực vật. Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
[6] Nguyễn Văn Mùi, 2001. Thực hành Hóa Sinh học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
[7] R. Heller, R. Esnault, C. Lance, 1995. Physiologie Ve’getale - De’velopment. 15e
e’dition. Mise à jour et augmentee’. Masson II. Paris Milan Bacelone.
97
Nguyễn Như Khanh và Lê Văn Trọng
ABSTRACT
Some physiological, biochemical conversions along the development ages
of Song Con variety orange (Citrus sinensis Linn.Osbeck)
cultivated in Yen Dinh, Thanh Hoa Province
It is reported in this article that the determination of the growth rate (vol-
ume and fleshy mass) and the analyses of physiological and biochemical conversions
along developmental ages of Song Con variety orange (Citrus sinensis, Linn.Osbeck)
cultivated in Yen Dinh, Thanh Hoa Province were carried out. The analysed indexes
are the pigment system in the pericarp, reducing saccharides, starch, pectin, total
organic and citric acids and vitamin C. Based on these indexes, the physiological
maturity of the Song Con variety of orange is orange was determined to be 30 weeks.
At this age the yield is highest and and there a maximum amount of fruit fleshy,
reducing saccharides, vitamin C and high total organic acids, but a minimal amount
of pectin. The fruit maturity recognition signal is the yellow-green appearance with
yellow on the pericarp surface.
98
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_chuyen_hoa_sinh_ly_hoa_sinh_theo_tuoi_phat_trien_cua.pdf