Qua bảng 5, chúng tôi thấy tổn thương vi thể
ở hạch ruột, gan, thận, phổi như sau:
- Hạch ruột cũng như ruột, luôn là cơ
quan chịu tác động tương đối sớm và bị ảnh
hưởng lớn nhất, bên cạnh đó hạch còn tham
gia vào các quá trình đáp ứng miễn dịch nên
những biến đổi bệnh lý ở hạch ruột thường
bị sớm hơn. Do vậy mà ở hạch ruột có quá
trình biến đổi bệnh lý trầm trọng hơn, hiện
tượng sung huyết (71,4%), thoái hóa tế bào
và thâm nhiễm tế bào viêm (chiếm 21,4-
35,7%).
- Gan: tổn thương tập trung vào thoái
hóa tế bào và thâm nhiễm tế bào viêm,
hiện tượng thâm nhiễm tế bào viêm chiếm
28,6%, chủ yếu là các tế bào dạng lympho,
tổ chức bào, đại thực bào và thoái hóa tế bào
chiếm 14,3% .
- Phổi: sung huyết chiếm 42,9%, thâm nhiễm
tế bào viêm chiếm 21,4%.
- Thận: khác với gan, thâm nhiễm tế bào
viêm chiếm 14,3%. Ở kẽ thận còn có biến đổi
như xuất huyết chiếm 28,6%, mạch quản bị tổn
thương nên gây hiện tượng sung huyết chiếm
35,7%, trên vi trường thấy mạch quản giãn rộng,
trong lòng mạch quản chứa hồng cầu.
IV. KẾT LUẬN
Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được,
chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Đã phát hiện 16 mẫu/103 mẫu lợn con
dương tính với Rotavirus, chiếm tỷ lệ 15,53%.
Trong đó 14 mẫu chỉ dương tính với Rotavirus
mà không đồng nhiễm tác nhân gây bệnh khác
được thực hiện đánh giá mức độ thương tổn
bệnh lý.
2. Triệu chứng lâm sàng lợn con tiêu chảy do
Rotavirus tập trung trên hệ tiêu hóa, nặng nhất
là biểu hiện tiêu chảy chiếm 100%; phân vàng
hoặc trắng có lẫn cặn sữa, có bọt khí chiếm 84%
tổng số con theo dõi. Ngoài ra lợn mắc bệnh còn
biểu hiện ủ rũ, mệt mỏi, lười vận động, uống
nhiều nước, bỏ ăn, giảm ăn, lợn hốc hác và gầy
còm.
3. Tổn thương đại thể của lợn con tiêu chảy
do Rotavirus chủ yếu xảy ra ở ruột non, thành
ruột mỏng, căng ra, trong ruột chứa cặn sữa
không tiêu (90-100%).
4. Tổn thương vi thể lợn con tiêu chảy do
Rotavirus chủ yếu xảy ra ở đỉnh lông nhung làm
lông nhung cùn, teo dần làm giảm khả năng tiêu
hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng của lợn con. Trên
các đoạn ruột non, tổn thương vi thể nặng hơn trên
đoạn tá tràng và không tràng với biểu hiện sung
huyết, thâm nhiễm tế bào viêm và lông nhung bị
ăn mòn ở hầu hết các mẫu nghiên cứu.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm bệnh lý ở lợn con tiêu chảy do Rotavirus, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
21
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM BEÄNH LYÙ ÔÛ LÔÏN CON TIEÂU CHAÛY DO ROTAVIRUS
Đào Lê Anh, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hạnh,
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Ngọc, Lê Văn Hùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Đã thu thập 103 mẫu lợn con tiêu chảy tại 6 tỉnh phía Bắc để nghiên cứu mức độ tổn thương
đại thể và vi thể của bệnh do Rotavirus gây ra. Kết quả nghiên cứu bằng kỹ thuật RT-PCR
cho thấy có 14 mẫu dương tính với Rotavirus và không có sự đồng nhiễm với một số tác nhân
virus, vi khuẩn khác. Thống kê triệu chứng lâm sàng ở lợn con tiêu chảy do Rotavirus cho
thấy triệu chứng tập trung ở hệ tiêu hóa, cụ thể là tiêu chảy (100%); phân vàng hoặc trắng
có lẫn cặn sữa, có bọt khí (85,71%). Ngoài ra, lợn mắc bệnh còn có biểu hiện ủ rũ, mệt mỏi,
lười vận động, uống nhiều nước, bỏ ăn, giảm ăn, lợn hốc hác và gầy còm. Tổn thương đại thể
chủ yếu xảy ra ở ruột non, thành ruột mỏng, căng ra, trong ruột chứa cặn sữa không tiêu (90-
100%). Bệnh tích vi thể tập trung ở ruột. Tổn thương vi thể chủ yếu xảy ra ở đỉnh lông nhung
ruột (100%), lông nhung cùn, teo dần nên làm giảm khả năng tiêu hóa, hấp thu các chất dinh
dưỡng. Trên các đoạn ruột non, tổn thương vi thể nặng hơn ở đoạn tá tràng và không tràng
với biểu hiện sung huyết, thâm nhiễm tế bào viêm và lông nhung bị ăn mòn ở hầu hết các mẫu
nghiên cứu.
Từ khóa: Lợn con, Rotavirus, bệnh tích đại thể và vi thể.
Some pathological characteristics of the piglets suffering
with diarrhea caused by Rotavirus
Dao Le Anh, Nguyen Thi Lan, Nguyen Thi Hanh,
Nguyen Thi Thu Hang, Nguyen Thi Hoa, Nguyen Thi Ngoc, Le Van Hung
SUMMARY
A total of 103 diarrheal piglet samples were collected in 6 Northern provinces, Viet
Nam for study on the pathology caused by rotavirus. The results of RT-PCR technique
showed that 14 samples were positive with rotavirus and co-infection with other virus
and bacteria was not found. The clinical symptoms of the piglets suffering with diarrhea
by rotavirus were detected mainly in the digestive system, the severe symptom was
diarrhea (100%); yellow or white feces with milk residues (85.71%). In addition, the
rotavirus infected pigs presented several clinic signs, such as: moodiness, tiredness,
drinking plenty of water, loss appetite and decline. The necropsy result of the rotavirus
infected piglets indicated that the lesions were mainly occurred in the small intestine,
such as the intestinal wall was thin, stretched, containing milk residue (90-100%). The
histological lesions were mainly occurred on top of the intestinal villi (100%), it was
blunt, gradually disappeared, thus reduced digestibility, nutrition absorption. The lesions
in the intestine segments were heavier than that on the duodenum and jejunum with the
manifestations of congestive, inflammatory, infiltrated cells and corrosive villi in most of
the studied samples.
Keywords: Piglet, Rotavirus, gross and histological lesions.
22
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy ở lợn con là một trong những
vấn đề nghiêm trọng và gây thiệt hại kinh tế
cho người chăn nuôi. Rotavirus là một trong số
nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy cấp ở lợn
con và ở trẻ em, và được cho là một tác nhân
có khả năng truyền lây giữa động vật và người
(Nguyễn Tuấn Anh và cs, 2007). Rotavirus
thuộc họ Reoviridae và được chia thành 5 nhóm
(group) khác nhau, bao gồm nhóm A, B, C, D,
E. Trong 5 nhóm này thì Rotavirus nhóm A là
quan trọng và nguy hiểm nhất vì sự lưu hành
và tỷ lệ gây bệnh tiêu chảy cấp tính cao đối với
cả người và gia súc. Genome của Rotavirus
mang vật liệu di truyền là những đoạn phân tử
RNA, gồm 11 phân đoạn mã hóa cho 6 protein
cấu trúc (structural protein) và 6 protein không
cấu trúc (nonstructural protein). Do genome của
Rotavirus có cấu trúc phân đoạn nên có sự tái tổ
hợp về gen giữa các chủng Rotavirus với nhau
khi chúng cùng nhiễm vào một tế bào và tạo
ra các chủng/biến chủng virus mới. Rotavirus
nhóm A được chia thành các genotype khác
nhau dựa vào loại protein glycoprotein (G) và
protease-sensitive (P) nằm trên lớp vỏ protein
bao bọc lõi virus. Ít nhất có 23 loại genotype
G và 31 loại genotype P được ghi nhận trên thế
giới hiện nay. Các G và P genotype mới không
ngừng được tìm thấy trong thời gian gần đây, nói
lên tính đa dạng của Rotavirus trong tự nhiên.
Trên thế giới, nghiên cứu các biến đổi bệnh
lý do Rotavirus gây ra được cho là hết sức quan
trọng vì nó góp phần tạo nền móng cho việc
thiết lập chẩn đoán bệnh, do vậy các nghiên
cứu đã được thực hiện từ lâu (Janke B.H. et al.,
1987; Johannsen U. et al., 1976). Ở Việt Nam,
đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến sự có mặt
cũng như vai trò của Rotavirus trong các trường
hợp lợn con tiêu chảy, tuy nhiên tính đến thời
điểm này, hầu như chưa có nghiên cứu về mô
bệnh học liên quan đến tiêu chảy ở lợn con do
Rotavirus gây ra. Mục tiêu của nghiên cứu là
tìm hiểu đặc điểm bệnh lý của lợn con tiêu chảy
do Rotavirus nhằm đánh giá thương tổn của
bệnh do Rotavirus trên lợn con ở mức độ đại
thể và vi thể, từ đó cung cấp thông tin cho chẩn
đoán lâm sàng và giải thích nguyên nhân vì sao
lợn con bị bệnh giảm hấp thu và tiêu hóa.
II. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm về triệu chứng
của lợn con tiêu chảy do Rotavirus
- Bệnh tích đại thể của lợn con tiêu chảy do
Rotavirus
- Biến đổi vi thể một số tổ chức nội tạng của
lợn con tiêu chảy do Rotavirus.
2.2. Nguyên liệu
- Động vật lấy mẫu bệnh phẩm: Lợn con
nghi mắc Rotavirus (0-28 ngày tuổi).
- Dụng cụ, hóa chất: Các dụng cụ, hóa chất,
trang thiết bị tại Phòng thí nghiệm trọng điểm
CNSH Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Hệ thống làm tiêu bản vi thể, kính hiển vi điện
tử, máy PCR.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: quan sát triệu chứng
lâm sàng của lợn, chụp ảnh, ghi chép số liệu của
từng cá thể và toàn đàn.
- Phương pháp mổ khám: Lợn bệnh được cố
định trên bàn mổ hoặc khay mổ, mổ khám theo
trình tự từ trên xuống dưới, bộc lộ tất cả các khí
quan để quan sát và tìm ra những biến đổi về
bệnh tích đại thể.
- Phương pháp làm và nhuộm tiêu bản
vi thể: những mẫu bệnh phẩm có các biến đổi
đại thể được sử dụng cho nghiên cứu vi thể.
Phương pháp làm tiêu bản vi thể theo quy trình
tẩm đúc bằng parafin, nhuộm Haematoxilin -
Eosin (HE).
- Phương pháp RT-PCR.
Tách chiết ARN
Tiến hành tách chiết ARN tổng số theo hướng
dẫn của bộ Kít tách chiết ARN của Ambion.
23
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Cụ thể các bước tiến hành như sau: Mẫu bệnh
phẩm được phân giải bằng 600 µl dung dịch
LB-buffer, dùng chày nghiền mẫu, nghiền cho
đến khi dung dịch phân giải hoàn toàn. Bổ sung
600µl cồn 70%. Chuyển toàn bộ huyễn dịch trên
sang cột lọc của Kit, sau đó rửa cột lọc hai lần
bằng bộ đệm rửa Wash Buffer I, Wash Buffer II
được cung cấp kèm theo Kit. Cuối cùng ARN
được thu bằng 100 μl nước tinh khiết (kèm theo
bộ Kit). DNA được bảo quản ở −20°C cho đến
khi phân tích.
Phản ứng RT-PCR
Mẫu ARN sau khi tách chiết sẽ được tiến
hành phản ứng RT-PCR theo bộ Kit Invitrogen.
Cặp mồi được sử dụng trong nghiên cứu để
nhân đoạn gen VP6 bao gồm :
Rota - set1 F (Forward primer): 5’-AAA
GAT GCT AGG GAC AAA ATT G- 3’
Rota - set1 R (Reverse primer): 5’-TTC
AGA TTG TGG AGC TAT TCC A-3’.
Chu kì nhiệt của phản ứng RT-PCR như sau:
450C - 45 phút, 94ºC - 2 phút, 35 chu kỳ (94ºC
- 30 giây, 45ºC - 1phút, 72ºC - 1phút), 72ºC - 10
phút và cuối cùng giữ sản phẩm ở 4ºC.
Điện di trên thạch và đọc kết quả sản phẩm
RT-PCR
Sản phẩm RT-PCR được điện di trên bản
thạch 1,2% trong dung dịch đệm TBE1X trong
thời gian 35 phút ở hiệu điện thế 100V. Đọc kết
quả điện di bằng tia UV tại bước sóng 254nm.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ nhiễm Rotavirus ở lợn con từ 0-28
ngày tuổi tại một số tỉnh phía Bắc
Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm Rotavirus ở lợn con từ 0 - 28 ngày tuổi ở một số tỉnh phía Bắc
STT Địa điểm
Số mẫu
xét nghiệm
Kết quả phản ứng RT-PCR
Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%)
1 Hưng Yên 21 5 23,81
2 Hà Nam 18 3 16,67
3 Bắc Giang 17 2 11,76
4 Hải Dương 16 5 31,25
5 Bắc Ninh 15 0 0
6 Nam Định 16 1 6,25
Tổng 103 16 15,53
Hình 1. Kết quả chạy điện di sản phẩm phản ứng RT-PCR phát hiện Rotavirus
M: thang chuẩn Marker (100bp); giếng 1-5: mẫu ruột, phân của lợn nghi nhiễm Rotavirus;
giếng 6: đối chứng âm; giếng 7: đối chứng dương (chủng virus Rota vacxin)
24
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến
hành thu thập các mẫu phân lợn tiêu chảy từ một
số trang trại lợn ở phía Bắc Việt Nam, tiến hành
phản ứng RT-PCR xét nghiệm phát hiện Rotavirus,
chúng tôi thu được kết quả theo bảng 1.
Qua bảng 1 cho thấy kết quả phản ứng RT-
PCR đã phát hiện 16 mẫu lợn con từ 0 - 28
ngày tuổi dương tính với Rotavirus, chiếm
tỷ̉ lệ 15,53%. Số mẫu lợn con dương tính với
Rotavirus được phát hiện ở 5/6 tỉnh phía Bắc
gồm Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Hải
Dương và Nam Định. Không phát hiện mẫu nào
dương tính với Rotavirus ở tỉnh Bắc Ninh. Như
vậy, Rotavirus gây bệnh cho lợn con lưu hành
khá rộng rãi ở khu vực phía Bắc nước ta.
Trên thế giới có nhiều kỹ thuật chẩn đoán bệnh
do Rotavirus trên lợn như phân lập virus, test thử
nhanh, RT-PCR, RT-qPCR, trong đó kỹ thuật RT-
PCR được sử dụng phổ biến tại các phòng thí
nghiệm để xác định tỷ lệ nhiễm Rotavirus trên lợn
con. Bằng kỹ thuật này tại Canada, một nghiên cứu
đã thu thập 96 mẫu lợn trên 24 ngày tuổi ở các lò mổ
từ 2005-2007 xác định tỷ lệ lợn nhiễm Rotavirus là
8,3% (Martel et al., 2013). Cùng giai đoạn đó, bằng
kỹ thuật RT-PCR, xác định được tỷ lệ nhiễm 6,5%
với Rotavirus trên đối tượng lợn con 28-63 ngày
tuổi tại Ireland 2007 (Collins et al., 2010).
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Hồng
Anh và cs (2014) công bố tỷ lệ nhiễm Rotavirus
nhóm A là 32,7% từ các mẫu lợn con khỏe mạnh
và lợn con tiêu chảy ở 4 tỉnh đồng bằng sông
Mekong. Kết quả tỷ lệ nhiễm Rotavirus trên lợn
con của chúng tôi thấp hơn, có thể do số lượng
mẫu thu thập còn ít nên chưa phản ánh được đầy
đủ tỷ lệ lưu hành của Rotavirus trên đàn lợn.
Ngoài chẩn đoán sự có mặt của Rotavirus,
tất cả các mẫu bệnh phẩm trên cũng được xác
định sự có mặt của virus TGE, virus PED, virus
PRRS, vi khuẩn E.coli, Salmonella, Clostridium
và Coccidiosis. Kết quả chẩn đoán cho thấy có
14/16 mẫu cho kết quả âm tính với virus TGE,
PED, vi khuẩn E.coli, Salmonella và Coccidiosis
(số liệu không trình bày trong bài báo này). Lựa
chọn 14 mẫu chỉ dương tính với Rotavirus để
thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả về tỷ lệ nhiễm Rotavirus cho thấy đã
có sự hiện diện khá cao của virus trong môi trường,
đồng thời chúng còn tồn tại lâu trong môi trường
(phân, dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi). Đây
là yếu tố nguy cơ lan truyền bệnh cần quan tâm vì
nó có ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt
ở trẻ em. Ngoài gây bệnh trên lợn, Rotavirus còn
là nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở các loài chẳng
hạn như người, chuột, bò, cừu. Sự truyền lây tự
nhiên giữa người và động vật có thể xảy ra bởi
con đường truyền lây chủ yếu là từ nguồn nước và
phân động vật gây nhiễm.
3.2. Triệu chứng lâm sàng của lợn con nhiễm
Rotavirus
Thông qua kết quả phản ứng RT-PCR phát
hiện mẫu dương tính với Rotavirus, chúng tôi
tiến hành quan sát biểu hiện lâm sàng của lợn
con tiêu chảy nhiễm Rotavirus. Các triệu chứng
lâm sàng trên lợn con đã được chúng tôi theo
dõi, quan sát, ghi chép lại thông tin qua các chủ
hộ. Kết quả được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Triệu chứng lâm sàng ở lợn con tiêu chảy do Rotavirus
STT Chỉ tiêu theo dõi Số lợn biểu hiện (n = 14) Tỷ lệ (%)
1 Ủ rũ, mệt mỏi, lười vận động 13 92,86
2 Uống nhiều nước 8 57,14
3 Phân vàng hoặc trắng, có lẫn cặn sữa, có bọt khí 12 85,71
4 Nôn mửa 3 21,43
5 Lười bú, bỏ ăn, giảm ăn 12 85,71
6 Lợn hốc hác, gầy còm 12 85,71
7 Tiêu chảy 14 100
25
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của lợn
con tiêu chảy do Rotavirus, chúng tôi thấy bệnh
diễn biến ở thể cấp tính. Triệu chứng lâm sàng
của lợn thay đổi phụ thuộc vào lứa tuổi, trạng
thái miễn dịch của lợn con, cũng như điều kiện
quản lý chăm sóc của từng trại mà diễn biến lâm
sàng của bệnh có thể giảm dần hoặc nghiêm
trọng hơn và dẫn đến tử vong. Triệu chứng lâm
sàng của bệnh bao gồm: ủ rũ, mệt mỏi, lười vận
động, uống nhiều nước, tiêu chảy, phân vàng
hoặc trắng có lẫn cặn sữa, có bọt khí, lười bú,
bỏ ăn, giảm ăn, lợn hốc hác, gầy còm. Trong đó,
triệu chứng lợn con ủ rũ, mệt mỏi, bỏ ăn, giảm
ăn, gầy còm chiếm tỷ lệ 85,71-92,86% số con
theo dõi.
Lợn tiêu chảy chiếm 100% tổng số con quan
sát, do mất nước nhiều, con vật có biểu hiện
khát nước và uống nhiều nước. Lợn uống nhiều
nước chiếm 57,14%. Một số lợn con có biểu
hiện nôn (21,43%).
Lợn con mắc bệnh làm cho quá trình hấp thu
các chất bị cản trở, nhu động ruột tăng lên, khả
năng tiêu hóa bị hạn chế, sữa và thức ăn thừa
trong ruột non không được tiêu hóa, một thời
gian chúng lên men yếm khí sinh hơi, do vậy
phân của con vật có lẫn cặn sữa, có bọt khí. Lợn
có phân vàng, hoặc trắng, có lẫn cặn sữa, có bọt
khí chiếm 85,71%.
Rotavirus chịu được khoảng pH 3,0 - 9,0, nhờ
đó chúng có khả năng chống chịu với pH thấp ở
dạ dày (pH 2,5 - 3,5) và pH cao ở ruột non (6,0
- 7,5). Rotavirus tập trung chủ yếu ở lông nhung
ruột non. Chúng tái tạo chủ yếu trong tế bào chất
của tế bào biểu mô lông nhung ruột non (Buller và
Moxley, 1988) và trong các tế bào biểu mô manh
tràng hoặc đại tràng (Collins et al., 1989; Theil et
al., 1978; Ward et al., 1996b), ở đây chúng phá
huỷ tế bào biểu mô trên bề mặt lông nhung. Kết
quả là mọi hoạt động tiêu hóa, vận chuyển chất
dinh dưỡng, chất điện giải của tế bào biểu mô trên
bề mặt lông nhung bị đình trệ, giảm khả năng hấp
thu chất dinh dưỡng. Nước và chất điện giải tích tụ
trong lòng ruột cộng với chất dinh dưỡng hay sữa
không được tiêu hóa làm tăng áp lực thẩm thấu
trong lòng ruột. Áp lực này kéo nước trong mô
bào vào lòng ruột càng làm dịch thể tích tụ trong
xoang ruột, kích thích vào các thụ quan thần kinh
cục bộ, tăng nhu động ruột sinh ra tiêu chảy làm cơ
thể mệt mỏi dẫn đến chán ăn, bỏ ăn.
3.3. Xác định tổn thương đại thể trên lợn con
tiêu chảy do Rotavirus
Tiến hành mổ khám trên lợn con bị tiêu chảy
do Rotavirus (có kết quả xét nghiệm dương tính
với Rotavirus bằng RT-PCR) để quan sát, kiểm
tra bệnh tích đại thể và thu thập mẫu bệnh phẩm
làm tiêu bản vi thể. Bệnh tích đại thể trên các cơ
quan được thể hiện trong bảng 3.
Bảng 3. Các tổn thương đại thể ở lợn con tiêu chảy do Rotavirus (n=14)
Bệnh tích Số con biểu hiện Tỷ lệ (%)
Có sữa trong dạ dày, ruột non 14 100
Hạch ruột sưng, thủy thũng 6 42,86
Thành ruột mỏng 11 78,57
Ruột non căng phồng 11 78,57
Viêm dạ dày-ruột 6 42,86
Niêm mạc ruột bị bào mòn, bong tróc 8 57,14
Quan sát các bệnh tích của lợn mổ
khám, chúng tôi nhận thấy rằng bệnh tích
chủ yếu tập trung ở ruột non, cụ thể hiện
tượng có sữa trong dạ dày và ruột (100%),
ruột non căng phồng, thành ruột mỏng
(78,57%) và niêm mạc ruột bị bong tróc,
bị bào mòn (57,14%). Ngoài các bệnh tích
kể trên, lợn con còn có hiện tượng hạch
ruột sưng, thủy thũng và viêm dạ dày-ruột
chiếm 42,86%.
26
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Hình 2. Lợn con bị tiêu chảy Hình 3. Dạ dày căng phồng
Hình 4. Phổi viêm nhẹ Hình 5. Hạch màng treo ruột sưng
Hình 6. Thận có vùng sung huyết Hình 7. Thành ruột mỏng, căng phồng
Chúng tôi tiến hành so sánh với các bệnh
khác gây tiêu chảy trên lợn con:
Theo bảng so sánh thì các bệnh gây tiêu chảy
lợn do virus như PED, TGE và Rotavirus đều có
triệu chứng, bệnh tích rất giống nhau nên trong
thực tế lâm sàng dễ dàng chẩn đoán nhầm các
bệnh với nhau. Vì vậy để phân biệt được các
bệnh này cần phải dùng phương pháp chẩn đoán
trong phòng thí nghiệm như RT-PCR để xác
định được nhanh và chính xác nguyên nhân gây
bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời giảm thiệt
hại do bệnh gây ra trên đàn lợn.
Trên thực tế, lợn mắc Rotavirus bị nhiễm
kế phát virus hoặc vi khuẩn thì bệnh trở nên
trầm trọng và tỷ lệ chết tăng lên (Johannsen
U., 1976).
27
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
TT Tên bệnh Tác nhân gây bệnh Bệnh tích đại thể trên đường tiêu hóa Tài liệu tham khảo
1 PED Virus PED Ruột căng phồng, đầy dịch màu vàng, chứa
những cục sữa chưa tiêu. Thành ruột mỏng
và trong suốt có thể do lông nhung bị bào
mòn, xuất huyết, chứa nhiều chất lỏng thối,
hạch ruột sưng, thủy thũng, đặc biệt là ở
không tràng và hồi tràng.
Nguyễn Tất
Toàn và cs.
(2012)
2 TGE Virus TGE Lợn tiêu chảy phân nhiều nước, phân màu
vàng hoặc hơi xanh, lổn nhổn, mùi khó chịu.
Nguyễn
Như Thanh
và cs.
(2001)3 Bệnh tiêu chảy
do E.coli
Vi khuẩn E.coli Lợn tiêu chảy phân có màu trắng, ruột bị
sung huyết và xuất huyết.
4 Phó thương hàn Vi khuẩn Salmonella Lợn tiêu chảy phân lỏng sống, màu vàng
bột như cám hoặc màu xám, da xuất hiện
những đám tụ máu, gan có những điểm
hoại tử hoặc áp se
5 Bệnh tiêu chảy
do Clostridium
Vi khuẩn Clostridium Lợn tiêu chảy ra máu, phân có lẫn bọt khí,
có bệnh tích ở ruột non, xuất huyết máu đỏ
tươi.
6 Hồng lỵ Vi khuẩn Brachyspira Lợn tiêu chảy phân có lẫn máu tươi, màng
niêm mạc và dịch nhầy do viêm ruột già,
manh tràng, trực tràng.
3.4. Xác định các tổn thương vi thể ở lợn con
tiêu chảy do Rotavirus
Tất cả 14 cá thể lợn được xét nghiệm dương
tính với Rotavirus, thu thập mẫu và bảo quản mẫu
bệnh phẩm trong dung dịch formalin 10% trong
thời gian 1 tuần để làm tiêu bản vi thể. Tiến hành
đúc block, mỗi block được cắt, nhuộm tiêu bản,
sau đó soi kính hiển vi đọc kết quả bệnh tích vi
thể. Đánh giá bệnh tích vi thể: Nếu block có 2 tiêu
bản có bệnh tích trở lên thì được coi là dương tính.
Tiêu hóa ở ruột non chiếm một vị trí vô cùng
quan trọng trong việc hấp thu chất dinh dưỡng
của cơ thể. Ruột non là nơi các chất dinh dưỡng
của thức ăn được phân giải đến sản phẩm cuối
cùng để cơ thể hấp thu dễ dàng. Ruột là cơ quan
bị ảnh hưởng đầu tiên và là cơ quan bị tác động
ngay khi Rotavirus xâm nhập. Chúng tôi đã
đánh giá mức độ thương tổn trên các đoạn ruột
do Rotavirus, kết quả được tổng hợp ở bảng 4.
Bảng 4. Kết quả tổn thương vi thể ở các đoạn ruột của lợn con tiêu chảy do Rotavirus
TT Cơ quan
Tổn thương vi thể (n = 14)
Sung
huyết
Xuất
huyết
Hoại tử
tế bào
Thoái hóa
tế bào
Thâm
nhiễm
tế bào
Lông
nhung bị
ăn mòn
Tăng sinh
các nang
lympho
(+) % (+) % (+) % (+) % (+) % (+) % (+) %
1 Tá tràng 9 64,2 8 57,1 3 21,4 14 100 14 100 13 92,8 13 92,8
2 Không tràng 13 92,8 6 42,8 10 71,4 14 100 14 100 14 100 14 100
3 Hồi tràng 6 42,8 5 35,7 8 57,1 13 92,8 12 85,8 9 64,2 10 71,4
4 Kết tràng 3 21,4 2 14,2 6 42,8 11 78,5 11 78,5 3 21,4 9 64,2
Ghi chú: n: số mẫu nghiên cứu; (+): số mẫu dương tính.
28
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Qua bảng 4 nhận thấy sự biến đổi cấu trúc
của ruột diễn ra mạnh nhất ở tá tràng và không
tràng của ruột non, sự biến đổi sung huyết, thâm
nhiễm tế bào viêm và lông nhung bị biến đổi xảy
ra nhiều, chiếm tỷ lệ trên 80% số mẫu, vì không
tràng là nơi diễn ra quá trình tiêu hóa hấp thu
mạnh, đồng thời cũng là nơi dễ bị tổn thương.
Khi quan sát các tiêu bản vi thể ruột cho thấy
tỷ lệ lông nhung bị teo dần ở tá tràng, không
tràng là rất cao, lần lượt là 92,8% và 100%, còn
hồi tràng và kết tràng có sự biến đổi cấu trúc
lông nhung thấp hơn 21,4 – 64,2%. Bề mặt niêm
mạc ruột non có nhiều “nếp gấp”. Trên những
nếp nhăn lại có nhiều nhung mao (mỗi cm2 có
2500 nhung mao) làm tăng bề mặt hấp thu của
ruột non lên 20-25 lần. Diện tích tiếp xúc của
nhung mao ở lợn là 28 m2. Đoạn tá tràng của
ruột non có nhiều nhung mao nhất so với các
đoạn ruột khác. Càng về gần ruột già, số lượng
lông nhung ruột càng giảm dần. Bề mặt các lông
nhung được bao phủ bởi một lớp biểu mô mỏng.
Mỗi tế bào biểu mô lại có vô số vi nhung (3000
vi nhung trên một tế bào) làm tăng bề mặt hấp
thu của lông nhung lên 30 lần, từ đó bề mặt hấp
thu của ruột non tăng lên rất lớn (Trần Sáng
Tạo, 2012). Như vậy, khi lợn con bị tiêu chảy
do Rotavirus, ruột non có những tổn thương
nghiêm trọng, đặc biệt ở lớp lông nhung và ảnh
hưởng đến khả năng hấp thu chất dinh dưỡng,
hậu quả có thể dẫn đến hiện tượng còi cọc, chậm
lớn và thậm chí gây tử vong.
Quan sát dưới kính hiển vi, chúng tôi còn
nhận thấy sự thâm nhiễm tế bào viêm ở mọi vị
trí của ruột. Chúng tôi bắt gặp hiện tượng hoại tử
tế bào, nhiều nhất ở phần không tràng (71,4%).
Ngoài ra còn có hiện tượng tăng sinh tế bào
lympho ở các đoạn ruột non (71,4 - 100%).
Bên cạnh nghiên cứu biến đổi vi thể của ruột
thì chúng tôi còn nghiên cứu trên 14 mẫu ở các
cơ quan hạch ruột, gan, phổi, thận. Kết quả được
ghi lại ở bảng 5.
Bảng 5. Tổn thương vi thể ở một số cơ quan khác của lợn con tiêu chảy do Rotavirus
TT Cơ quan
Tổn thương vi thể (n = 14)
Sung huyết Xuất huyết Hoại tử tế bào Thoái hóa tế bào
Thâm nhiễm
tế bào viêm
n (+) % n (+) % n (+) % n (+) % n (+) %
1 Phổi 6 42,9 2 14,3 2 14,3 1 7,1 3 21,4
2 Hạch ruột 10 71,4 3 21,4 1 7,1 3 21,4 5 35,7
3 Gan 6 42,9 3 21,4 1 7,1 2 14,3 4 28,6
4 Thận 5 35,7 4 28,6 2 14,3 1 7,1 2 14,3
Ghi chú: n: số mẫu nghiên cứu, n (+): số mẫu dương tính.
Qua bảng 5, chúng tôi thấy tổn thương vi thể
ở hạch ruột, gan, thận, phổi như sau:
- Hạch ruột cũng như ruột, luôn là cơ
quan chịu tác động tương đối sớm và bị ảnh
hưởng lớn nhất, bên cạnh đó hạch còn tham
gia vào các quá trình đáp ứng miễn dịch nên
những biến đổi bệnh lý ở hạch ruột thường
bị sớm hơn. Do vậy mà ở hạch ruột có quá
trình biến đổi bệnh lý trầm trọng hơn, hiện
tượng sung huyết (71,4%), thoái hóa tế bào
và thâm nhiễm tế bào viêm (chiếm 21,4-
35,7%).
- Gan: tổn thương tập trung vào thoái
hóa tế bào và thâm nhiễm tế bào viêm,
hiện tượng thâm nhiễm tế bào viêm chiếm
28,6%, chủ yếu là các tế bào dạng lympho,
tổ chức bào, đại thực bào và thoái hóa tế bào
chiếm 14,3% .
29
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
- Phổi: sung huyết chiếm 42,9%, thâm nhiễm
tế bào viêm chiếm 21,4%.
- Thận: khác với gan, thâm nhiễm tế bào
viêm chiếm 14,3%. Ở kẽ thận còn có biến đổi
như xuất huyết chiếm 28,6%, mạch quản bị tổn
thương nên gây hiện tượng sung huyết chiếm
35,7%, trên vi trường thấy mạch quản giãn rộng,
trong lòng mạch quản chứa hồng cầu.
IV. KẾT LUẬN
Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được,
chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Đã phát hiện 16 mẫu/103 mẫu lợn con
dương tính với Rotavirus, chiếm tỷ lệ 15,53%.
Trong đó 14 mẫu chỉ dương tính với Rotavirus
mà không đồng nhiễm tác nhân gây bệnh khác
được thực hiện đánh giá mức độ thương tổn
bệnh lý.
2. Triệu chứng lâm sàng lợn con tiêu chảy do
Rotavirus tập trung trên hệ tiêu hóa, nặng nhất
là biểu hiện tiêu chảy chiếm 100%; phân vàng
hoặc trắng có lẫn cặn sữa, có bọt khí chiếm 84%
tổng số con theo dõi. Ngoài ra lợn mắc bệnh còn
biểu hiện ủ rũ, mệt mỏi, lười vận động, uống
nhiều nước, bỏ ăn, giảm ăn, lợn hốc hác và gầy
còm.
3. Tổn thương đại thể của lợn con tiêu chảy
do Rotavirus chủ yếu xảy ra ở ruột non, thành
ruột mỏng, căng ra, trong ruột chứa cặn sữa
không tiêu (90-100%).
4. Tổn thương vi thể lợn con tiêu chảy do
Rotavirus chủ yếu xảy ra ở đỉnh lông nhung làm
lông nhung cùn, teo dần làm giảm khả năng tiêu
hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng của lợn con. Trên
các đoạn ruột non, tổn thương vi thể nặng hơn trên
đoạn tá tràng và không tràng với biểu hiện sung
huyết, thâm nhiễm tế bào viêm và lông nhung bị
ăn mòn ở hầu hết các mẫu nghiên cứu.
Hình 8. Niêm mạc ruột mỏng, các lông
nhung ngắn và dính lại với nhau, HE, 100x
Hình 9. Ruột, một số lông nhung bị
hoại tử phần đỉnh, HE, 400x
Hình 10. Phổi sung huyết và thâm
nhiễm tế bào viêm, HE, 200x
Hình 11. Gan sung huyết, một số vùng có
thâm nhiễm nhẹ tế bào lympho, HE, 200x
30
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Buller CR, Moxley RA., 1988. Natural
infection of porcine ileal dome M cells
with rotavirus and enteric adenovirus. Vet
Pathol 25:516-517.
2. Collins JE, Benfield DA, Duimstra JR.,
1989. Comparative virulence of two porcine
groupA rotavirus isolates in gnotobiotic
pigs. Am J Vet Res 50:827-835.
3. Collins P.J., Martella V., Buonavoglia C.,
O’Shea H., 2010. Identification of a G2-
like porcine rotavirus bearing a novel VP4
type, P[32] Veterinary Research;41(5):73
4. Johannsen U.,1976. Pathology and
pathogenesis of coli dysentery and coli
diarrhea in suckling piglets, 2. Studies
on the experimental induction of disease
through the intragastric administration of
coli-enterotoxin, Arch Exp Veterinarmed,
30(5), 709-25.
5. Kapikian AZ, Hoshino Y, Chanock RA.,
2001. Rotaviruses, In Fields Virology. DM
Kinipe, PM Howley, eds, Philadelphia:
Lippincott-Raven and Wilkins Publishers,
pp. 1787–1834.
6. Nguyễn Tất Toàn, Nguyễn Đình Quát,
Trịnh Thị Thanh Huyền, Đỗ Tiến Duy,
Trần Thị Dân, Nguyễn Thị Phước Ninh
và Nguyễn Thị Thu, 2012. Phát hiện virus
gây tiêu chảy cấp (PED) trên heo các tỉnh
miền Đông Nam Bộ. Tạp chí Khoa học kỹ
thuật Thú y. pp. 26-30.
7. Tuan Anh Nguyen, Pattara Khamrin, Quang
Duy Trinh, Tung Gia Phan, Le Duc Pham, Le
Phuc Hoang, Kim Trong Hoang, Fumihiro
Yagyu, Shoko Okitsu, Hiroshi Ushijima,
2007. Sequence analysis of Viet Namese
P[6] rotavirus strains suggests evidence
of interspecies transmission. J. Medical
Virology. Vol 79.86-98.
8. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên,
Trần Thị Lan Hương, 2001. Giáo trình vi
sinh vật thú y . Nhà xuất bản Nông nghiệp
Hà Nội.
9. Martel-Paradis O., Laurin M.-A., Martella
V., Sohal J.S., L’Homme Y, 2013. Full-
length genome analysis of G2, G9 and G11
porcine group A rotaviruses. Veterinary
Microbiology. 62:94–102.
10. Lâm Thị Thu Hương và Đường Chi Mai,
2011. Tỷ lệ nhiễm Rotavirus và Escherichia
coli K88 trên heo con tiêu chảy. Tạp chí
Khoa học kỹ thuật Thú y. Tập XVIII - số 6,
trang 15-26.
11. Pham Hong Anh, Juan J. Carrique-Mas,
Nguyen Van Cuong, Ngo Thi Hoa, Nguyet
Lam Anh, Do Tien Duy, Vo Be Hien,
Phan Vu Tra My, Maia A. Rabaa, Jeremy
Farrar, Stephen Baker and Juliet E. Bryant,
2014. The prevalence and genetic diversity
of group A rotaviruses on pig farms in the
Mekong Delta region of Viet Nam. Vet
Microbiol. 170(3-4): 258–265.
12. Theil KW, Bohl EH, Cross RF, Kohler EM,
Agnes AG., 1978. Pathogenesis of porcine
rotaviral infection in experimentally
inoculated gnotobiotic pigs. Am J Vet Res
39:213-220.
13. Trần Sáng Tạo, 2012. Giáo trình sinh lý
động vật, Nhà xuất bản Đại học Huế.
14. Ward LA, Rosen BI, Yuan L, Saif LJ.,
1996. Pathogenesis of an attenuated and a
virulent strain of group A human rotavirus
in neonatal gnotobiotic pigs. J Gen Virol
77:1431-1441.
Ngày nhận 24-12-2018
Ngày phản biện 15-2-2019
Ngày đăng 1-5-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_benh_ly_o_lon_con_tieu_chay_do_rotavirus.pdf