Một số đặc điểm hình thái và sinh cảnh nòng nọc loài cóc mắt bên Xenophrys major (boulenger, 1908) ở vườn quốc gia Tam Đảo

Đặc điểm môi trường sống của nòng nọc Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700-800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa. Với các kiểu rừng khác nhau như rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, Điều kiện khí hậu: Ban ngày nhiệt độ trung bình 29,50C (28,8 -30,60C), ban đêm và sáng sớm nhiệt độ xuống thấp hơn trung bình 24,80C (20 - 270C). Độ ẩm trung bình 72% (66 - 76%). Khu vực thu mẫu thường gặp kiểu rừng thường xanh lá rộng, rừng tre nứa, trảng cây bụi Lòng suối có nhiều tảng đá lớn nhỏ, nước suối chảy chậm. Nòng nọc được thu tại những vũng nước đọng hoặc vũng nước chảy chậm, nòng nọc nổi bám vào đá hoặc lá cây, cành cây trong vũng. Nhiệt độ nước đo được trung bình 20,70C (20 - 220C) vào ban đêm. 4. Kết luận Nòng nọc Xenphrys major (Boulenger, 1908) được ghi nhận ở Vườn Quốc gia Tam Đảo vào các mùa khác nhau trong năm tại các suối có tảng đá lớn nhỏ, nước chảy chậm hoặc có vũng nước đọng (nhiệt độ trung bình 20,70C) trong các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng nọc hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp. Chiều dài đuôi gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc biến thái hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài 11,38 mm, chi sau dài 27,25 mm. Nòng nọc chuyển lên môi trường sống trên cạn.

pdf4 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm hình thái và sinh cảnh nòng nọc loài cóc mắt bên Xenophrys major (boulenger, 1908) ở vườn quốc gia Tam Đảo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khoa hoïc - Coâng ngheä Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä24 1. Mở đầu Loài cóc mắt bên được Boulenger miêu tả năm 1908 dưới tên Megalophrys major. Tên giống và loài của loài này được thay đổi một số lần, Megophrys major (Gee - Boring, 1929), Megophrys longipes maosonensis (Bourret, 1937), Xenophrys major (Ohler, 2003). Chúng tôi lấy tên Xenophrys major theo Ohler (2003) [4] và Nguyễn Quảng Trường và cộng sự (2009) [5]. Xenophrys major mặc dù có vùng phân bố tương đối rộng nhưng chúng nằm trong danh sách sách Đỏ IUNC (2010), là một loài có nguy cơ bị đe dọa. Hiện nay có rất ít nghiên cứu về loài này, chủ yếu là những nghiên cứu về sự phân bố, do đó bài báo này cung cấp một số đặc điểm hình thái nòng nọc của loài Xenophrys major ở vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. 2. Phương pháp nghiên cứu Chúng tôi phân tích 40 mẫu nòng nọc của loài Xenophrys major (Boulenger, 1908) ở các giai đoạn 25, 28, 30, 31, 32 35, 36, 37, 38, 39, 45, 46. Địa điểm thu mẫu: Suối Bạc, suối Con Cò, suối đền bà Chúa tại vườn Quốc gia Tam Đảo. Điều tra sinh cảnh của nòng nọc theo phương pháp quan sát, chụp ảnh, đo nhiệt độ nước, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Mẫu vật được bảo quản trong dung dịch hỗn hợp gồm formon 10% và cồn 70% với tỉ lệ 50:50 tại phòng thí nghiệm Sinh học, khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hùng Vương. Tên khoa học và tên phổ thông của loài theo Nguyễn Quảng Trường [5]. Phân tích đặc điểm hình thái theo McDiarmid R. W., Altig R. [6]. Các chỉ tiêu hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử có độ chính xác đến 0,01mm dưới kính lúp điện tử soi nổi. Các kí hiệu: bl: Cao thân; bw: Rộng thân; ed: Dài mắt; ht: Cao đuôi; lf: Chiều cao lớn nhất nếp dưới vây đuôi; nn: Khoảng cách 2 mũi; np: Khoảng cách mắt - mũi; odw: Rộng miệng; pp: Khoảng cách giữa 2 mắt; rn: Khoảng cách từ mũi đến mõm; ss: Khoảng cách từ lỗ thở đến mõm; su: Khoảng cách mút mõm - nếp trên vây đuôi; tl: Chiều dài từ mút mõm - đuôi; tail: Chiều dài đuôi; uf: Chiều cao lớn nhất nếp trên vây đuôi; vt: Chiều dài bụng - mút đuôi; tmh: Chiều cao cơ đuôi; tmw: Dày đuôi; fl: Dài chi trước; hl: Dài chi sau; svl: Chiều dài mõm - bụng. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Đặc điểm hình thái nòng nọc Đặc điểm chẩn loại: Đĩa miệng hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp. Cơ thể màu nâu sẫm, hơi nhạt ở phía sau, dạng hình trụ. Mắt trung bình, nằm phía bên; lỗ mũi nhỏ, ở trên; có một lỗ thở bên trái; đuôi dài, vây đuôi MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM HÌNH THAÙI VAØ SINH CAÛNH NOØNG NOÏC LOAØI COÙC MAÉT BEÂN Xenophrys major (Boulenger, 1908) ÔÛ VÖÔØN QUOÁC GIA TAM ÑAÛO Nguyễn Thị Thanh Hương1, Hà Quế Cương1, Lê Trung Dũng 2 1Trường Đại học Hùng Vương 2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I TóM TắT Loài cóc mắt bên Xenophrys major (Boulenger, 1908) là một loài có vùng phân bố tương đối rộng ở Việt Nam, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về loài này. Trong bài báo này chúng tôi muốn cung cấp một số đặc điểm về hình thái và sinh cảnh của loài Xenophrys major ở giai đoạn nòng nọc. Các chỉ tiêu hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử có độ chính xác đến 0,01mm dưới kính lúp điện tử soi nổi. Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng nọc hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp. Đuôi dài gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Nòng nọc được ghi nhận ở các mùa trong năm tại các vũng nước đọng hoặc vũng nước chảy chậm ở kiểu rừng thường xanh lá rộng, rừng tre nứa, trảng cây bụi. Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 25 Khoa hoïc - Coâng ngheä mỏng và thấp, mút đuôi nhọn (hình 1,2,3). Cơ thể dạng dài, nhìn từ phía trên, đầu thân có hình elip, chiều rộng bằng 1,2 lần chiều cao thân (bw/bh: 1,07 - 2,74) và bằng 0,59 lần chiều dài thân (bw/bl: 0,34 - 0,64). Mõm phía trên trước, có dạng phễu là riềm thịt mỏng. Mắt trung bình, ở mặt trên của thân, đường kính mắt bằng 0,20 lần chiều dài thân (ed/bl: 0,15 - 0,33). Lỗ mũi gần mút mõm hơn mắt, khoảng cách mũi - mõm bằng 1,24 lần khoảng cách giữa mũi mắt (rn/np: 0,60 - 1,50), khoảng cách giữa hai mũi bằng 3,20 lần khoảng cách giữa hai ổ mắt (nn/np: 1,45 - 5,96). Lỗ thở bên trái, nằm gần mút mõm, thấy rõ khi nhìn nghiêng, khoảng cách từ mút mõm đến lỗ thở bằng 0,49 lần chiều dài thân (ss/bl: 0,25 - 0,57) và bằng 0,48 lần chiều dài từ mút mõm đến lỗ mở của ống hậu môn (ss/svl: 0,23 - 0,57). Nòng nọc ở giai đoạn 45, 46 không còn lỗ thở. Đuôi dài gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Giai đoạn 45 chỉ còn mút đuôi màu đen, 46 đuôi không còn. Chiều cao lớn nhất cơ đuôi bằng 0,99 lần chiều cao lớn nhất của thân (tmh/bh: 0,89 - 1,15) và bằng 0,77 lần chiều cao đuôi (tmh/ht: 0,72 - 0,83). Vây đuôi mỏng, nếp trên vây đuôi cao hơn nếp dưới vây đuôi một chút và kéo dài đến mút đuôi. Chiều cao nếp trên vây đuôi bằng 0,24 lần chiều cao đuôi (uf/ht: 0,19 - 0,32), chiều cao nếp dưới vây đuôi bằng 0,27 lần chiều cao đuôi (lf/ht: 0,22 - 0,32). Nếp trên vây đuôi kéo dài từ gốc đuôi đến mút đuôi, khoảng cách từ mút mõm đến nếp trên vây đuôi bằng 0,87 lần chiều dài thân (su/bl: 0,70 - 1,05). Chiều cao đuôi lớn nhất bằng 1,28 lần chiều cao thân (ht/bh: 1,15 - 1,50). Đĩa miệng: Miệng hướng trên trước, hình phễu rộng chia 3 thùy, chiều rộng đĩa miệng bằng 0,45 lần chiều dài thân (odw/bl: 0,33 - 0,57) và bằng 0,75 lần chiều rộng thân (odw/bw: 0,53 - 1,00). Trên bờ riềm của đĩa miệng có các chấm màu đen và màu vàng, đĩa miệng của nòng nọc có bao hàm mảnh và thẳng, không có gai thịt. Màu sắc của nòng nọc khi sống: Mặt trên thân phía gần đầu có màu nâu sẫm ở giữa thân, nhạt dần về phía hai bên thân, vệt màu nâu sẫm có hình chữ V với 2 đỉnh kéo dài từ 2 đỉnh mắt, đáy chữ V nằm ở gốc đuôi. Mặt trên đầu có các vệt đen tạo thành các hình đa giác. Mặt trên đuôi có màu nâu vàng nhạt. Mặt dưới bụng có màu trắng đục, đuôi có điểm các chấm đen. Màu sắc bảo quản: Trong dung dịch bảo quản thân chuyển sang màu nâu nhạt. 3.2. Đặc điểm hình thái các giai đoạn Giai đoạn 25 chưa xuất hiện mầm chi. Giai đoạn 28 - 30: mầm chi xuất hiện, chiều dài đạt từ 0,5 - 1,3 mm. Giai đoạn 31 - 36: mầm chi có sự phân hóa và tách biệt các ngón, chiều dài đạt từ 2,3 - 4,3 mm. Giai đoạn 37 - 39: Chi sau đạt từ 4,62 mm (giai đoạn 37) đến 5,72 mm (giai đoạn 39), tất cả các ngón đã tách biệt và phân hóa rõ, xuất hiện củ bàn trong và các đốt ngón. Giai đoạn 45: Miệng kéo dài ra sau mắt, chi trước dài 10,2 mm, chi sau đạt 23,74 mm, đuôi cụt chỉ còn chóp Hình 1. Nòng nọc nhìn từ mặt lưng Hình 2. Nòng nọc nhìn từ mặt bên Hình 3. Nòng nọc nhìn từ mặt bụng Hình 4: Hình vẽ nòng nọc Xenophrys major nhìn từ mặt lưng Hình 5: Hình vẽ nòng nọc Xenophrys major nhìn từ mặt bên Hình 6: Hình vẽ đĩa miệng nòng nọc Xenophrys major Khoa hoïc - Coâng ngheä Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä26 đuôi màu đen dài 3,47 mm. Nòng nọc đã lên môi trường cạn. Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc biến thái hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài 11,38 mm, chi sau dài 27,25 mm. Con non: có màu nâu thẫm, trên lưng có các vệt đen tạo thành các hình đa giác, đặc biệt trên đầu có hình tam giác màu đen với hai đỉnh ở hai gờ mắt và một đỉnh ở phía sau đầu. Trên các chi có các vệt loang gần giống con trưởng thành. 3.3. Đặc điểm môi trường sống của nòng nọc Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700-800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa. Với các kiểu rừng khác nhau như rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, Điều kiện khí hậu: Ban ngày nhiệt độ trung bình 29,50C (28,8 -30,60C), ban đêm và sáng sớm nhiệt độ xuống thấp hơn trung bình 24,80C (20 - 270C). Độ ẩm trung bình 72% (66 - 76%). Khu vực thu mẫu thường gặp kiểu rừng thường xanh lá rộng, rừng tre nứa, trảng cây bụi Lòng suối có nhiều tảng đá lớn nhỏ, nước suối chảy chậm. Nòng nọc được thu tại những vũng nước đọng hoặc vũng nước chảy chậm, nòng nọc nổi bám vào đá hoặc lá cây, cành cây trong vũng. Nhiệt độ nước đo được trung bình 20,70C (20 - Các chỉ tiêu hình thái nòng nọc của Xenophrys major (Boulenger, 1908) (Đơn vị: mm) A B 25 (n=8) 28 (n=7) 30 (n=5) 31 (n=3) 32 (n=3) 35 (n=4) 36 (n=3) 37 (n=2) 38 (n=3) 39 (n=4) 45 (n=3) 46 (n=4) bl 10,2 10,86 9,44 10 10 10,9 10,52 11,62 12,62 11,92 19,15 18,97 bh 4,6 4,65 5,09 5,35 5,35 5,93 4,94 6,35 5,66 6,26 5,13 5,4 bw 5,43 5,74 6,07 6,41 6,41 6,74 6,27 6,82 7,14 7,47 6,54 6,81 ed 1,7 1,69 1,81 2,11 2,11 2,13 2,11 2,21 2,18 1,98 6,3 3,05 ht 5,3 5,33 6,85 7,39 7,39 7,36 7,39 8,26 5,55 7,93 0 0 lf 1,29 1,33 1,92 1,65 1,65 2,21 2,34 2,31 1,51 2,2 0 0 nn 2,4 2,2 3,22 2,3 2,3 2,4 2,25 2,13 2,48 2,55 2,64 2,66 np 0,83 0,87 0,54 0,72 0,72 0,58 0,97 0,75 0,61 0,68 1,52 1,84 odw* 3,13 3,33 3,23 3,25 3,55 3,39 3,19 3,51 3,07 3,18 6,49 6,69 pp 2,12 2,29 2,61 3,29 3,29 3,29 2,92 2,54 2,9 2,82 2,52 3,17 rn 0,53 0,54 0,58 0,99 0,99 0,87 1,1 1,05 1,35 1,19 0,93 1,11 ss 2,71 2,69 5,02 5,71 5,71 5,91 5,08 6,18 6,17 5,7 0 0 su 9,85 11,4 8,38 9,51 9,38 9,51 8,66 8,23 10,51 9,64 0 0 tl 35,85 36,07 38,65 38,38 38,38 44,54 42,89 41,12 42,87 41,46 20,28 0 tal 23,04 23,9 29,09 29,37 29,37 32,73 33,01 31,03 30,81 30,48 3,47 0 uf 1,72 1,7 1,33 1,52 1,52 1,96 1,92 1,9 1,15 1,84 0 0 vt 25,67 25,81 27,72 27,86 27,86 32,33 31,31 30,74 29,45 29,43 2,26 0 tmh 4,32 4,15 5,15 5,35 5,35 6,11 5,71 6,37 4,45 6,42 0 0 tmw 2,34 2,46 3,11 3,09 3,09 3,26 3,13 3,15 3,01 3,33 0 0 fl - - - - - - - - - - 10,2 11,38 hl - 0,5 1,3 2,3 2,3 4,02 4,3 4,62 3,57 5,72 23,74 27,25 svl 11,42 11,47 10,75 10,01 10,01 11,41 10,69 11,3 13,14 12,1 15,86 17,63 * Đo ở gốc đĩa miệng A: Các giai đoạn phát triển của nòng nọc B: Các chỉ số hình thái của nòng nọc n: Số mẫu Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 27 Khoa hoïc - Coâng ngheä 220C) vào ban đêm. 4. Kết luận Nòng nọc Xenphrys major (Boulenger, 1908) được ghi nhận ở Vườn Quốc gia Tam Đảo vào các mùa khác nhau trong năm tại các suối có tảng đá lớn nhỏ, nước chảy chậm hoặc có vũng nước đọng (nhiệt độ trung bình 20,70C) trong các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi, Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng nọc hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp. Chiều dài đuôi gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc biến thái hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài 11,38 mm, chi sau dài 27,25 mm. Nòng nọc chuyển lên môi trường sống trên cạn. Tài liệu tham khảo [1]. Lê Thị Quý, 2010, Đặc điểm sinh học nòng nọc một số loài lưỡng cư ở vườn Quốc gia Bạch Mã, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Vinh. [2]. Anna Gawor, Ralf Hendrix, Miguel Vences, Wolfgang Bohme & Thomas Ziegler, 2009, Larval morphology in four species of Hylarana from Vietnam and Thailand with comments on the taxonomy of H. nigrovittata sensulatu (Anura: Ranidae), Zootaxa 2051: 1–25 [3]. Grosjean S., 2001, Zoosystema, 23(1): 143- 156. [4]. amphibia/?action=names&taxon=Xenoph [5]. Nguyen Van Sang, Ho Thu Cuc, Nguyen Quang Truong, 2009, Herpetofauna of Vietnam, Edition Chimaira, Frankfurt am Main. [6]. Roy W. McDiarmid, Ronald Altig, 1999, Tadpoles, The biology of anuran larvae, The University of Chicago Press, Chicago and London. SUMMARY MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF TADPOLES OF XENOPRYS MAJOR (BOULENGER, 1908) IN TAM DAO NATIONAL PARK Nguyen Thi Thanh Huong1, Ha Que Cuong1, Le Trung Dung2 1Hung Vuong University 2Hanoi National University of Education The Xenophrys major (Boulenger, 1908) is a species with a relatively wide distribution in Vietnam, but still there are not many studies on this species. In this article we would like to offer some morphological characteristics and habitat of species at the tadpole stage. Morphological criteria measured by the electronic clamp meters with an accuracy of 0.01 mm under a electronic magnifying glass. It has dark brown, light gradually down to the tail, the cylindrical geometry. The tadpole mouth upwards, funnel-shaped, divided into three lobes; with bounding meat thorns mouth; narrow upper jaw straight. The tail of tadpole is 4.30 times the height (tal/ht: 3.76 - 5.55), sharp tail tip. The tadpoles of Xenophrys major species have recorded in the seasons of the year. They lived in the pools or puddles, that in evergreen forest, bamboo forest, grassland shrubs. Hình 7: Suối Con Cò Hình 8: Suối đền Bà Chúa

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_dac_diem_hinh_thai_va_sinh_canh_nong_noc_loai_coc_mat.pdf
Tài liệu liên quan