Đặc điểm môi trường sống của nòng nọc
Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm
trọn trong dãy núi Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo
tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng
năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng
khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai
khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao
700-800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới
mưa mùa. Với các kiểu rừng khác nhau như rừng
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp,
rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục
hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi,
Điều kiện khí hậu: Ban ngày nhiệt độ trung
bình 29,50C (28,8 -30,60C), ban đêm và sáng sớm
nhiệt độ xuống thấp hơn trung bình 24,80C (20 -
270C). Độ ẩm trung bình 72% (66 - 76%).
Khu vực thu mẫu thường gặp kiểu rừng thường
xanh lá rộng, rừng tre nứa, trảng cây bụi Lòng
suối có nhiều tảng đá lớn nhỏ, nước suối chảy
chậm. Nòng nọc được thu tại những vũng nước
đọng hoặc vũng nước chảy chậm, nòng nọc nổi
bám vào đá hoặc lá cây, cành cây trong vũng.
Nhiệt độ nước đo được trung bình 20,70C (20 -
220C) vào ban đêm.
4. Kết luận
Nòng nọc Xenphrys major (Boulenger, 1908)
được ghi nhận ở Vườn Quốc gia Tam Đảo vào các
mùa khác nhau trong năm tại các suối có tảng đá
lớn nhỏ, nước chảy chậm hoặc có vũng nước đọng
(nhiệt độ trung bình 20,70C) trong các kiểu rừng
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp,
rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục
hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi,
Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần
xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng
nọc hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3
thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao
hàm trên thẳng hẹp. Chiều dài đuôi gấp 4,30 lần
chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn.
Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc biến thái
hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài 11,38
mm, chi sau dài 27,25 mm. Nòng nọc chuyển lên
môi trường sống trên cạn.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm hình thái và sinh cảnh nòng nọc loài cóc mắt bên Xenophrys major (boulenger, 1908) ở vườn quốc gia Tam Đảo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khoa hoïc - Coâng ngheä
Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä24
1. Mở đầu
Loài cóc mắt bên được Boulenger miêu tả
năm 1908 dưới tên Megalophrys major. Tên giống
và loài của loài này được thay đổi một số lần,
Megophrys major (Gee - Boring, 1929), Megophrys
longipes maosonensis (Bourret, 1937), Xenophrys
major (Ohler, 2003). Chúng tôi lấy tên Xenophrys
major theo Ohler (2003) [4] và Nguyễn Quảng
Trường và cộng sự (2009) [5].
Xenophrys major mặc dù có vùng phân bố
tương đối rộng nhưng chúng nằm trong danh
sách sách Đỏ IUNC (2010), là một loài có nguy
cơ bị đe dọa. Hiện nay có rất ít nghiên cứu về loài
này, chủ yếu là những nghiên cứu về sự phân bố,
do đó bài báo này cung cấp một số đặc điểm hình
thái nòng nọc của loài Xenophrys major ở vườn
Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi phân tích 40 mẫu nòng nọc của
loài Xenophrys major (Boulenger, 1908) ở các giai
đoạn 25, 28, 30, 31, 32 35, 36, 37, 38, 39, 45, 46.
Địa điểm thu mẫu: Suối Bạc, suối Con Cò, suối
đền bà Chúa tại vườn Quốc gia Tam Đảo.
Điều tra sinh cảnh của nòng nọc theo phương
pháp quan sát, chụp ảnh, đo nhiệt độ nước, nhiệt
độ và độ ẩm không khí.
Mẫu vật được bảo quản trong dung dịch hỗn
hợp gồm formon 10% và cồn 70% với tỉ lệ 50:50
tại phòng thí nghiệm Sinh học, khoa Khoa học Tự
nhiên, Trường Đại học Hùng Vương. Tên khoa
học và tên phổ thông của loài theo Nguyễn Quảng
Trường [5]. Phân tích đặc điểm hình thái theo
McDiarmid R. W., Altig R. [6].
Các chỉ tiêu hình thái được đo bằng thước kẹp
điện tử có độ chính xác đến 0,01mm dưới kính
lúp điện tử soi nổi.
Các kí hiệu: bl: Cao thân; bw: Rộng thân;
ed: Dài mắt; ht: Cao đuôi; lf: Chiều cao lớn nhất
nếp dưới vây đuôi; nn: Khoảng cách 2 mũi; np:
Khoảng cách mắt - mũi; odw: Rộng miệng; pp:
Khoảng cách giữa 2 mắt; rn: Khoảng cách từ mũi
đến mõm; ss: Khoảng cách từ lỗ thở đến mõm;
su: Khoảng cách mút mõm - nếp trên vây đuôi;
tl: Chiều dài từ mút mõm - đuôi; tail: Chiều dài
đuôi; uf: Chiều cao lớn nhất nếp trên vây đuôi;
vt: Chiều dài bụng - mút đuôi; tmh: Chiều cao cơ
đuôi; tmw: Dày đuôi; fl: Dài chi trước; hl: Dài chi
sau; svl: Chiều dài mõm - bụng.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm hình thái nòng nọc
Đặc điểm chẩn loại: Đĩa miệng hướng lên trên,
có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt
viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp. Cơ
thể màu nâu sẫm, hơi nhạt ở phía sau, dạng hình
trụ. Mắt trung bình, nằm phía bên; lỗ mũi nhỏ,
ở trên; có một lỗ thở bên trái; đuôi dài, vây đuôi
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM HÌNH THAÙI VAØ SINH CAÛNH NOØNG NOÏC LOAØI COÙC MAÉT BEÂN
Xenophrys major (Boulenger, 1908) ÔÛ VÖÔØN QUOÁC GIA TAM ÑAÛO
Nguyễn Thị Thanh Hương1, Hà Quế Cương1,
Lê Trung Dũng 2
1Trường Đại học Hùng Vương
2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I
TóM TắT
Loài cóc mắt bên Xenophrys major (Boulenger, 1908) là một loài có vùng phân bố tương đối rộng ở Việt
Nam, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về loài này. Trong bài báo này chúng tôi muốn cung cấp một
số đặc điểm về hình thái và sinh cảnh của loài Xenophrys major ở giai đoạn nòng nọc.
Các chỉ tiêu hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử có độ chính xác đến 0,01mm dưới kính lúp điện
tử soi nổi.
Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng nọc hướng
lên trên, có dạng phễu, chia thành 3 thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao hàm trên thẳng hẹp.
Đuôi dài gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Nòng nọc được ghi nhận ở các
mùa trong năm tại các vũng nước đọng hoặc vũng nước chảy chậm ở kiểu rừng thường xanh lá rộng, rừng
tre nứa, trảng cây bụi.
Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 25
Khoa hoïc - Coâng ngheä
mỏng và thấp, mút đuôi nhọn (hình 1,2,3).
Cơ thể dạng dài, nhìn từ phía trên, đầu thân
có hình elip, chiều rộng bằng 1,2 lần chiều cao
thân (bw/bh: 1,07 - 2,74) và bằng 0,59 lần chiều
dài thân (bw/bl: 0,34 - 0,64). Mõm phía trên trước,
có dạng phễu là riềm thịt mỏng. Mắt trung bình,
ở mặt trên của thân, đường kính mắt bằng 0,20
lần chiều dài thân (ed/bl: 0,15 - 0,33). Lỗ mũi gần
mút mõm hơn mắt, khoảng cách mũi - mõm bằng
1,24 lần khoảng cách giữa mũi mắt (rn/np: 0,60
- 1,50), khoảng cách giữa hai mũi bằng 3,20 lần
khoảng cách giữa hai ổ mắt (nn/np: 1,45 - 5,96).
Lỗ thở bên trái, nằm gần mút mõm, thấy rõ khi
nhìn nghiêng, khoảng cách từ mút mõm đến lỗ
thở bằng 0,49 lần chiều dài thân (ss/bl: 0,25 - 0,57)
và bằng 0,48 lần chiều dài từ mút mõm đến lỗ mở
của ống hậu môn (ss/svl: 0,23 - 0,57). Nòng nọc ở
giai đoạn 45, 46 không còn lỗ thở.
Đuôi dài gấp 4,30 lần chiều cao đuôi (tal/ht:
3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn. Giai đoạn 45 chỉ
còn mút đuôi màu đen, 46 đuôi không còn. Chiều
cao lớn nhất cơ đuôi bằng 0,99 lần chiều cao lớn
nhất của thân (tmh/bh: 0,89 - 1,15) và bằng 0,77
lần chiều cao đuôi (tmh/ht: 0,72 - 0,83). Vây đuôi
mỏng, nếp trên vây đuôi cao hơn nếp dưới vây
đuôi một chút và kéo dài đến mút đuôi. Chiều cao
nếp trên vây đuôi bằng 0,24 lần chiều cao đuôi
(uf/ht: 0,19 - 0,32), chiều cao nếp dưới vây đuôi
bằng 0,27 lần chiều cao đuôi (lf/ht: 0,22 - 0,32).
Nếp trên vây đuôi kéo dài từ gốc đuôi đến mút
đuôi, khoảng cách từ mút mõm đến nếp trên vây
đuôi bằng 0,87 lần chiều dài thân (su/bl: 0,70 -
1,05). Chiều cao đuôi lớn nhất bằng 1,28 lần chiều
cao thân (ht/bh: 1,15 - 1,50).
Đĩa miệng: Miệng hướng trên trước, hình phễu
rộng chia 3 thùy, chiều rộng đĩa miệng bằng 0,45
lần chiều dài thân (odw/bl: 0,33 - 0,57) và bằng
0,75 lần chiều rộng thân (odw/bw: 0,53 - 1,00).
Trên bờ riềm của đĩa miệng có các chấm màu đen
và màu vàng, đĩa miệng của nòng nọc có bao hàm
mảnh và thẳng, không có gai thịt.
Màu sắc của nòng nọc khi sống: Mặt trên thân
phía gần đầu có màu nâu sẫm ở giữa thân, nhạt
dần về phía hai bên thân, vệt màu nâu sẫm có hình
chữ V với 2 đỉnh kéo dài từ 2 đỉnh mắt, đáy chữ V
nằm ở gốc đuôi. Mặt trên đầu có các vệt đen tạo
thành các hình đa giác. Mặt trên đuôi có màu nâu
vàng nhạt. Mặt dưới bụng có màu trắng đục, đuôi
có điểm các chấm đen.
Màu sắc bảo quản: Trong dung dịch bảo quản
thân chuyển sang màu nâu nhạt.
3.2. Đặc điểm hình thái các giai đoạn
Giai đoạn 25 chưa xuất hiện mầm chi. Giai
đoạn 28 - 30: mầm chi xuất hiện, chiều dài đạt
từ 0,5 - 1,3 mm. Giai đoạn 31 - 36: mầm chi có
sự phân hóa và tách biệt các ngón, chiều dài đạt
từ 2,3 - 4,3 mm. Giai đoạn 37 - 39: Chi sau đạt từ
4,62 mm (giai đoạn 37) đến 5,72 mm (giai đoạn
39), tất cả các ngón đã tách biệt và phân hóa rõ,
xuất hiện củ bàn trong và các đốt ngón. Giai đoạn
45: Miệng kéo dài ra sau mắt, chi trước dài 10,2
mm, chi sau đạt 23,74 mm, đuôi cụt chỉ còn chóp
Hình 1. Nòng nọc nhìn từ mặt lưng Hình 2. Nòng nọc nhìn từ mặt bên Hình 3. Nòng nọc nhìn từ mặt bụng
Hình 4: Hình vẽ nòng nọc
Xenophrys major nhìn từ mặt lưng
Hình 5: Hình vẽ nòng nọc
Xenophrys major nhìn từ mặt bên
Hình 6: Hình vẽ đĩa miệng nòng
nọc Xenophrys major
Khoa hoïc - Coâng ngheä
Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä26
đuôi màu đen dài 3,47 mm. Nòng nọc đã lên môi
trường cạn. Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc
biến thái hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài
11,38 mm, chi sau dài 27,25 mm.
Con non: có màu nâu thẫm, trên lưng có các
vệt đen tạo thành các hình đa giác, đặc biệt trên
đầu có hình tam giác màu đen với hai đỉnh ở hai
gờ mắt và một đỉnh ở phía sau đầu. Trên các chi có
các vệt loang gần giống con trưởng thành.
3.3. Đặc điểm môi trường sống của nòng nọc
Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm
trọn trong dãy núi Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo
tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng
năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng
khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai
khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao
700-800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới
mưa mùa. Với các kiểu rừng khác nhau như rừng
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp,
rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục
hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi,
Điều kiện khí hậu: Ban ngày nhiệt độ trung
bình 29,50C (28,8 -30,60C), ban đêm và sáng sớm
nhiệt độ xuống thấp hơn trung bình 24,80C (20 -
270C). Độ ẩm trung bình 72% (66 - 76%).
Khu vực thu mẫu thường gặp kiểu rừng thường
xanh lá rộng, rừng tre nứa, trảng cây bụi Lòng
suối có nhiều tảng đá lớn nhỏ, nước suối chảy
chậm. Nòng nọc được thu tại những vũng nước
đọng hoặc vũng nước chảy chậm, nòng nọc nổi
bám vào đá hoặc lá cây, cành cây trong vũng.
Nhiệt độ nước đo được trung bình 20,70C (20 -
Các chỉ tiêu hình thái nòng nọc của Xenophrys major (Boulenger, 1908)
(Đơn vị: mm)
A
B
25
(n=8)
28
(n=7)
30
(n=5)
31
(n=3)
32
(n=3)
35
(n=4)
36
(n=3)
37
(n=2)
38
(n=3)
39
(n=4)
45
(n=3)
46
(n=4)
bl 10,2 10,86 9,44 10 10 10,9 10,52 11,62 12,62 11,92 19,15 18,97
bh 4,6 4,65 5,09 5,35 5,35 5,93 4,94 6,35 5,66 6,26 5,13 5,4
bw 5,43 5,74 6,07 6,41 6,41 6,74 6,27 6,82 7,14 7,47 6,54 6,81
ed 1,7 1,69 1,81 2,11 2,11 2,13 2,11 2,21 2,18 1,98 6,3 3,05
ht 5,3 5,33 6,85 7,39 7,39 7,36 7,39 8,26 5,55 7,93 0 0
lf 1,29 1,33 1,92 1,65 1,65 2,21 2,34 2,31 1,51 2,2 0 0
nn 2,4 2,2 3,22 2,3 2,3 2,4 2,25 2,13 2,48 2,55 2,64 2,66
np 0,83 0,87 0,54 0,72 0,72 0,58 0,97 0,75 0,61 0,68 1,52 1,84
odw* 3,13 3,33 3,23 3,25 3,55 3,39 3,19 3,51 3,07 3,18 6,49 6,69
pp 2,12 2,29 2,61 3,29 3,29 3,29 2,92 2,54 2,9 2,82 2,52 3,17
rn 0,53 0,54 0,58 0,99 0,99 0,87 1,1 1,05 1,35 1,19 0,93 1,11
ss 2,71 2,69 5,02 5,71 5,71 5,91 5,08 6,18 6,17 5,7 0 0
su 9,85 11,4 8,38 9,51 9,38 9,51 8,66 8,23 10,51 9,64 0 0
tl 35,85 36,07 38,65 38,38 38,38 44,54 42,89 41,12 42,87 41,46 20,28 0
tal 23,04 23,9 29,09 29,37 29,37 32,73 33,01 31,03 30,81 30,48 3,47 0
uf 1,72 1,7 1,33 1,52 1,52 1,96 1,92 1,9 1,15 1,84 0 0
vt 25,67 25,81 27,72 27,86 27,86 32,33 31,31 30,74 29,45 29,43 2,26 0
tmh 4,32 4,15 5,15 5,35 5,35 6,11 5,71 6,37 4,45 6,42 0 0
tmw 2,34 2,46 3,11 3,09 3,09 3,26 3,13 3,15 3,01 3,33 0 0
fl - - - - - - - - - - 10,2 11,38
hl - 0,5 1,3 2,3 2,3 4,02 4,3 4,62 3,57 5,72 23,74 27,25
svl 11,42 11,47 10,75 10,01 10,01 11,41 10,69 11,3 13,14 12,1 15,86 17,63
* Đo ở gốc đĩa miệng
A: Các giai đoạn phát triển của nòng nọc
B: Các chỉ số hình thái của nòng nọc
n: Số mẫu
Ñaïi hoïc Huøng Vöông - Khoa hoïc Coâng ngheä 27
Khoa hoïc - Coâng ngheä
220C) vào ban đêm.
4. Kết luận
Nòng nọc Xenphrys major (Boulenger, 1908)
được ghi nhận ở Vườn Quốc gia Tam Đảo vào các
mùa khác nhau trong năm tại các suối có tảng đá
lớn nhỏ, nước chảy chậm hoặc có vũng nước đọng
(nhiệt độ trung bình 20,70C) trong các kiểu rừng
kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp,
rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục
hồi sau khai thác, rừng trồng, trảng cây bụi,
Nòng nọc có màu nâu sẫm, màu sáng dần
xuống phía đuôi, dạng hình trụ. Đĩa miệng nòng
nọc hướng lên trên, có dạng phễu, chia thành 3
thùy; không có gai thịt viền quanh miệng; bao
hàm trên thẳng hẹp. Chiều dài đuôi gấp 4,30 lần
chiều cao đuôi (tal/ht: 3,76 - 5,55), mút đuôi nhọn.
Giai đoạn 46: Đuôi mất hẳn, nòng nọc biến thái
hoàn toàn thành cóc con có chi trước dài 11,38
mm, chi sau dài 27,25 mm. Nòng nọc chuyển lên
môi trường sống trên cạn.
Tài liệu tham khảo
[1]. Lê Thị Quý, 2010, Đặc điểm sinh học nòng
nọc một số loài lưỡng cư ở vườn Quốc gia Bạch Mã,
Luận văn thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Vinh.
[2]. Anna Gawor, Ralf Hendrix, Miguel Vences,
Wolfgang Bohme & Thomas Ziegler, 2009, Larval
morphology in four species of Hylarana from
Vietnam and Thailand with comments on the
taxonomy of H. nigrovittata sensulatu (Anura:
Ranidae), Zootaxa 2051: 1–25
[3]. Grosjean S., 2001, Zoosystema, 23(1): 143-
156.
[4].
amphibia/?action=names&taxon=Xenoph
[5]. Nguyen Van Sang, Ho Thu Cuc, Nguyen
Quang Truong, 2009, Herpetofauna of Vietnam,
Edition Chimaira, Frankfurt am Main.
[6]. Roy W. McDiarmid, Ronald Altig, 1999,
Tadpoles, The biology of anuran larvae, The
University of Chicago Press, Chicago and London.
SUMMARY
MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF TADPOLES OF XENOPRYS MAJOR
(BOULENGER, 1908) IN TAM DAO NATIONAL PARK
Nguyen Thi Thanh Huong1, Ha Que Cuong1, Le Trung Dung2
1Hung Vuong University
2Hanoi National University of Education
The Xenophrys major (Boulenger, 1908) is a species with a relatively wide distribution in Vietnam, but
still there are not many studies on this species. In this article we would like to offer some morphological
characteristics and habitat of species at the tadpole stage.
Morphological criteria measured by the electronic clamp meters with an accuracy of 0.01 mm under a
electronic magnifying glass.
It has dark brown, light gradually down to the tail, the cylindrical geometry. The tadpole mouth upwards,
funnel-shaped, divided into three lobes; with bounding meat thorns mouth; narrow upper jaw straight. The
tail of tadpole is 4.30 times the height (tal/ht: 3.76 - 5.55), sharp tail tip. The tadpoles of Xenophrys major
species have recorded in the seasons of the year. They lived in the pools or puddles, that in evergreen forest,
bamboo forest, grassland shrubs.
Hình 7: Suối Con Cò Hình 8: Suối đền Bà Chúa
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_hinh_thai_va_sinh_canh_nong_noc_loai_coc_mat.pdf