Đặc điểm sinh sản
Trong điều kiện nuôi, sau vũ hóa, bướm giao
phối ngay trong ngày. Thời gian giao phối kéo dài
từ 6 đến 40 phút (TB 15,95 ± 2,13 phút) (n = 6). Sau
khi vũ hóa khoảng 1 ngày, bướm cái bắt đầu đẻ
trứng. Bướm cái bay quanh cây chủ tìm vị trí thích
hợp để đẻ. Vị trí đẻ là lá non của cây chủ. Ngoài tự
nhiên, bướm cái đẻ trứng rất rải rác (1–2 trứng/lá
non). Trong điều kiện nuôi, trên cây bưởi non,
bướm cái đẻ trứng dày hơn ngoài tự nhiên (có thể
đạt tới 8 trứng trên một lá non). Con cái đẻ khoảng
40 trứng/con cái, tỷ lệ trứng nở chỉ đạt khoảng 50%.
Ngoài tự nhiên, bướm cái rất ít gặp (tỷ lệ bắt
gặp khoảng 39,13%). Tuy nhiên, theo dõi những
con cái thu ngoài tự nhiên cho đẻ trong lồng nuôi
thì tỷ lệ giới tính có sự thay đổi. Cụ thể, lứa vũ hóa
tháng 4/2018 là 44 đực/58 cái; lứa vũ hóa tháng
3/2019 là 54 đực/18 cái. Theo Ni Ni Win, ở Kamayut
(Myanmar), bướm P. memnon cái cũng ít hơn bướm
đực. Tỷ lệ con đực/con cái xuất hiện qua các tháng
8/2004–1/2005 lần lượt là 25/18, 11/3, 22/8, 29/13,
10/6 và 19/5 [3]. Như vậy, số lượng trứng đẻ ít; tỷ
lệ trứng nở thấp và tỷ lệ con cái thấp cùng với
những biến đổi phức tạp của khí hậu; sử dụng
thuốc hóa học trong canh tác góp phần dẫn đến
khả năng tái sản xuất chủng quần của loài này
thấp. Đó cũng là lý do loài bướm này đang được
quan tâm nghiên cứu nhân nuôi.
2.3 Đặc điểm vòng đời
Sâu non nuôi bằng lá bưởi ở nhiệt độ 27–40
°C (TB 37,32 ± 0,27 °C) và độ ẩm 70–98% (TB 88,69
± 0,48%). Khi bướm vũ hóa, chúng được thả trong
lồng có hoa cây bông trang (Ixora coccinea), hoa cây
bông ổi (Lantana camara) và mật ong pha loãng
50%. Thời gian phát triển của các pha của P.
memnon như sau:
– Trứng cần 3–7 ngày để nở (TB 4,3 ± 0,17
ngày).
– Sâu non cần 18–30 ngày để hoàn thành pha
(TB 25,4 ± 1,74 ngày). Trong đó, sâu non tuổi 1 cần
2–4 ngày (2,8 ± 0,17 ngày); tuổi 2 cần 5–7 ngày (TB
6,0 ± 2,76 ngày); tuổi 3 cần 5–7 ngày (TB 6,1 ± 0,17
ngày); tuổi 4 cần 4–6 ngày (TB 4,3 ± 0,19 ngày) và
tuổi 5 cần 4–7 ngày (TB 6,2 ± 0,17 ngày).
– Nhộng cần 13–20 ngày để hoàn thành (TB
16,1 ± 0,48 ngày).
– Bướm trưởng thành chỉ sống 2–6 ngày (TB
4,1 ± 0,45 ngày).
Vòng đời khoảng 33–56 ngày (TB 49,8 ± 4,2
ngày).
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm hình thái và sinh học của bướm phượng lớn papilio memnon linnaeus, 1758 (papilionidae) ở thành phố Huế và vùng phụ cận, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 5–10, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5267 5
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA BƯỚM
PHƯỢNG LỚN PAPILIO MEMNON LINNAEUS, 1758
(PAPILIONIDAE) Ở THÀNH PHỐ HUẾ VÀ VÙNG PHỤ CẬN
Võ Đình Ba1*, Vũ Văn Liên2, Lê Thị Lành1, Lê Quỳnh Trang2,
Bùi Thị Nhung1, Nguyễn Thị Khánh Quỳnh3
1 Trường Đại học khoa học, Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
2 Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
3 Bảo tàng thiên nhiên duyên hải miền Trung, Xuân Thủy, Vỹ Dạ, Huế, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Võ Đình Ba
(Ngày nhận bài: 28-5-2019; Ngày chấp nhận đăng: 13-01-2020)
Tóm tắt. Bướm phượng lớn Papilio memnon Linnaeus, 1758 là một trong những loài bướm đẹp, kích
thước lớn, mặc dù chúng là loài phân bố rộng nhưng chỉ gặp rải rác vài cá thể ngoài tự nhiên. Nghiên
cứu về loài bướm này được thực hiện từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2019 tại thành phố Huế và các vùng
phụ cận. Kết quả cho thấy bướm trưởng thành khá lớn (cánh trước dài trung bình 71,65 ± 0,59 mm),
bướm cái trưởng thành có 2 dạng hình thái: dạng không đuôi và dạng có đuôi; bướm cái có số lượng ít
hơn bướm đực. Sâu mới nở có hình thái khá xù xì, cuối tuổi 1 đạt 4,05 ± 0,15 mm; ở các tuổi về sau, sâu
càng trở nên trơn láng, sâu non cuối tuổi 5 đạt kích thước trung bình 54,90 ± 2,11 mm. Nhộng dài trung
bình 39,27 ± 0,61 mm; phần thóp thu hẹp, phía ngoài song song, đỉnh thóp chẻ thành hai sừng bởi khoảng
trống hình mũi mác rất đặc trưng. Sâu non sử dụng sáu loài cây thuộc họ Cam chanh (Rutaceae) làm
thức ăn, gồm: Citrus aurantifolia, C. grandis, C. sinensis, Clausena excavata, Glycosmis pentaphylla và
Zanthoxylum nitidum. Trong điều kiện nuôi bán tự nhiên với nhiệt độ từ 27 đến 40 °C (trung bình (TB)
37,32 ± 0,27 °C) và độ ẩm tương đối 70–98% (TB 88,69 ± 0,48%), sâu non được nuôi bằng lá bưởi tươi
(Citrus grandis), trưởng thành thả trong lồng có hoa cây bông trang (Ixora coccinea), hoa cây bông ổi
(Lantana camara) và mật ong pha loãng 50%. Vòng đời của chúng khoảng 33–56 ngày (TB 49,8 ± 4,2 ngày).
Từ khóa: bướm phượng lớn, hình thái, sinh học, họ Cam chanh, Papilio memnon, Rutaceae
Some biological and morphological characteristics
of great mormon (papilio memmon linnaeus, 1758– papilionidae)
in Hue city and adjacent areas
Vo Dinh Ba¹*, Vu Van Lien², Le Thi Lanh¹, Le Quynh Trang²,
Bui Thi Nhung¹, Nguyen Thi Khanh Quynh³
¹ University of Sciences, Hue University, 77 Nguyen Hue St., Hue, Vietnam
² Vietnam National Museum of Nature, 18 Hoang Quoc Viet St., Nghia Do, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
³ The Coastal of Nature Museum, Xuan Thuy, Vi Da, Hue, Vietnam
* Correspondence to Vo Dinh Ba
(Received: 28 May 2019; Accepted: 13 January 2020)
Võ Đình Ba và CS.
6
Abstract. Great Mormon (Papilio memnon Linnaeus, 1758) is one of the big-sized beautiful butterflies, and
in spite of possessing wide distribution, they are rare in nature. This study was carried out from January
2018 to March 2019 in Hue City and the adjacent areas. The results show that the mature butterflies are
relatively large (the forewing mean is 71.65 ± 0.59 mm). Female mature butterflies are in two
morphologies: non-mimetic and mimetic female. Female butterflies are less numerous than male
butterflies. The newly hatched larvae have a relatively rough morphology. The first instar larvae have
an initial body length of 4.05 ± 0.15 mm; later, they become more slippery. The fifth instar larvae have an
average body length of 54.90 ± 2.11 mm. The pupae have an average length of 39.27 ± 0.61 mm, pointed
vertex, and parallel outer. The narrow top is divided into two horn-like structures by a spear-shaped
space. Great Mormon larvae eat six plant species belonging to the Rutaceae family, namely Citrus au-
rantifolia, C. grandis, C. sinensis, Clausena excavata, Zanthoxylum nitidum, and Atalantia buxifolia. Under the
semi-natural culture conditions with the temperature of 27–40 °C (average 37.32 ± 0.27 °C) and relative
humidity 70–98% (average 88.69 ± 0.48%), the caterpillars were fed on fresh pomelo leaves (Citrus
grandis), and the mature individuals were cultured with several flowers including Ixora coccinea,
Lantanacamara, and 50% diluted honey. The life cycle of the butterflies (from egg to mature butterfly) is
33–56 days (average of 49.8 ± 4.2 days).
Keywords: Great Mormon, morphology, biology, Papilio memnon, Rutaceae
1 Mở đầu
Bướm phượng lớn Papilio memnon Linnaeus,
1758 có kích thước lớn, đẹp, phân bố rộng khắp
Việt Nam, nhưng bướm trưởng thành ngoài tự
nhiên chỉ gặp rải rác vài cá thể, sâu non của chúng
ăn lá của một số loài cây thuộc họ Cam chanh
(Rutacea) nên gây hại cục bộ ở các vườn trồng cam
chanh ít được chăm sóc, phun thuốc hóa học... Đặc
biệt, đặc điểm hình thái và sinh học của các pha
trước trưởng thành của chúng ít được quan tâm,
nghiên cứu. Bài báo này giúp cho việc nhận diện
hình thái tất cả các pha cũng như đặc điểm sinh học
của từng pha, góp phần giảm thiểu khả năng gây
hại cây trồng cũng như tạo cơ sở cho việc nhân
nuôi phục vụ các mục đích khác.
1. Thời gian, địa điểm và phương pháp
nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2018
đến tháng 3/2019. Điều tra quan sát sự hoạt động
của Papilio memnon ở các vườn trồng cam chanh và
vườn tạp ở phía Tây thành phố Huế và các xã tiếp
giáp với khu vực này (xã Thủy Bằng và Thủy
Phương thuộc thị xã Hương Thủy và xã Hương Hồ
thuộc thị xã Hương Trà). Bướm được nuôi sinh học
tại Phòng thí nghiệm Động vật thuộc bộ môn Tài
nguyên Sinh vật và Môi trường, Khoa Sinh học,
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế và Khu thí
nghiệm nuôi bướm thuộc Công ty Trách nhiệm
hữu hạn nhà nước một thành viên lâm nghiệp Tiền
Phong, Thừa Thiên Huế.
Nuôi sinh học theo Rajeswari và Jeyabalan
[4] có cải tiến:
+ Trứng được đặt trên giấy lọc đưa vào đĩa
Petri có lót bông thấm nước để tạo độ ẩm.
+ Sâu non nuôi trong hộp nhựa đặt trong các
thùng xốp để đảm bảo nhiệt độ 27–40 °C.
+ Sau khi vũ hóa, con trưởng thành được
đánh dấu và thả vào nhà lưới ở điều kiện nhiệt độ
và độ ẩm của môi trường tự nhiên; thức ăn là bông
trang (Ixora coccinea), bông ổi (Lantana camara) đang
nở hoa và mật ong pha loãng 50% với nước; cây
bưởi non làm cây chủ để bướm đẻ trứng.
Sâu non và nhộng được bảo vệ bằng lưới
mắt nhỏ để chống ong ký sinh và các động vật bắt
mồi ăn thịt khác.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 5–10, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5267 7
– Mô tả hình thái sâu non theo sơ đồ của
James David G. [1].
– Mô tả nhộng theo sơ đồ của Márlon Breno
Costa Santos da Graça [2].
Theo dõi nhiệt độ và độ ẩm bằng nhiệt kế –
ẩm kế đầu dò JR-400A. Ghi lại giá trị 3 lần/ngày vào
khoảng 8, 13 và 16 giờ; đo kích thước bằng thước
cặp hiện số với độ chính xác 0,01 mm; đo trứng
bằng trắc vi thị kính; xử lý hình ảnh bằng
Photoshop CS6. Số liệu được xử lý bằng thống kê
sinh học.
2 Kết quả
2.1 Hình thái
Bướm trưởng thành
Bướm trưởng thành có cánh trước dài trung
bình (TB) 71,65 ± 0,59 mm, cánh sau dài TB 55,80 ±
1,54 mm (n = 45). Con cái dạng có đuôi thường lớn
hơn con đực. Ở bướm đực, mặt trên của cánh trước
có màu đen với vùng gốc cánh có màu đỏ, ½ cánh
trước dần chuyển sang màu xanh ngọc bích để lộ
phần gân cánh màu đen; cánh sau có không đuôi, có
mép viền uốn lượn liên tục hình răng cưa (Hình 1A),
mặt dưới ở phần gốc cánh có một mảng màu cam
nhạt chạy theo vùng sát gốc của mép trong cánh,
vùng góc dưới đến vùng đỉnh có từ 8 đến 12 đốm
đen, các đốm này được viền đỏ ở vùng góc dưới rồi
nhạt dần chuyển thành viền xanh đen ở vùng đỉnh.
Bướm cái có 2 hình dạng khác biệt: không đuôi
và có đuôi. Bướm cái không đuôi (Hình 1B) có hình
dạng giống bướm đực. Điểm khác biệt là có chấm đỏ
ở gốc ô cánh trước và ở phần cánh sau có sáu vệt
trắng liên tục phủ kín các vùng từ gân Cu2 đến Rs;
cuối các vệt trắng là các đốm đen ở ngay rìa mép
cánh; vùng mép dưới cánh sau thỉnh thoảng có màu
đỏ. Ở bướm cái dạng có đuôi (Hình 1C), mặt dưới
cánh sau có ô cánh sau phủ màu trắng và bảy vệt
trắng xung quanh kéo dài ra đến hết vùng giữa cánh;
gân M3 kéo dài thành đuôi.
Hình 1. Hình thái các pha của Papilio memnon
A. con đực; B con cái dạng không đuôi; C. con cái dạng có đuôi; D. trứng; E. sâu non tuổi 1; F. sâu non tuổi 2; G.
sâu non tuổi 3; H. sâu non tuổi 4; I, J. sâu non tuổi 5; K. nhộng (mặt bên, mặt bụng và mặt lưng)
Võ Đình Ba và CS.
8
Trứng
Trứng bướm có dạng hình cầu với đường
kính TB 1,97 ± 0,03 mm; khi mới đẻ, trứng có màu
vàng trắng, sau đó chuyển sang màu trắng đục rồi
màu xám sẫm (Hình 1D).
Sâu non
Sâu non tuổi 1 dài TB 4,05 ± 0,15 mm. Sâu
non mới nở có màu trắng sáng. Sau 1–2 ngày, sâu
non chuyển sang màu nâu nhạt với nhiều lông gai
xù xì bao quanh toàn bộ cơ thể. Số lượng lông gai
nhiều với các gai màu trắng, mảnh, hình mác nhọn.
Đôi gai đốt cuối lớn, dày và dài hơn so với các gai
khác; vùng ngực có gai nhiều hơn các vùng khác
và mặt trên vùng này có nhiều gai hơi xù xì (Hình
1E).
Sâu non tuổi 2 dài TB 7,17 ± 0,30 mm. Lúc
mới lột xác, sâu non có màu nâu, có vệt trắng xuất
hiện ở đốt bụng thứ 3 và thứ 4. Ở phần đốt ngực có
nhiều lông. Đốt ngực trước và cuối đốt bụng 8 có
màu trắng và có hai gai dạng nhánh lớn (Hình 1F).
Sâu non tuổi 3 dài TB 15,05 ± 0,69 mm. Cơ
thể bóng, nhẵn; phần ngực có kích thước lớn hơn,
các lông gai biến mất chỉ còn 2 đôi gai ở đốt bụng
thứ 7 và thứ 8; đôi gai đốt thứ 8 dài và to hơn. Từ
mép dưới đốt bụng thứ nhất xuất hiện vệt trắng
hướng lên trên, kéo dài đến đốt bụng 3 gần như tạo
thành vòng (Hình 1G).
Sâu non tuổi 4 dài TB 22,55 ± 3,03 mm. Sau
khi lột xác, sâu non chuyển sang màu xanh lá cây
đậm; phần ngực hơi gồ với nhiều u nhỏ nhẵn bóng;
cơ thể bóng và láng hơn không còn lông, gai xù xì;
ở đốt bụng có nhiều chấm xanh nhỏ (Hình 1H).
Sâu non tuổi 5 dài TB 54,90 ± 2,11 mm. Cơ
thể trơn nhẵn màu xanh lá cây; các lông gai biến
mất; đôi gai cuối cùng được thay thế bằng 2 mấu
lồi màu trắng sữa. Xuất hiện mắt giả ở vùng đỉnh
mặt bên đốt ngực 2. Bắt đầu từ đốt thứ 3 đến đốt
thứ 4 xuất hiện một dải đen, viền trắng với nhiều
chấm xanh kéo lên thành hình chữ V không dính
vào nhau ở cuối đốt bụng thứ 4. Ở đốt bụng thứ 5
xuất hiện một dải đen ngắn xuất phát từ đầu đến
cuối đốt bụng thứ 5 tạo thành hình tam giác nhỏ ở
hai bên gần với chân giả giữa bụng. Nhìn từ trên
xuống, ở đốt bụng thứ 5 có 2 chấm nhỏ với viền
trắng và chấm xanh ở giữa (Hình 1I).
Một dạng sâu non khác có vệt trắng liên tục
từ ở mép dưới các đốt bụng; đốt bụng 4 có vệt trắng
lớn vòng lên lưng gần tiếp giáp với nhau; đốt bụng
5 cũng có vệt trắng lớn hình tam giác kéo lên đến
lưng (Hình 1J).
Ratna Komala và cs. nuôi sâu non của P.
memnon trên lá bưởi (Citrus aurantiifolia) ở nhiệt độ
18,9–24,2 °C, độ ẩm 80–98%; kích thước của sâu
non các tuổi từ tuổi 1 đến 5 lần lượt là 5,33 ± 0,69,
10,67 ± 1,11, 17,28 ± 1,67, 30,71 ± 1,54 và 53,99 ± 5,02
mm [5]. Như vậy, kích thước sâu non của P. mem-
non ở khu vực nghiên cứu có kích thước nhỏ hơn.
Nhộng
Nhộng P. memnon dài TB 39,27 ± 0,61 mm.
Kích thước nhộng lớn, chiều dài nhộng đạt 2,5 lần
chiều rộng. Nhìn mặt bụng, vùng đốt bụng 2 và 3
rất rộng rồi thắt lại ở khớp đốt ngực 3; đốt ngực 2
và 3 tạo thành một đường thẳng; đốt ngực 1 bị tóm
lại và kéo dài về trước. Vùng thóp thu hẹp lại; 2
đỉnh thóp có xu hướng vuốt vào trong với 2 răng
nhỏ ở mỗi đỉnh; thóp chẻ sâu, hẹp tạo thành
khoảng trống hình mũi mác (Hình 1K).
2.2 Một số đặc điểm sinh học
Đặc điểm dinh dưỡng
Papilio memmon là loài côn trùng biến thái
hoàn toàn, do đó hoạt động dinh dưỡng của chúng
chỉ diễn ra ở pha sâu non và trưởng thành. Ngoài
tự nhiên, bướm chủ yếu hút mật hoa, ngoài ra còn
quan sát thấy bướm hút dịch của quả xoài thối
rụng. Trong điều kiện nuôi, sau khi vũ hóa khoảng
40 phút, bướm có thể bay đi tìm thức ăn, bướm hút
mật hoa của cả 2 loại cây bông trang và bông ổi mà
không có sự khác biệt. Khoảng 1 ngày sau vũ hóa,
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 5–10, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5267 9
bướm có thể tìm đến các đĩa mật ong pha loãng
50% để ăn.
Ngoài tự nhiên, sâu non loài P. memnon ăn lá
của sáu loài cây thuộc họ Cam chanh (Rutacea),
gồm: chanh (Citrus aurantifolia), bưởi (C. grandis),
cam (C. sinensis), hồng bì dại (Clausena excavata),
cơm rượu (Glycosmis pentaphylla) và xuyên tiêu
(Zanthoxylum nitidum). Ở khu vực nghiên cứu, tại
các vườn bưởi, vườn cam, chanh ít được chăm sóc
thì phát hiện nhiều sâu non P. memnon ở trên cây
bưởi, đối với cây hoang dại thì trên cây hồng bì dại
và cơm rượu, sâu non được phát hiện nhiều hơn so
với trên các loại cây còn lại.
Sâu non tuổi 1 và tuổi 2 ăn lá non; sâu càng
lớn tuổi ăn càng nhiều; chúng hướng về phía gốc
ăn lá bánh tẻ chứ không tiến lên phía đọt cây để ăn
lá non. Ngay trước và khi vừa lột xác, sâu ngừng
ăn. Sâu non tuổi 5 khi đẫy sức thì di chuyển đến vị
trí thuận lợi để hóa nhộng. Trong điều kiện nuôi,
quan sát được hiện tượng sâu non ăn vỏ trứng;
trong trường hợp không kịp cung cấp thức ăn, sâu
non tuổi 3, 4 và 5 có thể ăn cả lá già chỉ trừ lại gân
chính. Sâu non đạt tuổi 5, khi thiếu thức ăn, có thể
chuyển sang giai đoạn tiền nhộng nhưng thường
chết ngay sau đó.
Đặc điểm sinh sản
Trong điều kiện nuôi, sau vũ hóa, bướm giao
phối ngay trong ngày. Thời gian giao phối kéo dài
từ 6 đến 40 phút (TB 15,95 ± 2,13 phút) (n = 6). Sau
khi vũ hóa khoảng 1 ngày, bướm cái bắt đầu đẻ
trứng. Bướm cái bay quanh cây chủ tìm vị trí thích
hợp để đẻ. Vị trí đẻ là lá non của cây chủ. Ngoài tự
nhiên, bướm cái đẻ trứng rất rải rác (1–2 trứng/lá
non). Trong điều kiện nuôi, trên cây bưởi non,
bướm cái đẻ trứng dày hơn ngoài tự nhiên (có thể
đạt tới 8 trứng trên một lá non). Con cái đẻ khoảng
40 trứng/con cái, tỷ lệ trứng nở chỉ đạt khoảng 50%.
Ngoài tự nhiên, bướm cái rất ít gặp (tỷ lệ bắt
gặp khoảng 39,13%). Tuy nhiên, theo dõi những
con cái thu ngoài tự nhiên cho đẻ trong lồng nuôi
thì tỷ lệ giới tính có sự thay đổi. Cụ thể, lứa vũ hóa
tháng 4/2018 là 44 đực/58 cái; lứa vũ hóa tháng
3/2019 là 54 đực/18 cái. Theo Ni Ni Win, ở Kamayut
(Myanmar), bướm P. memnon cái cũng ít hơn bướm
đực. Tỷ lệ con đực/con cái xuất hiện qua các tháng
8/2004–1/2005 lần lượt là 25/18, 11/3, 22/8, 29/13,
10/6 và 19/5 [3]. Như vậy, số lượng trứng đẻ ít; tỷ
lệ trứng nở thấp và tỷ lệ con cái thấp cùng với
những biến đổi phức tạp của khí hậu; sử dụng
thuốc hóa học trong canh tác góp phần dẫn đến
khả năng tái sản xuất chủng quần của loài này
thấp. Đó cũng là lý do loài bướm này đang được
quan tâm nghiên cứu nhân nuôi.
2.3 Đặc điểm vòng đời
Sâu non nuôi bằng lá bưởi ở nhiệt độ 27–40
°C (TB 37,32 ± 0,27 °C) và độ ẩm 70–98% (TB 88,69
± 0,48%). Khi bướm vũ hóa, chúng được thả trong
lồng có hoa cây bông trang (Ixora coccinea), hoa cây
bông ổi (Lantana camara) và mật ong pha loãng
50%. Thời gian phát triển của các pha của P.
memnon như sau:
– Trứng cần 3–7 ngày để nở (TB 4,3 ± 0,17
ngày).
– Sâu non cần 18–30 ngày để hoàn thành pha
(TB 25,4 ± 1,74 ngày). Trong đó, sâu non tuổi 1 cần
2–4 ngày (2,8 ± 0,17 ngày); tuổi 2 cần 5–7 ngày (TB
6,0 ± 2,76 ngày); tuổi 3 cần 5–7 ngày (TB 6,1 ± 0,17
ngày); tuổi 4 cần 4–6 ngày (TB 4,3 ± 0,19 ngày) và
tuổi 5 cần 4–7 ngày (TB 6,2 ± 0,17 ngày).
– Nhộng cần 13–20 ngày để hoàn thành (TB
16,1 ± 0,48 ngày).
– Bướm trưởng thành chỉ sống 2–6 ngày (TB
4,1 ± 0,45 ngày).
Vòng đời khoảng 33–56 ngày (TB 49,8 ± 4,2
ngày).
3 Kết luận
Ở thành phố Huế và vùng phụ cận, bướm
phượng lớn Papilio memnon trưởng thành có cả 3
Võ Đình Ba và CS.
10
dạng hình thái, sải cánh trước của bướm trưởng
thành đạt 71,65 ± 0,59 mm. Sâu non cuối tuổi 5 đạt
kích thước trung bình 54,90 ± 2,11 mm. Sâu non sử
dụng 6 loài cây thuộc họ Cam chanh (Rutacea) làm
thức ăn, gồm Citrus aurantifolia, C. grandis, C.
sinensis, Clausena excavata, Glycosmis pentaphylla và
Zanthoxylum nitidum. Ngoài tự nhiên, thức ăn của
bướm trưởng thành chủ yếu là mật hoa; trong điều
kiện nuôi, bướm trưởng thành có ăn mật ong pha
loãng 50%.
Sâu non nuôi bằng lá bưởi ở nhiệt độ 27–40
°C (TB 37,32 ± 0,27 °C) và độ ẩm 70–98% (TB 88,69
± 0,48%); khi bướm vũ hóa được thả trong lồng có
hoa cây bông trang (Ixora coccinea), hoa cây bông ổi
(Lantana camara) và mật ong pha loãng 50%; vòng
đời khoảng 33–56 ngày (TB 49,8 ± 4,2 ngày).
Thông tin về tài trợ
Bài báo là kết quả của đề tài “Nghiên cứu đặc
điểm của các loài bướm ở tỉnh Thừa Thiên Huế và xây
dựng quy trình nhân nuôi”, mã số TTH.2017-KC.01.
Tài liệu tham khảo
1. James DG. What is a caterpillar: The book of
Caterpillars: a life-size guide to six hundred species
from around the world. The University of Chicago
Press. 2017;10-14.
2. Graça M, Graça C, Nunes-Gutjahr A. Immature
stages of Heraclides thoas thoas (Linnaeus, 1771)
(Lepidoptera: Papilionidae): biology and morphol-
ogy. Boletim do Museu Paraense Emílio Goeldi
Ciências Naturais. 2014;9:519-531.
3. Ni Ni W. External Morphology of Adult Citrus
Butterfly, Papilio memnon (Linnaeus, 1758) and
Seasonal Abundance of the Species. Myanmar; 2005.
Contract No.: INIS-MM--116.
4. Rajeswari N, Jeyabalan D. Studies on biology and
reproduction of butterflies (family: papilionidae) in
Nilgiri Hills, Southern Western Ghats, India.
International Journal of Advanced Research in
Biological Sciences (IJARBS). 2017;4(2):1-11.
5. Komala R, Wiyati SY, Suryanda A. Larval Growth of
Great Mormon Butterfly (Papilio memnon
memnon) Fed with Citrus aurantifolia Leaves.
Journal of Physics: Conference Series.
2018;1097:012037.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_hinh_thai_va_sinh_hoc_cua_buom_phuong_lon_pa.pdf