Thời gian tiền đẻ trứng của rệp sáp bột hồng
hại sắn khi nuôi trên các giống sắn khác nhau thì
khác nhau (Bảng 3). Trong đó, thời gian tiền đẻ
trứng của rệp dài nhất khi nuôi trên giống sắn
KM444 (4,63 ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23
(4,43 ngày); giống sắn KM981 và KM94 tƣơng
đƣơng nhau (4,13 ngày); ngắn nhất ở giống sắn
KM419 (4,07 ngày). Tuy nhiên, xét về mặt ý
nghĩa thống kê, sự sai khác về thời gian tiền đẻ
trứng của rệp giữa các giống sắn có sự khác
nhau. Trong đó, giữa các giống sắn KM444 và
HL23 không có sự sai khác về mặt thống kê;
cũng nhƣ giữa bốn giống sắn HL23, KM981,
KM419 và KM94 sai khác không có ý nghĩa về
mặt thống kê (P>0,05). Thời gian đẻ trứng của
rệp cũng có sự khác nhau khi nuôi trên các giống
sắn khác nhau. Cụ thể, thời gian đẻ trứng của
rệp trên các giống sắn KM981, HL23, KM419,
KM94 và KM444 lần lƣợt là 6,47; 6,7; 6,83; 7,27
và 7,07 ngày. Sự sai khác giữa các giống sắn
KM981, KM419, KM444 và HL23; giữa các giống
sắn HL23; KM419; KM94 và KM444 là không có
ý nghĩa thống kê (P>0,05). Chỉ có sự sai khác
giữa giống sắn KM94 và giống sắn KM981 là có
ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Khả năng đẻ trứng và sức đẻ trứngcủa rệp
khi nuôi trên các giống sắn khác nhau có sự
khác nhau (Bảng 3). Khả năng đẻ trứng của rệp
cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (346,6
trứng/ trƣởng thành); tiếp đến là ở giống sắn
KM94 (315,17 trứng/ trƣởng thành) và sai khác
có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với các giống
sắn còn lại. Trong đó, khả năng đẻ trứng của
rệp khi nuôi trên giống sắn KM419 và HL23 lần
lƣợt là 244,63 và 216,73 trứng/trƣởng thành; và
không sai khác nhau (P>0,05). Khả năng đẻ
trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 là
thấp nhất, chỉ đạt 163,87 trứng/trƣởng thành và
sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Ở
Thái Lan, nghiên cứu về sự sinh trƣởng và phát
triển của rệp sáp bột hồng P. manihoti trên hai
giống sắn UJ-5 và Adira-1 cho thấy số trứng
trung bình một con cái đẻ ra là 386.37
trứng/trƣởng thành trên giống sắn UJ-5 và
318.67 trứng/trƣởng thành trên giống sắn Adira-
1 (Wardani et al., 2014). Điều đó một lần nữa
khẳng định, thức ăn ảnh hƣởng mạnh mẽ đến
khả năng sinh sản của rệp.
Sức đẻ trứng của RSBHHS cao nhất khi nuôi
trên giống sắn KM444 (trung bình 50,33
trứng/trƣởng thành/ngày); giảm dần ở giống sắn
KM94 (48 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn
KM419 (37,47 trứng/trƣởng thành/ngày); giống
sắn HL23 (33,97 trứng/trƣởng thành/ngày); và
thấp nhất ở giống sắn KM981 (26,08
trứng/trƣởng thành/ngày). Tuy nhiên, xét về mặt
thống kê thì ở các giống sắn KM444 và KM94
không có sự sai khác (P>0,05); tƣơng tự không
có sự sai khác giữa hai giống sắn KM419 và
HL23. Nhƣng so sánh tỷ lệ sinh sản của rệp khi
nuôi trên giống sắn KM981 với các giống sắn
khác thì thấp hơn và sai khác có ý nghĩa về mặt
thống kê (P<0,05) (Bảng 3).
Nhƣ vậy, giống sắn KM444 và giống sắn
KM94 là các thức ăn thích hợp cho RSBHHS
sinh sản. Còn giống sắn KM981 là giống sắn
không phù hợp cho sinh trƣởng và sinh sản của
RSBHHS.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn (phenacoccus manihoti matile-ferrero) (homoptera: pseudococcidae) trên các giống sắn khác nhau, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
25
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
- Kết quả nghiên cứu trong hai năm tại Bắc
Giang đã xác định đƣợc thời vụ trồng sớm nhiễm
bệnh PVY nặng với tỷ lệ bệnh 66,1 - 100%, chỉ
số bệnh 40,7 - 90,1% và năng suất tƣơi giảm
trên 50 - 68,2%. Vụ muộn, bệnh gây hại nhẹ với
tỷ lệ bệnh 19,5 - 21,5%, chỉ số bệnh 5,9 - 13,5%
và năng suất tƣơi đạt 19,6 - 21,5 tấn/ha.
- Để phòng trừ bệnh PVY hiệu quả, đảm bảo
năng suất và chất lƣợng thuốc lá, các khu vực
thƣờng xuyên nhiễm bệnh PVY có điều kiện
tƣơng tự vùng Bắc Giang cần tập trung trồng
thuốc lá ở thời vụ muộn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Chín, Nguyễn Hồng Thúy và Đỗ
Thị Thúy, 2017. Nghiên cứu ảnh hƣởng của virus PVY
(Potato virus Y) đến sinh trƣởng phát triển, năng suất
và thành phần hóa học của cây thuốc lá ở phía Bắc
Việt Nam. Tạp chí BVTV, số 5/2017, trang 34 –38.
2. Quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc lá vàng sấy
theo tiêu chuẩn 10TCN 618 – 2005.
3. Phân cấp nguyên liệu thuốc lá theo tiêu chuẩn
ngành TCN 26-1-02.
4. Chung, Bong Nam; Canto, Tomas; Tenllado,
Francisco; Choi, Kyung San; Joa, Jae Ho; Ahn, Jeong
Joon; Kim, Chun Hwan; Do, Ki Seck, 2016. The Effects
of High Temperature on Infection by Potato virus Y,
Potato virus A, and Potato leafroll virus. The Plant
Pathology Journal, Vol. 32, Issue 4, 2016, pp.321-328.
5. Kennedy, J. S. Day and V. F. Eatop, 1962. A
conspectus of aphids as vector of lpant virrus. Common
wealth instutute of Entomology, London, 114pp.
6. Lucas, G. B. 1975. Disease of Tobacco. 3rd. ed.
Biological Consulting Associates, Releigh, NC. 621 pp.
7. Latorre, B. A., Andrade, O., Penaloza, E., and
Escaffi, O. 1982. A severe outbreak of potato virus Y in
Chilean tobacco. Plant Dis. 66:893-895.
8. Latorra, B. A, Flores, V, Marholz, G. 1984.
Effect of potato virus Y on growth, yield and chemical
composition of flue cured tobacco in Chile. Plant
disease 68:884-886.
9. Roger Hull, 2009, Mechanical Inoculation of
Plant Viruses
10. Thomson và Wright, 1966. Incidence and some
effects of potato virus Y on new zealand flue-cured
tobacco. New Zealand Journal of Agricultural Research.
11. Sievert, R, C. 1978. Effect of potato virus Y
and tobacco mosaic virus on field-grown burley
tobacco. Phytopathology 68:823-825.
12. Van Enden, H, F and Harrington, R, 2007.
Aphids as crop pest. CABI. United Kingdom.
Phản biện: TS. Ngô Vĩnh Viễn
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA RỆP SÁP BỘT HỒNG HẠI SẮN
(Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) (Homoptera: Pseudococcidae)
TRÊN CÁC GIỐNG SẮN KHÁC NHAU
Biologycal Characteristics of The Cassava Pink Mealy Bug (Phenacoccus
manihoti Matile-Ferrero) (Homoptera: Pseudococcidae)
on Different Cassava Varieties
Hoàng Hữu Tình
1
, Trần Đăng Hòa
1
, Nguyễn Thị Giang
1
và Ngô Đắc Chứng
2
Ngày nhận bài: 25.8.2018 Ngày chấp nhận: 18.9.2018
Abstract
The cassava pink mealybug (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) is an invasive sepcies and become a
serious insect pests on cassava in Vietnam. However, the knowledge of biological characteristics of the cassava
pink mealybugs on different cassava varieties are still limited. This research was conducted in the laboratory to
determine some biological characteristics of the cassava
pink mealybug on 5 cassava varieties such as KM94,
KM981, KM444, KM419 and HL23 under conditions of
30 ± 0.5°C, 70 - 80% RH and a photoperiod of 12h light:
12h dark. The results showed that the developmental
time, the survival rate of numph, the longevity and
1. Trƣờng Đại học Nông Lâm, Đại học Huế;
2. Trƣờng Đại học Sƣ Phạm, Đại học Huế.
Tác giả liên hệ: Hoàng Hữu Tình.
Email: hoanghuutinh@huaf.edu.vn
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
26
fecundity of the adult were dependent on the cassava varieties tested. The development time from egg to adult of
the cassava pink mealybug was longer, the survival rate of numph was lower and the longevity was shorter when
reared on KM981. The fecunvity of the adults on KM981 was lower than that on KM444, KM94, KM419 and HL23.
This result indicated the variety KM891 was not a suitable food of the cassava pink mealybug.
Keywords: Cassava variety, development time, fecundity, Phenacoccus manihoti, the cassava pink
mealybug.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong 10 nƣớc có sản lƣợng
và năng suất sắn lớn nhất trên thế giới (Tổng Cục
thống kê, 2017) và hiện đã trở thành nƣớc xuất
khẩu tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau
Thái Lan (FAOSTAT, 2018). Trong những năm
qua cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lƣơng
thực - thực phẩm thành cây công nghiệp (Nguyễn
Thị Trúc Mai, 2017). Tuy nhiên, cây sắn đang bị
nhiều loại sâu bệnh hại gây ảnh hƣởng lớn đến
sinh trƣởng, phát triển và năng suất. Một trong
những đối tƣợng sinh vật hại nguy hiểm là loài rệp
sáp bột hồng hại sắn (RSBHHS) (Phenacoccus
manihoti Matile-Ferrero) (Phạm Văn Lầm, Ngô
Tiến Dũng, 2011). RSBHHS là đối tƣợng sâu hại
mới xâm nhập vào Việt Nam nhƣng những thiệt
hại chúng gây ra đối với sản xuất sắn ở nƣớc ta là
rất nghiêm trọng. Đã có một số nghiên cứu về ảnh
hƣởng của các giống sắn đến sinh trƣởng và phát
triển của RSBHHS trên thế giới. Các nghiên cứu
này cho thấy thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót,
khả năng đẻ trứng và tỷ lệ sinh sản của RSBHHS
ở các giống sắn khác nhau thì khác nhau
(Soysouvanh et al., 2013; Wardani et al., 2014).
Việc tìm ra đƣợc giống sắn có khả năng chống
chịu đối với RSBHHS nhằm giảm thiểu những
thiệt hại do chúng gây ra trong sản xuất sắn ở
nƣớc ta là điều rất cần thiết. Bài báo này cung cấp
các dẫn liệu khoa học về ảnh hƣởng của các
giống sắn KM94, KM419, KM981, KM444 và
HL23 đến đặc điểm sinh học của RSBHHS ở
trong phòng thí nghiệm, làm cơ sở cho việc xác
định và sử dụng giống sắn có tính chống chịu rệp
ngoài đồng ruộng.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
Rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus
manihoti Matile–Ferrero (Homoptera:
Pseudococcidae) (Matile-Ferrero, 1977).
Các giống sắn KM981, KM444, KM419 là các
giống sắn triễn vọng của bộ giống sắn khảo
nghiệm quốc gia và giống đã đƣợc trồng phổ
biến là KM94 và HL23.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập và nhân nuôi
quần thể rệp sáp bột hồng hại sắn
Thu thập RSBHHS trên các ruộng sắn ở
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị bằng cách dùng
kéo cắt lá, thân, ngọn sắn có RSBHHS đem về
phòng thí nghiệm để tạo nguồn rệp thí nghiệm.
Nhân nuôi quần RSBHHS bằng giống sắn KM94
(là giống sắn bị RSBHHS gây hại rất phổ biến
trong sản xuất hiện nay). Giâm hom sắn vào
chậu nhựa (15 cm x 20 cm x 20 cm). Sau khi cây
sắn mọc đƣợc 4 - 5 tuần thì cho chậu có cây sắn
vào trong lồng nuôi sâu (40 cm x 50 cm x 60 cm).
Sau đó lây nhiễm rệp lên cây trong lồng để nhân
nuôi quần thể rệp làm thí nghiệm. Lồng nuôi rệp
đƣợc đặt trong phòng thí nghiệm với điều kiện
nhiệt độ 30 ± 0,5°C, độ ẩm 70 - 80%, chế độ
chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Đảm bảo cây
sắn đƣợc tƣới đủ ẩm để sinh trƣởng phát triển
bình thƣờng. Khi cây sắn chuẩn bị héo do rệp
gây hại, tiến hành thay cây sắn mới để cung cấp
thức ăn cho rệp. Sử dụng rệp sau nuôi 4 - 5 thế
hệ làm thí nghiệm.
* Phương pháp nghiên cứu thời gian phát
dục, tỷ lệ sống sót của rệp sáp bột hồng hại
sắn trên các giống sắn khác nhau
Cây sắn của các giống sắn dùng làm thức ăn
thí nghiệm đƣợc chuẩn bị tƣơng tự nhƣ cây sắn
nuôi quần thể rệp ban đầu ở trên. Số lƣợng cây
của mỗi giống sắn đƣợc chuẩn bị liên tục để đảm
bảo đủ làm thức ăn nuôi rệp trong suốt quá trình
thí nghiệm. Khi cây có chồi dài trên 6 cm thì sử
dụng làm thí nghiệm. Mỗi giống sắn KM94,
KM419, KM981, KM444, HL23 chuẩn bị 10 ngọn
dài khoảng 6 - 7 cm, rửa sạch và để khô ráo.
Tiến hành nhiễm ổ trứng mới đẻ lên 1 ngọn sắn,
đặt ngọn sắn đã lây nhiễm vào trong hộp nhựa
(10 cm x 8 cm x 5 cm). Đục một lổ (1 cm x 2 cm)
trên nắp hộp và bịt lƣới thông khí. Theo dõi trứng
nở để xác định thời gian pha trứng.
Cho 1 rệp non mới nở (nuôi cá thể) vào mỗi
hộp nhựa (10 cm x 8 cm x 5 cm) có 1 đọt sắn.
Đặt các hộp nuôi lên khay có chứa nƣớc để
chống kiến và chống rệp non bò ra ngoài. Rệp
đƣợc nuôi ở điều kiện nhiệt độ 30±0,5°C, độ ẩm
70 - 80%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
27
tối. Hằng ngày thay thức ăn và theo dõi rệp non
lột xác và sự sống sót của rệp non qua các tuổi
cho đến khi rệp hóa trƣởng thành (Barilli et al.,
2014; Wardani et al., 2014; Trần Đăng Hòa và
Nguyễn Thị Giang, 2014). Thí nghiệm đƣợc lặp
lại ba lần. Tổng số rệp theo dõi là 30 rệp
non/giống sắn.
* Phƣơng pháp nghiên cứu khả năng sinh
sản của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các
giống sắn khác nhau
Mỗi giống sắn chuẩn bị 10 ngọn sắn dài
khoảng 6 - 7 cm và dùng giấy thấm ƣớt quấn
quanh phần phía dƣới của ngọn sắn để giữ ẩm.
Thả một rệp vừa hóa trƣởng thành lên 1 ngọn
sắn rồi dặt ngọn sắn đã nhiễm rệp vào hộp thí
nghiệm (10 cm x 8 cm x 5 cm). Đục một lổ (1 cm
x 2 cm) trên nắp hộp và bịt lƣới thông khí. Rệp
trƣởng thành đƣợc nuôi ở điều kiện nhiệt độ 30 ±
0,5°C, độ ẩm 70 - 80%, chế độ chiếu sáng 12 giờ
sáng: 12 giờ tối. Bổ sung thêm ngọn sắn tƣơi
làm thức ăn nếu ngọn sắn héo. Tiến hành theo
dõi hằng ngày cho đến khi rệp đẻ trứng lần đầu
tiên. Khi rệp đẻ trứng, dùng chổi lông quét nhẹ
lớp trứng của rệp, lấy ổ trứng và đếm số lƣợng
trứng ở mỗi ổ trứng bằng kính lúp soi nổi. Tiến
hành theo dõi hằng ngày đến khi rệp trƣởng
thành chết. Theo dõi thời gian tiền đẻ trứng, thời
gian đẻ trứng, tỷ lệ đẻ trứng, khả năng đẻ trứng
và thời gian hậu đẻ trứng, số trứng đẻ qua từng
ngày và thời gian sống, tỷ lệ sống của rệp trƣởng
thành (Barilli et al., 2014; Wardani et al., 2014).
Thí nghiệm đƣợc lặp lại ba lần. Tổng số rệp theo
dõi là 30 rệp trƣởng thành/giống sắn.
2.3 Phƣơng pháp xử lý số liệu
Các số liệu trung bình, sai số chuẩn đƣợc xử
lý bằng phần mềm Mcrosoft Excel 2010. Trung
bình các chỉ tiêu theo dõi đƣợc so sánh bằng
phƣơng pháp phân tích phƣơng sai một nhân tố
(One - Way ANOVA), sau đó so sánh LSD bằng
phần mềm Statistix 9.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hƣởng của giống sắn đến thời
gian phát dục của RSBHHS Phenacoccus
manihoti
Kết quả đánh giá ảnh hƣởng của các giống
sắn đến thời gian phát dục của RSBHHS đƣợc
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Thời gian phát dục (ngày; TB ± SE) của rệp sáp bột hồng hại sắn
Phenacoccus manihoti ở các giống sắn khác nhau
Giai đoạn
phát dục
Giống sắn
LSD0,05 KM981 HL23 KM419 KM94 KM444
Trứng 9,13
a
±0,29 8,37
b
±0,25 8,10
bc
±0,29 7,13
d
±0,15 7,50
cd
±0,21 0,644
Rệp
non
Tuổi 1 7,40
a
±0,27 7,43
a
±0,16 7,20
a
±0,18 7,13
a
±0,12 6,60
b
±0,16 0,495
Tuổi 2 6,37
ab
±0,19 6,50
a
±0,18 5,97
bc
±0,12 6,23
ab
±0,09 5,70
c
±0,15 0,422
Tuổi 3 5,30
ab
±0,15 5,17
ab
±0,17 4,97
b
±0,12 5,37
a
±0,09 5,33
ab
±0,21 0,386
Cả pha rệp non 19,07
a
±0,40 19,10
a
±0,30 18,13
bc
±0,27 18,73
ab
±0,22 17,63
c
±0,33 0,827
Trứng-TT 28,20
a
±0,60 27,47
a
±0,35 26,23
b
±0,47 25,87
b
±0,24 25,13
b
±0,43 1,167
Ghi chú: TB- Trung bình; SE- Sai số chuẩn; TT- Trưởng thành; Trung bình có các chữ cái khác
nhau trên c ng m t hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Điều kiện nhiệt đ 30±0,5°C,
đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối.
Kết quả bảng 1 cho thấy, thời gian phát dục
giai đoạn trứng của RSBHHS dài nhất khi nuôi
trên giống sắn KM981 (9,13 ngày); ngắn nhất ở
giống sắn KM94 (7,13 ngày) và sai khác này có ý
nghĩa thống kê so với khi nuôi trên các giống sắn
còn lại (P<0,05); dài trung bình khi nuôi trên các
giống sắn HL23 (8,37 ngày); KM419 (8,1 ngày);
KM444 (7,5 ngày). Trong đó, sự sai khác về thời
gian phát dục pha trứng của rệp khi nuôi giữa các
giống sắn HL23 và KM419; KM419 và KM444
không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05).
Thời gian phát dục của rệp non tuổi 1 ngắn
nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (6,6 ngày) và
sai khác này có ý nghĩa thống kê so với khi nuôi
trên các giống sắn còn lại (P<0,05). Khi nuôi trên
các giống sắn khác thì sự sai khác về thời gian
phát dục của rệp non tuổi 1 là không có ý nghĩa
về mặt thống kê (P>0,05). Trong đó, khi nuôi trên
các giống sắn KM981; HL23; KM419 và KM94
thời gian phát dục của rệp tuổi 1 lần lƣợt là: 7,4;
7,43; 7,2 và 7,13 ngày. Thời gian phát dục của
rệp non tuổi 2 khi nuôi trên các giống sắn
KM981, HL23, KM419, KM94 và KM444 lần lƣợt
là: 6,37; 6,5; 5,97; 6,23 và 5,7 ngày. Trong đó,
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
28
thời gian phát dục của rệp non tuổi 2 ở giống sắn
KM444 là 5,7 ngày ngắn hơn và sai khác này có ý
nghĩa thống kê so với khi nuôi trên các giống sắn
KM981; HL23 và KM444 (P<0,05). Bên cạnh đó,
sự sai khác về thời gian phát dục của rệp non tuổi
2 khi nuôi giữa các giống sắn HL23 và KM981,
KM419 và KM94 không có ý nghĩa về mặt thống kê
(P>0,05). Thời gian phát dục của rệp non tuổi 3 khi
nuôi trên hai giống sắn KM419 và KM94 có sự
khác biệt (P<0,05). Trong đó, thời gian phát dục
của rệp non tuổi 3 khi nuôi trên giống sắn KM419
(4,97 ngày) ngắn hơn khi nuôi trên giống sắn KM94
(5,37 ngày). Nhƣng so sánh hai giống sắn này với
các giống sắn HL23 (5,17 ngày); KM981 (5,3
ngày); KM444 (5,33 ngày) thì sai khác không có ý
nghĩa (P<0,05). Thời gian phát dục của rệp non khi
nuôi trên các giống sắn KM981; HL23; KM419;
KM94 và KM444 lần lƣợt là: 19,07; 19,10; 18,13;
18,73 và 17,63 ngày. Trong đó, thời gian phát dục
của rệp non khi nuôi trên hai giống sắn KM981 và
HL23 tƣơng đƣơng nhau và sai khác so với khi
nuôi trên hai giống sắn KM419 và KM444 (P<0,05).
Nhƣng so sánh giữa các giống sắn còn lại thì sai
khác không có ý nghĩa (P>0,05).
Từ trứng đến trƣởng thành, thời gian phát dục
của rệp dài hơn khi nuôi trên giống KM981 (28,2
ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23 (27,47 ngày)
và sai khác có ý nghĩa so với ba giống sắn còn lại
(KM419, KM94 và KM444). Khi nuôi trên các
giống sắn KM419, KM94 và KM444 thời gian phát
dục từ trứng đến trƣởng thành không sai khác về
mặt thống kê (P<0,05); lần lƣợt là 26,23; 25,87 và
25,13 ngày.
Kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở
Thái Lan về sự sinh trƣởng và phát triển của rệp
sáp bột hồng, P. manihoti trên hai giống sắn: UJ-5
và Adira-1 cũng cho thấy giống sắn ảnh hƣởng
đến thời gian phát dục của rệp, trong đó thời gian
phát dục của trứng là 7,93 ± 0,09 và 8,33 ± 0,11
ngày, thời gian của rệp non qua các tuổi là 12,32
± 0,13 và 15,67 ± 0,13 ngày tƣơng ứng trên giống
UJ-5 và giống Adira-1 (Wardani et al., 2014).
3.2 Ảnh hƣởng của giống sắn đến khả
năng sống sót của RSBHHS Phenacoccus
manihoti
Thức ăn không chỉ ảnh hƣởng đến thời gian
phát dục mà còn ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống sót của
RSBHHSqua các tuổi. Nếu thức ăn thích hợp cho
sự sinh trƣởng phát triển của rệp thì khả năng sống
sót của rệp cao hơn, ngƣợc lại nếu thức ăn không
thích hợp thì tỷ lệ sống sót của rệp sẽ giảm.
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ sống sót của rệp non
RSBHHS khi nuôi trên giống sắn khác nhau là
khác nhau. Tỷ lệ sống sót của rệp non tuổi 1 khi
nuôi trên giống sắn KM444 là cao nhất (90%),
giảm dần ở các giống sắn KM94 (80%), HL23
(80%), KM981 (76,67%), KM419 (76,67%). Tỷ lệ
sống sót của rệp tuổi 2 ở các giống sắn cũng
khác nhau, trong đó cao nhất ở giống sắn KM444
(80%), thấp dần ở các giống sắn KM94 (73,33
%), HL23 (66,67%), KM419 (66,67%) và thấp
nhất ở giống sắn KM981 (63,33%). Đến tuổi 3,
khả năng sống sót của rệp dao động từ 53% đến
70%. Tỷ lệ sống sót của rệp tuổi 3 cao nhất ở
giống sắn KM444 (70%), tiếp đến là ở các giống
sắn KM94 (66,67%); KM419 (60%); HL23 (60%)
và thấp nhất ở giống sắn KM981 (53,33%).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống sót
của rệp non RSBHHS ở giống sắn KM981 và
HL23 thấp hơn so với các giống sắn còn lại. Kết
quả này chứng tỏ các giống sắn này không phải
là thức ăn phù hợp với sự sinh trƣởng và phát
triển của rệp. Ngƣợc lại, trên giống sắn KM444
và KM94, rệp có tỷ lệ sống sót cao hơn, chứng tỏ
các giống săn này là thức ăn phù hợp để rệp
sinh sống.
Bảng 2. Tỷ lệ sống sót (%) của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các giống sắn
Giai đoạn phát dục
Giống sắn
KM981 HL23 KM419 KM94 KM444
Rệp non tuổi 1
76,67
(23)
80,00
(24)
76,67
(23)
80,00
(24)
90,00
(27)
Rệp non tuổi 2
63,33
(19)
66,67
(20)
66,67
(20)
73,33
(22)
80,00
(24)
Rệp non tuổi 3
53,33
(16)
60,00
(18)
60,00
(18)
66,67
(20)
70,00
(21)
N 30 30 30 30 30
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc đơn là số cá thể rệp còn sống ở tuổi tương ứng; N: là số lượng cá thể rệp ban
đầu. Điều kiện nhiệt đ 30 ± 0,5°C, đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
29
3.3 Ảnh hƣởng của giống sắn đến thời
gian sống và khả năng sinh sản của RSBHHS
Phenacoccus manihoti
Bảng 3 cho thấy thời gian sống của trƣởng
thành RSBHHSkhi nuôi trên các giống sắn khác
nhau thì khác nhau. Thời gian sống của rệp trƣởng
thành cao nhất ở giống sắn KM444 (11,7 ngày) và
sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê so với các
giống sắn KM981 (10,6 ngày) và KM419 (10,9
ngày) (P<0,05), nhƣng không sai khác so với các
giống sắn KM94 (11,4 ngày) và HL23 (11,13 ngày)
(P>0,05). Thời gian sống của rệp trƣởng thành khi
nuôi trên các giống sắn KM94, HL23 và KM419
không có sự sai khác về ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Bảng 3. Thời gian sống và khả năng sinh sản của rệp sáp bột hồng hại sắn
trên các giống sắn (TB±SE)
Chỉ tiêu theo dõi
Giống sắn
LSD0,05
KM981 HL23 KM419 KM94 KM444
Thời gian sống (ngày)
10,60
c
±0,19
11,13
abc
±0,23
10,90
bc
±0,22
11,40
ab
±0,38
11,70
a
±0,29
0,75
Thời gian tiền đẻ trứng (ngày)
4,13
b
±0,12
4,43
ab
±0,16
4,07
b
±0,18
4,13
b
±0,16
4,63
a
±0,17
0,46
Thời gian đẻ trứng (ngày)
6,47
b
±0,20
6,70
ab
±0,25
6,83
ab
±0,25
7,27
a
±0,42
7,07
ab
±0,29
0,79
Khả năng đẻ trứng
(trứng/trƣởng thành)
163,87
c
±7,37
216,73
b
±12,24
244,63
b
±8,88
315,17
a
±19,88
346,6
a
±13,67
37,02
Sức đẻ trứng(trứng/trƣởng
thành/ngày)
26,08
c
±1,52
33,97
b
±2,62
37,47
b
±2,37
48,00
a
±4,16
50,33
a
±2,12
7,30
Ghi chú: TB - Trung bình; SE - Sai số chuẩn; Trung bình có các chữ cái khác nhau trên c ng m t
hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) khi ph n tích phương sai m t nh n tố (One – way
ANOVA). Điều kiện nhiệt đ 30 ± 0,5°C, đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối.
Thời gian tiền đẻ trứng của rệp sáp bột hồng
hại sắn khi nuôi trên các giống sắn khác nhau thì
khác nhau (Bảng 3). Trong đó, thời gian tiền đẻ
trứng của rệp dài nhất khi nuôi trên giống sắn
KM444 (4,63 ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23
(4,43 ngày); giống sắn KM981 và KM94 tƣơng
đƣơng nhau (4,13 ngày); ngắn nhất ở giống sắn
KM419 (4,07 ngày). Tuy nhiên, xét về mặt ý
nghĩa thống kê, sự sai khác về thời gian tiền đẻ
trứng của rệp giữa các giống sắn có sự khác
nhau. Trong đó, giữa các giống sắn KM444 và
HL23 không có sự sai khác về mặt thống kê;
cũng nhƣ giữa bốn giống sắn HL23, KM981,
KM419 và KM94 sai khác không có ý nghĩa về
mặt thống kê (P>0,05). Thời gian đẻ trứng của
rệp cũng có sự khác nhau khi nuôi trên các giống
sắn khác nhau. Cụ thể, thời gian đẻ trứng của
rệp trên các giống sắn KM981, HL23, KM419,
KM94 và KM444 lần lƣợt là 6,47; 6,7; 6,83; 7,27
và 7,07 ngày. Sự sai khác giữa các giống sắn
KM981, KM419, KM444 và HL23; giữa các giống
sắn HL23; KM419; KM94 và KM444 là không có
ý nghĩa thống kê (P>0,05). Chỉ có sự sai khác
giữa giống sắn KM94 và giống sắn KM981 là có
ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Khả năng đẻ trứng và sức đẻ trứngcủa rệp
khi nuôi trên các giống sắn khác nhau có sự
khác nhau (Bảng 3). Khả năng đẻ trứng của rệp
cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (346,6
trứng/ trƣởng thành); tiếp đến là ở giống sắn
KM94 (315,17 trứng/ trƣởng thành) và sai khác
có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với các giống
sắn còn lại. Trong đó, khả năng đẻ trứng của
rệp khi nuôi trên giống sắn KM419 và HL23 lần
lƣợt là 244,63 và 216,73 trứng/trƣởng thành; và
không sai khác nhau (P>0,05). Khả năng đẻ
trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 là
thấp nhất, chỉ đạt 163,87 trứng/trƣởng thành và
sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Ở
Thái Lan, nghiên cứu về sự sinh trƣởng và phát
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
30
triển của rệp sáp bột hồng P. manihoti trên hai
giống sắn UJ-5 và Adira-1 cho thấy số trứng
trung bình một con cái đẻ ra là 386.37
trứng/trƣởng thành trên giống sắn UJ-5 và
318.67 trứng/trƣởng thành trên giống sắn Adira-
1 (Wardani et al., 2014). Điều đó một lần nữa
khẳng định, thức ăn ảnh hƣởng mạnh mẽ đến
khả năng sinh sản của rệp.
Sức đẻ trứng của RSBHHS cao nhất khi nuôi
trên giống sắn KM444 (trung bình 50,33
trứng/trƣởng thành/ngày); giảm dần ở giống sắn
KM94 (48 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn
KM419 (37,47 trứng/trƣởng thành/ngày); giống
sắn HL23 (33,97 trứng/trƣởng thành/ngày); và
thấp nhất ở giống sắn KM981 (26,08
trứng/trƣởng thành/ngày). Tuy nhiên, xét về mặt
thống kê thì ở các giống sắn KM444 và KM94
không có sự sai khác (P>0,05); tƣơng tự không
có sự sai khác giữa hai giống sắn KM419 và
HL23. Nhƣng so sánh tỷ lệ sinh sản của rệp khi
nuôi trên giống sắn KM981 với các giống sắn
khác thì thấp hơn và sai khác có ý nghĩa về mặt
thống kê (P<0,05) (Bảng 3).
Nhƣ vậy, giống sắn KM444 và giống sắn
KM94 là các thức ăn thích hợp cho RSBHHS
sinh sản. Còn giống sắn KM981 là giống sắn
không phù hợp cho sinh trƣởng và sinh sản của
RSBHHS.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
- Thời gian phát dục, tỷ lệ sống của các tuổi
rệp non, thời gian sống, khả năng đẻ trứng của
trƣởng thành RSBHHS phụ thuộc vào thức ăn là
các giống sắn.
- Thời gian phát dục từ trứng đến trƣởng
thành của rệp sáp bột hồng hại sắn dài hơn, tỷ lệ
sống của rệp non thấp hơn, thời gian sống của
trƣởng thành ngắn hơn và khả năng sinh sản
của RSBHHS thấp hơn khi nuôi trên giống
KM981 so với khi nuôi trên các giống KM444,
KM94, KM419 và HL23. Kết quả này chứng tỏ
giống sắn KM891 là thức ăn không phù hợp cho
rệp sáp bột hồng hại sắn.
4.2 Kiến nghị
- Tiến hành khảo nghiệm để đánh giá tính
chống chịu rệp sáp bột hồng hại sắn trong điều
kiện nhà lƣới và trên đồng ruộng cũng nhƣ khả
năng thích nghi của giống KM891 để phục vụ sản
xuất tại địa phƣơng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Barilli R. D., Piettrowski V., Wengrat P. G.,
Gazola D., Ringenberg R., 2014. Biological
characteristics of the cassava mealybug Phenacoccus
manihoti (Hemiptera: Pseudococcidae). Revista
Colombiana de Entomología 40(1): 21-24.
2. FAOSTAT, 2018. Diện tích, năng suất và sản
lƣợng sắn trên Thế giới và ở Việt Nam. Trang web:
Truy cập ngày
31/01/2018.
3. Phạm Văn Lầm, Ngô Tiến Dũng, 2011. Rệp
sáp bột hồng Phenacoccus manihoti Mat-Ferr- một
sinh vật ngoại lai nguy hiểm gây hại cây sắn, Tạp chí
Bảo vệ thực vật, 3/2011, 32-34.
4. Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang, 2014. Một
số đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn
Phenacocus manihoti Matile-Ferrero (Homoptera:
Pseudococcidae). Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số 6
(257)/2014: 26 – 30
5. Nguyễn Thị Trúc Mai, 2017. Nghiên cứu tuyển
chọn giống sắn năng suất tinh b t cao và k thuật
th m canh tại tỉnh Phú Yên. Luận án tiến sĩ Nông
nghiệp, Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.
6. Matile-Ferrero D., 1977. A new scale-insect
injurious to cassava in Equatorial Africa, Phenacoccus
manihoti sp.n. (Homoptera, Coccoidea,
Pseudococcidae). Annales de la Societe
Entomologique de France 13(1): 145-152.
7. Soysouvanh P., Siri N., Jamjanya T., 2013.
Comparison on infestation levels of pink mealybug,
Phenacoccus manihoti (Homoptera: Pseudococcidae)
on four cassava varieties. Khon Kaen Agr. J., 41 (4):
517-520.
8. Tổng cục Thống kê, 2017. Niên giám thống kê
năm 2016. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. 435-486.
9. Wardani N., Rauf A., Winasa I.W., Santoso S.,
2014. The life history and population growth
parameters of mealybug Phenacoccus manihoti Matile-
Ferrero (Hemiptera: Pseudococcidae) on two cassava
varieties. Journal HPT Tropika. 14 (1): 64-70.
Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_sinh_hoc_cua_rep_sap_bot_hong_hai_san_phenac.pdf