Một số đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn (phenacoccus manihoti matile-ferrero) (homoptera: pseudococcidae) trên các giống sắn khác nhau

Thời gian tiền đẻ trứng của rệp sáp bột hồng hại sắn khi nuôi trên các giống sắn khác nhau thì khác nhau (Bảng 3). Trong đó, thời gian tiền đẻ trứng của rệp dài nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (4,63 ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23 (4,43 ngày); giống sắn KM981 và KM94 tƣơng đƣơng nhau (4,13 ngày); ngắn nhất ở giống sắn KM419 (4,07 ngày). Tuy nhiên, xét về mặt ý nghĩa thống kê, sự sai khác về thời gian tiền đẻ trứng của rệp giữa các giống sắn có sự khác nhau. Trong đó, giữa các giống sắn KM444 và HL23 không có sự sai khác về mặt thống kê; cũng nhƣ giữa bốn giống sắn HL23, KM981, KM419 và KM94 sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Thời gian đẻ trứng của rệp cũng có sự khác nhau khi nuôi trên các giống sắn khác nhau. Cụ thể, thời gian đẻ trứng của rệp trên các giống sắn KM981, HL23, KM419, KM94 và KM444 lần lƣợt là 6,47; 6,7; 6,83; 7,27 và 7,07 ngày. Sự sai khác giữa các giống sắn KM981, KM419, KM444 và HL23; giữa các giống sắn HL23; KM419; KM94 và KM444 là không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Chỉ có sự sai khác giữa giống sắn KM94 và giống sắn KM981 là có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Khả năng đẻ trứng và sức đẻ trứngcủa rệp khi nuôi trên các giống sắn khác nhau có sự khác nhau (Bảng 3). Khả năng đẻ trứng của rệp cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (346,6 trứng/ trƣởng thành); tiếp đến là ở giống sắn KM94 (315,17 trứng/ trƣởng thành) và sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với các giống sắn còn lại. Trong đó, khả năng đẻ trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM419 và HL23 lần lƣợt là 244,63 và 216,73 trứng/trƣởng thành; và không sai khác nhau (P>0,05). Khả năng đẻ trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 là thấp nhất, chỉ đạt 163,87 trứng/trƣởng thành và sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Ở Thái Lan, nghiên cứu về sự sinh trƣởng và phát triển của rệp sáp bột hồng P. manihoti trên hai giống sắn UJ-5 và Adira-1 cho thấy số trứng trung bình một con cái đẻ ra là 386.37 trứng/trƣởng thành trên giống sắn UJ-5 và 318.67 trứng/trƣởng thành trên giống sắn Adira- 1 (Wardani et al., 2014). Điều đó một lần nữa khẳng định, thức ăn ảnh hƣởng mạnh mẽ đến khả năng sinh sản của rệp. Sức đẻ trứng của RSBHHS cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (trung bình 50,33 trứng/trƣởng thành/ngày); giảm dần ở giống sắn KM94 (48 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn KM419 (37,47 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn HL23 (33,97 trứng/trƣởng thành/ngày); và thấp nhất ở giống sắn KM981 (26,08 trứng/trƣởng thành/ngày). Tuy nhiên, xét về mặt thống kê thì ở các giống sắn KM444 và KM94 không có sự sai khác (P>0,05); tƣơng tự không có sự sai khác giữa hai giống sắn KM419 và HL23. Nhƣng so sánh tỷ lệ sinh sản của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 với các giống sắn khác thì thấp hơn và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) (Bảng 3). Nhƣ vậy, giống sắn KM444 và giống sắn KM94 là các thức ăn thích hợp cho RSBHHS sinh sản. Còn giống sắn KM981 là giống sắn không phù hợp cho sinh trƣởng và sinh sản của RSBHHS.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn (phenacoccus manihoti matile-ferrero) (homoptera: pseudococcidae) trên các giống sắn khác nhau, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 25 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ - Kết quả nghiên cứu trong hai năm tại Bắc Giang đã xác định đƣợc thời vụ trồng sớm nhiễm bệnh PVY nặng với tỷ lệ bệnh 66,1 - 100%, chỉ số bệnh 40,7 - 90,1% và năng suất tƣơi giảm trên 50 - 68,2%. Vụ muộn, bệnh gây hại nhẹ với tỷ lệ bệnh 19,5 - 21,5%, chỉ số bệnh 5,9 - 13,5% và năng suất tƣơi đạt 19,6 - 21,5 tấn/ha. - Để phòng trừ bệnh PVY hiệu quả, đảm bảo năng suất và chất lƣợng thuốc lá, các khu vực thƣờng xuyên nhiễm bệnh PVY có điều kiện tƣơng tự vùng Bắc Giang cần tập trung trồng thuốc lá ở thời vụ muộn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Chín, Nguyễn Hồng Thúy và Đỗ Thị Thúy, 2017. Nghiên cứu ảnh hƣởng của virus PVY (Potato virus Y) đến sinh trƣởng phát triển, năng suất và thành phần hóa học của cây thuốc lá ở phía Bắc Việt Nam. Tạp chí BVTV, số 5/2017, trang 34 –38. 2. Quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc lá vàng sấy theo tiêu chuẩn 10TCN 618 – 2005. 3. Phân cấp nguyên liệu thuốc lá theo tiêu chuẩn ngành TCN 26-1-02. 4. Chung, Bong Nam; Canto, Tomas; Tenllado, Francisco; Choi, Kyung San; Joa, Jae Ho; Ahn, Jeong Joon; Kim, Chun Hwan; Do, Ki Seck, 2016. The Effects of High Temperature on Infection by Potato virus Y, Potato virus A, and Potato leafroll virus. The Plant Pathology Journal, Vol. 32, Issue 4, 2016, pp.321-328. 5. Kennedy, J. S. Day and V. F. Eatop, 1962. A conspectus of aphids as vector of lpant virrus. Common wealth instutute of Entomology, London, 114pp. 6. Lucas, G. B. 1975. Disease of Tobacco. 3rd. ed. Biological Consulting Associates, Releigh, NC. 621 pp. 7. Latorre, B. A., Andrade, O., Penaloza, E., and Escaffi, O. 1982. A severe outbreak of potato virus Y in Chilean tobacco. Plant Dis. 66:893-895. 8. Latorra, B. A, Flores, V, Marholz, G. 1984. Effect of potato virus Y on growth, yield and chemical composition of flue cured tobacco in Chile. Plant disease 68:884-886. 9. Roger Hull, 2009, Mechanical Inoculation of Plant Viruses 10. Thomson và Wright, 1966. Incidence and some effects of potato virus Y on new zealand flue-cured tobacco. New Zealand Journal of Agricultural Research. 11. Sievert, R, C. 1978. Effect of potato virus Y and tobacco mosaic virus on field-grown burley tobacco. Phytopathology 68:823-825. 12. Van Enden, H, F and Harrington, R, 2007. Aphids as crop pest. CABI. United Kingdom. Phản biện: TS. Ngô Vĩnh Viễn MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA RỆP SÁP BỘT HỒNG HẠI SẮN (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) (Homoptera: Pseudococcidae) TRÊN CÁC GIỐNG SẮN KHÁC NHAU Biologycal Characteristics of The Cassava Pink Mealy Bug (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) (Homoptera: Pseudococcidae) on Different Cassava Varieties Hoàng Hữu Tình 1 , Trần Đăng Hòa 1 , Nguyễn Thị Giang 1 và Ngô Đắc Chứng 2 Ngày nhận bài: 25.8.2018 Ngày chấp nhận: 18.9.2018 Abstract The cassava pink mealybug (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) is an invasive sepcies and become a serious insect pests on cassava in Vietnam. However, the knowledge of biological characteristics of the cassava pink mealybugs on different cassava varieties are still limited. This research was conducted in the laboratory to determine some biological characteristics of the cassava pink mealybug on 5 cassava varieties such as KM94, KM981, KM444, KM419 and HL23 under conditions of 30 ± 0.5°C, 70 - 80% RH and a photoperiod of 12h light: 12h dark. The results showed that the developmental time, the survival rate of numph, the longevity and 1. Trƣờng Đại học Nông Lâm, Đại học Huế; 2. Trƣờng Đại học Sƣ Phạm, Đại học Huế. Tác giả liên hệ: Hoàng Hữu Tình. Email: hoanghuutinh@huaf.edu.vn Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 26 fecundity of the adult were dependent on the cassava varieties tested. The development time from egg to adult of the cassava pink mealybug was longer, the survival rate of numph was lower and the longevity was shorter when reared on KM981. The fecunvity of the adults on KM981 was lower than that on KM444, KM94, KM419 and HL23. This result indicated the variety KM891 was not a suitable food of the cassava pink mealybug. Keywords: Cassava variety, development time, fecundity, Phenacoccus manihoti, the cassava pink mealybug. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong 10 nƣớc có sản lƣợng và năng suất sắn lớn nhất trên thế giới (Tổng Cục thống kê, 2017) và hiện đã trở thành nƣớc xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan (FAOSTAT, 2018). Trong những năm qua cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lƣơng thực - thực phẩm thành cây công nghiệp (Nguyễn Thị Trúc Mai, 2017). Tuy nhiên, cây sắn đang bị nhiều loại sâu bệnh hại gây ảnh hƣởng lớn đến sinh trƣởng, phát triển và năng suất. Một trong những đối tƣợng sinh vật hại nguy hiểm là loài rệp sáp bột hồng hại sắn (RSBHHS) (Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero) (Phạm Văn Lầm, Ngô Tiến Dũng, 2011). RSBHHS là đối tƣợng sâu hại mới xâm nhập vào Việt Nam nhƣng những thiệt hại chúng gây ra đối với sản xuất sắn ở nƣớc ta là rất nghiêm trọng. Đã có một số nghiên cứu về ảnh hƣởng của các giống sắn đến sinh trƣởng và phát triển của RSBHHS trên thế giới. Các nghiên cứu này cho thấy thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót, khả năng đẻ trứng và tỷ lệ sinh sản của RSBHHS ở các giống sắn khác nhau thì khác nhau (Soysouvanh et al., 2013; Wardani et al., 2014). Việc tìm ra đƣợc giống sắn có khả năng chống chịu đối với RSBHHS nhằm giảm thiểu những thiệt hại do chúng gây ra trong sản xuất sắn ở nƣớc ta là điều rất cần thiết. Bài báo này cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hƣởng của các giống sắn KM94, KM419, KM981, KM444 và HL23 đến đặc điểm sinh học của RSBHHS ở trong phòng thí nghiệm, làm cơ sở cho việc xác định và sử dụng giống sắn có tính chống chịu rệp ngoài đồng ruộng. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu Rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus manihoti Matile–Ferrero (Homoptera: Pseudococcidae) (Matile-Ferrero, 1977). Các giống sắn KM981, KM444, KM419 là các giống sắn triễn vọng của bộ giống sắn khảo nghiệm quốc gia và giống đã đƣợc trồng phổ biến là KM94 và HL23. 2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu * Phương pháp thu thập và nhân nuôi quần thể rệp sáp bột hồng hại sắn Thu thập RSBHHS trên các ruộng sắn ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị bằng cách dùng kéo cắt lá, thân, ngọn sắn có RSBHHS đem về phòng thí nghiệm để tạo nguồn rệp thí nghiệm. Nhân nuôi quần RSBHHS bằng giống sắn KM94 (là giống sắn bị RSBHHS gây hại rất phổ biến trong sản xuất hiện nay). Giâm hom sắn vào chậu nhựa (15 cm x 20 cm x 20 cm). Sau khi cây sắn mọc đƣợc 4 - 5 tuần thì cho chậu có cây sắn vào trong lồng nuôi sâu (40 cm x 50 cm x 60 cm). Sau đó lây nhiễm rệp lên cây trong lồng để nhân nuôi quần thể rệp làm thí nghiệm. Lồng nuôi rệp đƣợc đặt trong phòng thí nghiệm với điều kiện nhiệt độ 30 ± 0,5°C, độ ẩm 70 - 80%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Đảm bảo cây sắn đƣợc tƣới đủ ẩm để sinh trƣởng phát triển bình thƣờng. Khi cây sắn chuẩn bị héo do rệp gây hại, tiến hành thay cây sắn mới để cung cấp thức ăn cho rệp. Sử dụng rệp sau nuôi 4 - 5 thế hệ làm thí nghiệm. * Phương pháp nghiên cứu thời gian phát dục, tỷ lệ sống sót của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các giống sắn khác nhau Cây sắn của các giống sắn dùng làm thức ăn thí nghiệm đƣợc chuẩn bị tƣơng tự nhƣ cây sắn nuôi quần thể rệp ban đầu ở trên. Số lƣợng cây của mỗi giống sắn đƣợc chuẩn bị liên tục để đảm bảo đủ làm thức ăn nuôi rệp trong suốt quá trình thí nghiệm. Khi cây có chồi dài trên 6 cm thì sử dụng làm thí nghiệm. Mỗi giống sắn KM94, KM419, KM981, KM444, HL23 chuẩn bị 10 ngọn dài khoảng 6 - 7 cm, rửa sạch và để khô ráo. Tiến hành nhiễm ổ trứng mới đẻ lên 1 ngọn sắn, đặt ngọn sắn đã lây nhiễm vào trong hộp nhựa (10 cm x 8 cm x 5 cm). Đục một lổ (1 cm x 2 cm) trên nắp hộp và bịt lƣới thông khí. Theo dõi trứng nở để xác định thời gian pha trứng. Cho 1 rệp non mới nở (nuôi cá thể) vào mỗi hộp nhựa (10 cm x 8 cm x 5 cm) có 1 đọt sắn. Đặt các hộp nuôi lên khay có chứa nƣớc để chống kiến và chống rệp non bò ra ngoài. Rệp đƣợc nuôi ở điều kiện nhiệt độ 30±0,5°C, độ ẩm 70 - 80%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 27 tối. Hằng ngày thay thức ăn và theo dõi rệp non lột xác và sự sống sót của rệp non qua các tuổi cho đến khi rệp hóa trƣởng thành (Barilli et al., 2014; Wardani et al., 2014; Trần Đăng Hòa và Nguyễn Thị Giang, 2014). Thí nghiệm đƣợc lặp lại ba lần. Tổng số rệp theo dõi là 30 rệp non/giống sắn. * Phƣơng pháp nghiên cứu khả năng sinh sản của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các giống sắn khác nhau Mỗi giống sắn chuẩn bị 10 ngọn sắn dài khoảng 6 - 7 cm và dùng giấy thấm ƣớt quấn quanh phần phía dƣới của ngọn sắn để giữ ẩm. Thả một rệp vừa hóa trƣởng thành lên 1 ngọn sắn rồi dặt ngọn sắn đã nhiễm rệp vào hộp thí nghiệm (10 cm x 8 cm x 5 cm). Đục một lổ (1 cm x 2 cm) trên nắp hộp và bịt lƣới thông khí. Rệp trƣởng thành đƣợc nuôi ở điều kiện nhiệt độ 30 ± 0,5°C, độ ẩm 70 - 80%, chế độ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Bổ sung thêm ngọn sắn tƣơi làm thức ăn nếu ngọn sắn héo. Tiến hành theo dõi hằng ngày cho đến khi rệp đẻ trứng lần đầu tiên. Khi rệp đẻ trứng, dùng chổi lông quét nhẹ lớp trứng của rệp, lấy ổ trứng và đếm số lƣợng trứng ở mỗi ổ trứng bằng kính lúp soi nổi. Tiến hành theo dõi hằng ngày đến khi rệp trƣởng thành chết. Theo dõi thời gian tiền đẻ trứng, thời gian đẻ trứng, tỷ lệ đẻ trứng, khả năng đẻ trứng và thời gian hậu đẻ trứng, số trứng đẻ qua từng ngày và thời gian sống, tỷ lệ sống của rệp trƣởng thành (Barilli et al., 2014; Wardani et al., 2014). Thí nghiệm đƣợc lặp lại ba lần. Tổng số rệp theo dõi là 30 rệp trƣởng thành/giống sắn. 2.3 Phƣơng pháp xử lý số liệu Các số liệu trung bình, sai số chuẩn đƣợc xử lý bằng phần mềm Mcrosoft Excel 2010. Trung bình các chỉ tiêu theo dõi đƣợc so sánh bằng phƣơng pháp phân tích phƣơng sai một nhân tố (One - Way ANOVA), sau đó so sánh LSD bằng phần mềm Statistix 9.0. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hƣởng của giống sắn đến thời gian phát dục của RSBHHS Phenacoccus manihoti Kết quả đánh giá ảnh hƣởng của các giống sắn đến thời gian phát dục của RSBHHS đƣợc trình bày trong bảng 1. Bảng 1. Thời gian phát dục (ngày; TB ± SE) của rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus manihoti ở các giống sắn khác nhau Giai đoạn phát dục Giống sắn LSD0,05 KM981 HL23 KM419 KM94 KM444 Trứng 9,13 a ±0,29 8,37 b ±0,25 8,10 bc ±0,29 7,13 d ±0,15 7,50 cd ±0,21 0,644 Rệp non Tuổi 1 7,40 a ±0,27 7,43 a ±0,16 7,20 a ±0,18 7,13 a ±0,12 6,60 b ±0,16 0,495 Tuổi 2 6,37 ab ±0,19 6,50 a ±0,18 5,97 bc ±0,12 6,23 ab ±0,09 5,70 c ±0,15 0,422 Tuổi 3 5,30 ab ±0,15 5,17 ab ±0,17 4,97 b ±0,12 5,37 a ±0,09 5,33 ab ±0,21 0,386 Cả pha rệp non 19,07 a ±0,40 19,10 a ±0,30 18,13 bc ±0,27 18,73 ab ±0,22 17,63 c ±0,33 0,827 Trứng-TT 28,20 a ±0,60 27,47 a ±0,35 26,23 b ±0,47 25,87 b ±0,24 25,13 b ±0,43 1,167 Ghi chú: TB- Trung bình; SE- Sai số chuẩn; TT- Trưởng thành; Trung bình có các chữ cái khác nhau trên c ng m t hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Điều kiện nhiệt đ 30±0,5°C, đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Kết quả bảng 1 cho thấy, thời gian phát dục giai đoạn trứng của RSBHHS dài nhất khi nuôi trên giống sắn KM981 (9,13 ngày); ngắn nhất ở giống sắn KM94 (7,13 ngày) và sai khác này có ý nghĩa thống kê so với khi nuôi trên các giống sắn còn lại (P<0,05); dài trung bình khi nuôi trên các giống sắn HL23 (8,37 ngày); KM419 (8,1 ngày); KM444 (7,5 ngày). Trong đó, sự sai khác về thời gian phát dục pha trứng của rệp khi nuôi giữa các giống sắn HL23 và KM419; KM419 và KM444 không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Thời gian phát dục của rệp non tuổi 1 ngắn nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (6,6 ngày) và sai khác này có ý nghĩa thống kê so với khi nuôi trên các giống sắn còn lại (P<0,05). Khi nuôi trên các giống sắn khác thì sự sai khác về thời gian phát dục của rệp non tuổi 1 là không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Trong đó, khi nuôi trên các giống sắn KM981; HL23; KM419 và KM94 thời gian phát dục của rệp tuổi 1 lần lƣợt là: 7,4; 7,43; 7,2 và 7,13 ngày. Thời gian phát dục của rệp non tuổi 2 khi nuôi trên các giống sắn KM981, HL23, KM419, KM94 và KM444 lần lƣợt là: 6,37; 6,5; 5,97; 6,23 và 5,7 ngày. Trong đó, Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 28 thời gian phát dục của rệp non tuổi 2 ở giống sắn KM444 là 5,7 ngày ngắn hơn và sai khác này có ý nghĩa thống kê so với khi nuôi trên các giống sắn KM981; HL23 và KM444 (P<0,05). Bên cạnh đó, sự sai khác về thời gian phát dục của rệp non tuổi 2 khi nuôi giữa các giống sắn HL23 và KM981, KM419 và KM94 không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Thời gian phát dục của rệp non tuổi 3 khi nuôi trên hai giống sắn KM419 và KM94 có sự khác biệt (P<0,05). Trong đó, thời gian phát dục của rệp non tuổi 3 khi nuôi trên giống sắn KM419 (4,97 ngày) ngắn hơn khi nuôi trên giống sắn KM94 (5,37 ngày). Nhƣng so sánh hai giống sắn này với các giống sắn HL23 (5,17 ngày); KM981 (5,3 ngày); KM444 (5,33 ngày) thì sai khác không có ý nghĩa (P<0,05). Thời gian phát dục của rệp non khi nuôi trên các giống sắn KM981; HL23; KM419; KM94 và KM444 lần lƣợt là: 19,07; 19,10; 18,13; 18,73 và 17,63 ngày. Trong đó, thời gian phát dục của rệp non khi nuôi trên hai giống sắn KM981 và HL23 tƣơng đƣơng nhau và sai khác so với khi nuôi trên hai giống sắn KM419 và KM444 (P<0,05). Nhƣng so sánh giữa các giống sắn còn lại thì sai khác không có ý nghĩa (P>0,05). Từ trứng đến trƣởng thành, thời gian phát dục của rệp dài hơn khi nuôi trên giống KM981 (28,2 ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23 (27,47 ngày) và sai khác có ý nghĩa so với ba giống sắn còn lại (KM419, KM94 và KM444). Khi nuôi trên các giống sắn KM419, KM94 và KM444 thời gian phát dục từ trứng đến trƣởng thành không sai khác về mặt thống kê (P<0,05); lần lƣợt là 26,23; 25,87 và 25,13 ngày. Kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở Thái Lan về sự sinh trƣởng và phát triển của rệp sáp bột hồng, P. manihoti trên hai giống sắn: UJ-5 và Adira-1 cũng cho thấy giống sắn ảnh hƣởng đến thời gian phát dục của rệp, trong đó thời gian phát dục của trứng là 7,93 ± 0,09 và 8,33 ± 0,11 ngày, thời gian của rệp non qua các tuổi là 12,32 ± 0,13 và 15,67 ± 0,13 ngày tƣơng ứng trên giống UJ-5 và giống Adira-1 (Wardani et al., 2014). 3.2 Ảnh hƣởng của giống sắn đến khả năng sống sót của RSBHHS Phenacoccus manihoti Thức ăn không chỉ ảnh hƣởng đến thời gian phát dục mà còn ảnh hƣởng đến tỷ lệ sống sót của RSBHHSqua các tuổi. Nếu thức ăn thích hợp cho sự sinh trƣởng phát triển của rệp thì khả năng sống sót của rệp cao hơn, ngƣợc lại nếu thức ăn không thích hợp thì tỷ lệ sống sót của rệp sẽ giảm. Bảng 2 cho thấy tỷ lệ sống sót của rệp non RSBHHS khi nuôi trên giống sắn khác nhau là khác nhau. Tỷ lệ sống sót của rệp non tuổi 1 khi nuôi trên giống sắn KM444 là cao nhất (90%), giảm dần ở các giống sắn KM94 (80%), HL23 (80%), KM981 (76,67%), KM419 (76,67%). Tỷ lệ sống sót của rệp tuổi 2 ở các giống sắn cũng khác nhau, trong đó cao nhất ở giống sắn KM444 (80%), thấp dần ở các giống sắn KM94 (73,33 %), HL23 (66,67%), KM419 (66,67%) và thấp nhất ở giống sắn KM981 (63,33%). Đến tuổi 3, khả năng sống sót của rệp dao động từ 53% đến 70%. Tỷ lệ sống sót của rệp tuổi 3 cao nhất ở giống sắn KM444 (70%), tiếp đến là ở các giống sắn KM94 (66,67%); KM419 (60%); HL23 (60%) và thấp nhất ở giống sắn KM981 (53,33%). Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống sót của rệp non RSBHHS ở giống sắn KM981 và HL23 thấp hơn so với các giống sắn còn lại. Kết quả này chứng tỏ các giống sắn này không phải là thức ăn phù hợp với sự sinh trƣởng và phát triển của rệp. Ngƣợc lại, trên giống sắn KM444 và KM94, rệp có tỷ lệ sống sót cao hơn, chứng tỏ các giống săn này là thức ăn phù hợp để rệp sinh sống. Bảng 2. Tỷ lệ sống sót (%) của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các giống sắn Giai đoạn phát dục Giống sắn KM981 HL23 KM419 KM94 KM444 Rệp non tuổi 1 76,67 (23) 80,00 (24) 76,67 (23) 80,00 (24) 90,00 (27) Rệp non tuổi 2 63,33 (19) 66,67 (20) 66,67 (20) 73,33 (22) 80,00 (24) Rệp non tuổi 3 53,33 (16) 60,00 (18) 60,00 (18) 66,67 (20) 70,00 (21) N 30 30 30 30 30 Ghi chú: Giá trị trong ngoặc đơn là số cá thể rệp còn sống ở tuổi tương ứng; N: là số lượng cá thể rệp ban đầu. Điều kiện nhiệt đ 30 ± 0,5°C, đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 29 3.3 Ảnh hƣởng của giống sắn đến thời gian sống và khả năng sinh sản của RSBHHS Phenacoccus manihoti Bảng 3 cho thấy thời gian sống của trƣởng thành RSBHHSkhi nuôi trên các giống sắn khác nhau thì khác nhau. Thời gian sống của rệp trƣởng thành cao nhất ở giống sắn KM444 (11,7 ngày) và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê so với các giống sắn KM981 (10,6 ngày) và KM419 (10,9 ngày) (P<0,05), nhƣng không sai khác so với các giống sắn KM94 (11,4 ngày) và HL23 (11,13 ngày) (P>0,05). Thời gian sống của rệp trƣởng thành khi nuôi trên các giống sắn KM94, HL23 và KM419 không có sự sai khác về ý nghĩa thống kê (P>0,05). Bảng 3. Thời gian sống và khả năng sinh sản của rệp sáp bột hồng hại sắn trên các giống sắn (TB±SE) Chỉ tiêu theo dõi Giống sắn LSD0,05 KM981 HL23 KM419 KM94 KM444 Thời gian sống (ngày) 10,60 c ±0,19 11,13 abc ±0,23 10,90 bc ±0,22 11,40 ab ±0,38 11,70 a ±0,29 0,75 Thời gian tiền đẻ trứng (ngày) 4,13 b ±0,12 4,43 ab ±0,16 4,07 b ±0,18 4,13 b ±0,16 4,63 a ±0,17 0,46 Thời gian đẻ trứng (ngày) 6,47 b ±0,20 6,70 ab ±0,25 6,83 ab ±0,25 7,27 a ±0,42 7,07 ab ±0,29 0,79 Khả năng đẻ trứng (trứng/trƣởng thành) 163,87 c ±7,37 216,73 b ±12,24 244,63 b ±8,88 315,17 a ±19,88 346,6 a ±13,67 37,02 Sức đẻ trứng(trứng/trƣởng thành/ngày) 26,08 c ±1,52 33,97 b ±2,62 37,47 b ±2,37 48,00 a ±4,16 50,33 a ±2,12 7,30 Ghi chú: TB - Trung bình; SE - Sai số chuẩn; Trung bình có các chữ cái khác nhau trên c ng m t hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) khi ph n tích phương sai m t nh n tố (One – way ANOVA). Điều kiện nhiệt đ 30 ± 0,5°C, đ ẩm 70 - 80%, chế đ chiếu sáng 12 giờ sáng: 12 giờ tối. Thời gian tiền đẻ trứng của rệp sáp bột hồng hại sắn khi nuôi trên các giống sắn khác nhau thì khác nhau (Bảng 3). Trong đó, thời gian tiền đẻ trứng của rệp dài nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (4,63 ngày); ngắn hơn ở giống sắn HL23 (4,43 ngày); giống sắn KM981 và KM94 tƣơng đƣơng nhau (4,13 ngày); ngắn nhất ở giống sắn KM419 (4,07 ngày). Tuy nhiên, xét về mặt ý nghĩa thống kê, sự sai khác về thời gian tiền đẻ trứng của rệp giữa các giống sắn có sự khác nhau. Trong đó, giữa các giống sắn KM444 và HL23 không có sự sai khác về mặt thống kê; cũng nhƣ giữa bốn giống sắn HL23, KM981, KM419 và KM94 sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Thời gian đẻ trứng của rệp cũng có sự khác nhau khi nuôi trên các giống sắn khác nhau. Cụ thể, thời gian đẻ trứng của rệp trên các giống sắn KM981, HL23, KM419, KM94 và KM444 lần lƣợt là 6,47; 6,7; 6,83; 7,27 và 7,07 ngày. Sự sai khác giữa các giống sắn KM981, KM419, KM444 và HL23; giữa các giống sắn HL23; KM419; KM94 và KM444 là không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Chỉ có sự sai khác giữa giống sắn KM94 và giống sắn KM981 là có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Khả năng đẻ trứng và sức đẻ trứngcủa rệp khi nuôi trên các giống sắn khác nhau có sự khác nhau (Bảng 3). Khả năng đẻ trứng của rệp cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (346,6 trứng/ trƣởng thành); tiếp đến là ở giống sắn KM94 (315,17 trứng/ trƣởng thành) và sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với các giống sắn còn lại. Trong đó, khả năng đẻ trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM419 và HL23 lần lƣợt là 244,63 và 216,73 trứng/trƣởng thành; và không sai khác nhau (P>0,05). Khả năng đẻ trứng của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 là thấp nhất, chỉ đạt 163,87 trứng/trƣởng thành và sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Ở Thái Lan, nghiên cứu về sự sinh trƣởng và phát Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 30 triển của rệp sáp bột hồng P. manihoti trên hai giống sắn UJ-5 và Adira-1 cho thấy số trứng trung bình một con cái đẻ ra là 386.37 trứng/trƣởng thành trên giống sắn UJ-5 và 318.67 trứng/trƣởng thành trên giống sắn Adira- 1 (Wardani et al., 2014). Điều đó một lần nữa khẳng định, thức ăn ảnh hƣởng mạnh mẽ đến khả năng sinh sản của rệp. Sức đẻ trứng của RSBHHS cao nhất khi nuôi trên giống sắn KM444 (trung bình 50,33 trứng/trƣởng thành/ngày); giảm dần ở giống sắn KM94 (48 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn KM419 (37,47 trứng/trƣởng thành/ngày); giống sắn HL23 (33,97 trứng/trƣởng thành/ngày); và thấp nhất ở giống sắn KM981 (26,08 trứng/trƣởng thành/ngày). Tuy nhiên, xét về mặt thống kê thì ở các giống sắn KM444 và KM94 không có sự sai khác (P>0,05); tƣơng tự không có sự sai khác giữa hai giống sắn KM419 và HL23. Nhƣng so sánh tỷ lệ sinh sản của rệp khi nuôi trên giống sắn KM981 với các giống sắn khác thì thấp hơn và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) (Bảng 3). Nhƣ vậy, giống sắn KM444 và giống sắn KM94 là các thức ăn thích hợp cho RSBHHS sinh sản. Còn giống sắn KM981 là giống sắn không phù hợp cho sinh trƣởng và sinh sản của RSBHHS. 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kết luận - Thời gian phát dục, tỷ lệ sống của các tuổi rệp non, thời gian sống, khả năng đẻ trứng của trƣởng thành RSBHHS phụ thuộc vào thức ăn là các giống sắn. - Thời gian phát dục từ trứng đến trƣởng thành của rệp sáp bột hồng hại sắn dài hơn, tỷ lệ sống của rệp non thấp hơn, thời gian sống của trƣởng thành ngắn hơn và khả năng sinh sản của RSBHHS thấp hơn khi nuôi trên giống KM981 so với khi nuôi trên các giống KM444, KM94, KM419 và HL23. Kết quả này chứng tỏ giống sắn KM891 là thức ăn không phù hợp cho rệp sáp bột hồng hại sắn. 4.2 Kiến nghị - Tiến hành khảo nghiệm để đánh giá tính chống chịu rệp sáp bột hồng hại sắn trong điều kiện nhà lƣới và trên đồng ruộng cũng nhƣ khả năng thích nghi của giống KM891 để phục vụ sản xuất tại địa phƣơng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Barilli R. D., Piettrowski V., Wengrat P. G., Gazola D., Ringenberg R., 2014. Biological characteristics of the cassava mealybug Phenacoccus manihoti (Hemiptera: Pseudococcidae). Revista Colombiana de Entomología 40(1): 21-24. 2. FAOSTAT, 2018. Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn trên Thế giới và ở Việt Nam. Trang web: Truy cập ngày 31/01/2018. 3. Phạm Văn Lầm, Ngô Tiến Dũng, 2011. Rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti Mat-Ferr- một sinh vật ngoại lai nguy hiểm gây hại cây sắn, Tạp chí Bảo vệ thực vật, 3/2011, 32-34. 4. Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang, 2014. Một số đặc điểm sinh học của rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacocus manihoti Matile-Ferrero (Homoptera: Pseudococcidae). Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số 6 (257)/2014: 26 – 30 5. Nguyễn Thị Trúc Mai, 2017. Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn năng suất tinh b t cao và k thuật th m canh tại tỉnh Phú Yên. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. 6. Matile-Ferrero D., 1977. A new scale-insect injurious to cassava in Equatorial Africa, Phenacoccus manihoti sp.n. (Homoptera, Coccoidea, Pseudococcidae). Annales de la Societe Entomologique de France 13(1): 145-152. 7. Soysouvanh P., Siri N., Jamjanya T., 2013. Comparison on infestation levels of pink mealybug, Phenacoccus manihoti (Homoptera: Pseudococcidae) on four cassava varieties. Khon Kaen Agr. J., 41 (4): 517-520. 8. Tổng cục Thống kê, 2017. Niên giám thống kê năm 2016. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. 435-486. 9. Wardani N., Rauf A., Winasa I.W., Santoso S., 2014. The life history and population growth parameters of mealybug Phenacoccus manihoti Matile- Ferrero (Hemiptera: Pseudococcidae) on two cassava varieties. Journal HPT Tropika. 14 (1): 64-70. Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_dac_diem_sinh_hoc_cua_rep_sap_bot_hong_hai_san_phenac.pdf
Tài liệu liên quan