Số liệu bảng 4 cho thấy những cá thể nuôi từ
phòng thí nghiệm có tỷ lệ giới tính nghiêng về
tính đực (1,1 đực: 1,0 cái). Còn đối với những cá
thể thu từ ngoài đồng, tỷ lệ giới tính lại nghiêng
về tính cái (0,86 đực: 1,0 cái ở tháng 8 và 0,81
đực: 1,0 cái ở tháng 9).
Sâu xanh cũng như nhiều loài côn trùng khác
thuộc bộ cánh vảy có phương thức sinh sản hữu
tính, nếu không có sự giao phối thụ tinh thì trứng
sẽ không thể hình thành phôi. Những loài này
thường có tỷ lệ giới tính khá cân đối.
4. KẾT LUẬN
Ở điều kiện nhiệt, ẩm độ trung bình 30,1 ±
1,5ºC và 79,4 ± 5,3%, sâu xanh được nuôi bằng
lá cây ngô có thời gian phát dục của trứng, sâu
non, nhộng và thời gian tiền đẻ trứng tương ứng
là 2,43; 22,3; 10,79 và 2,45 ngày. Thời gian vòng
đời dao động khoảng 32 – 41 ngày, trung bình
35,54 ± 3,28 ngày. Khi được ăn thêm dung dịch
mật ong 10%, trưởng thành cái sống trung bình
8,9 ngày, sức đẻ trứng 427,55 trứng/cái. Tỷ lệ
trứng nở tương đối thấp, đạt 67,3%. Tỷ lệ giới
tính nghiêng về tính đực (1,1đực: 1,0 cái) đối với
những cá thể nuôi từ phòng thí nghiệm và tỷ lệ
này nghiêng về tính cái đối với những cá thể thu
từ ngoài đồng (0,83 đực: 1,0 cái).
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm sinh học của sâu xanh helicoverpa armigera (hubner) (lepidoptera: noctuidae) nuôi bằng lá ngô, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
37
ngày sau xử lý. Chọn được ba chủng nấm
Pae6(Pl-TG), Pae7(Cj-CT) và Pae8(Pl-CT) cho
hiệu quả cao, đạt tới 91,47; 92,36 và 93,25%
(tương ứng) sau 11 ngày phun.
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, sử dụng
liều lượng chế phẩm 3,0 kg và 3,5 kg/ha cho hiệu
quả gây chết rệp sáp lần lượt là 90,14 và 91,10%
và trong điều kiện nhà lưới hiệu quả đạt 78,72 và
80,76% sau 11 ngày phun nấm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ben-Dov, Y., Miller, D.R., and Gibson, G.A.H.,
2010. ScaleNet, A Systematic Database of the Scale
Insects of the World.
2. CABI, 2002. Crop protection Compennium.
Global module
3. Faria, M. and S.P. Wraight, 2001. Biological
control of Bemisia tabaci with fungi. Journal of Crop
Protection, 20: 767-778.
4. Kunimi, Y., 2005. Current status and prospects
on the use of insect pathogens as biocontrol agents.
Japan JournalAgrochemicals 86: 2-6.
5. Luangsa-Ard, J. J., Hywel-Jones, N. L.,
Manoch, L., Samson, R. A., 2005. On the
relationships of Paecilomyces sect. Isarioidea
species. Mycological Research 109 (5): 581-589.
6. Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015. Côn trùng, nhện gây hại
cây ăn trái tại Việt Nam và thiên địch. NXB Đại Học Cần Thơ.
7. Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Ngọc Anh Thư,
Huỳnh Ngọc Hài, Đặng Thùy Linh và Trần Thị Mỹ
Hạnh, 2012. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng chế
phẩm nấm ký sinh Sofri- Paecilomyces đối với rệp sáp
phấn gây hại trên dứa, bệnh héo khô đầu lá dứa và
tuyến trùng trên ổi. Diễn đàn khuyến nông @ Nông
Nghiệp. Chuyên đề ứng dụng một số sản phẩm hữu
cơ sinh học trong trồng trọt. 17/9/2012. Cần Thơ.
8. Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011. Côn
trùng gây hại cây trồng. NXB nông nghiệp TP.
9. Shimazu, M. and Takatsuka, J., 2010. Isaria
javanica (anamorphic Cordycipitaceae) isolated from
gypsy moth larvae, Lymantria dispar (Lepidoptera:
Lymantriidae), in Japan. Applied Entomology and
Zoology 45 (3): 497-504. HCM.
10. Trần Ngọc Lân, 2007. Đa dạng sinh học nấm
ký sinh côn trùng ỏ Vườn Quốc gia Pù Mát và đánh giá
khả năng ký sinh của một số loài nấm đối với một số
loài sâu hại cây trồng. Đề tài cấp bộ Giáo dục và Đào
tạo, trang 1-54.
11. Trần Thị Tho, Trần Văn Hai và Trịnh Thị Xuân ,
2014. Khảo sát đặc tính sinh học của các chủng nấm
tím Paecilomyces javanicus ký sinh Rệp sáp giả tại
Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường
Đại học Cần Thơ (4): 105-112.
12. Trần Văn Mão, 2004. Sử dụng côn trùng và vi
sinh vật có ích. Tập II. Sử dụng vi sinh vật có ích. Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.
13. Yeo, H., J.K. Pell, P.G. Alderson, S.J. Clark and
B.J. Pye, 2003. Laboratory evaluation of temperature
effects on the germination and growth of
entomopathogenic fungi and on their pathogenicity to two
aphid species. Pest Management Science, 59:156-165.
Phản biện: PGS.TS. Lê Văn Trịnh
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÂU XANH Helicoverpa armigera (Hübner)
(Lepidoptera: Noctuidae) NUÔI BẰNG LÁ NGÔ
Some Biological Characteristics of the Ear Worm, Helicoverpa armigera (Hübner)
(Lepidoptera: Noctuidae) Rearing by Corn Leaf
Hatsada Virachack, Hồ Thị Thu Giang và Đặng Thị Dung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA)
Ngày gửi bài: 02.01.2018 Ngày chấp nhận: 17.2.2018
Abstract
Corn is the second most important food crop after rice. But like other crops, maize is damaged by many pests.
Ear Worm, Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) is one of the important pests on maize. In
order to prevent pests from being economically and environmentally effectively, the research in biological and
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
38
ecological research is essential. The life cycle of H. armigera was 35.54 ± 3.28 days on average of temperature
and humidity at 30.1 ± 1.5
o
C and 79.4 ± 5.3% with photoperiod of 14L: 10D condition. Adult longevity average is
about 8.9 days. Oviposition capacity about 427.55 eggs/female. The percentage of hatching eggs average about
67.3% in condition of temperature and humidity are 30.11 – 31.14
o
C and 76.28-82.6%. Sex ratio is bias to male
from those reared in the laboratory (1.1 male: 1.0 female) and bias to female from those collected in the field
(0.83 male: 1.0 female).
Keywords: life cycle, oviposition capacity, egg hatching, sex ratio.
1. MỞ ĐẦU
Ngô (Zea Mays) có nguồn gốc ở vùng
Andean thuộc Trung Mỹ. Ngô là một trong những
cây lương thực quan trọng đối với con người và
động vật nuôi. Trên thế giới, ngô là cây lương
thực đứng thứ 3 sau lúa và lúa mì, nó được sản
xuất để sử dụng tươi và chế biến (Đinh Thế Lộc
và cs., 1997). Trong sản xuất, người nông dân
phải đối phó với nhiều loài sâu hại, trong đó có
sâu xanh Helicoverpa armigera (Hübner). Sâu
xanh H. armigera là loài sâu đa thực, chúng sử
dụng trên 181 loại cây trồng và cây dại thuộc 45
họ thực vật làm thức ăn (Manjunath et al., 1989;
Venette et al., 2003). Fitt (1989) cũng khẳng định
rằng sâu xanh H. armigera là loài sâu hại chính
trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nơi trên trái đất.
H. armigera được công bố là nguyên nhân chính
làm giảm năng suất cây trồng, đặc biệt trên cà
chua, ngô và bông (Lammers and MacLeod,
2007). Trên cây ngô, sâu xanh gây hại trong suốt
quá trình sinh trưởng sinh thực (sâu ăn lá, bông
cờ, râu, bắp). Ở Việt Nam và Lào, hầu như chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ
thống về sâu xanh H. armigera hại ngô. Đó là lý
do chúng tôi đề cập đến sâu xanh trong bài viết
này với mong muốn quản lý loài sâu nguy hiểm
này một cách hiệu quả, không chỉ về kinh tế mà
cả môi trường.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
White sweet corn (hay Silver Queen) là giống ngô
lai trồng phổ biến vào mùa mưa ở Lào được sử dụng
làm thức ăn nuôi sâu xanh trong nghiên cứu này.
Sâu xanh H. armigera được thu thập trên
đồng ruộng ở giai đoạn sâu non tuổi cuối trên
các cây trồng là ký chủ đem về phòng nuôi tiếp
để thu trưởng thành. Quan sát nhộng để xác định
giới tính. Khi nhộng vũ hoá, tiến hành cho ghép
đôi (1 đực, 1 cái) trong lồng lưới côn trùng (kích
thước: dài 50 x rộng 40 x cao 50 cm). Trong lồng
lưới được đặt 1 khay có cây ngô non 2-5 lá làm
giá thể để trưởng thành đẻ trứng. Thức ăn thêm
cho trưởng thành sâu xanh là dung dịch mật ong
10%. Hàng ngày quan sát thay cây ngô mới để
thu trứng.
Sâu non mới nở từ trứng được chuyển vào
khay có cây ngô non 2-5 lá rồi đặt trong lồng
lưới, theo dõi, thay thức ăn và làm vệ sinh dụng
cụ nuôi lúc cần thiết để sâu phát triển tốt. Công
việc được thực hiện liên tục cho đến khi sâu non
đẫy sức chuẩn bị hóa nhộng.
Thu những sâu non tiền nhộng cho vào hộp
mica hình trụ (đường kính 8 × cao 8 cm) trong có
lớp đất dày khoảng 5-6 cm. Độ ẩm đất duy trì 28-
30% để sâu chui xuống hóa nhộng. Mỗi hộp cho
tối đa 5 cá thể. Khi nhộng hóa trưởng thành, thu
trưởng thành cho vào lồng lưới để thu trứng.
Công việc được thực hiện liên tục trong suốt quá
trình nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học, sinh thái
của sâu xanh H. armigera.
- Nghiên cứu thời gian phát dục các pha của
sâu xanh H. armigera
+ Pha trứng: Thu những trứng được đẻ cùng
ngày cho vào đĩa petri có lót giấy giữ ẩm, ghi rõ
các thông tin và ngày trứng được đẻ ra. Mối đĩa
petri đặt 10 trứng. Bố trí theo dõi trứng trong 10
đĩa petri. Tổng số trứng theo dõi là 100 trứng.
+ Pha sâu non: Sử dụng phương pháp nuôi cá
thể. Những cá thể sâu non nở cùng ngày được nuôi
riêng rẽ trong từng hộp mica hình trụ (đường kính 5
× cao 5 cm). Đánh số thứ tự để theo dõi thời gian
phát dục của từng cá thể. Số cá thể theo dõi từ tuổi
1 là 50 sâu non, các tuổi tiếp theo tùy theo số cá thể
còn sống sót. Nếu số sâu non các tuổi tiếp theo còn
dưới 30 cá thể thì bổ sung từ nguồn nhân nuôi để
đạt đủ 30 cá thể. Thức ăn cho sâu non là lá cây ngô
non (4-6 lá) được trồng trên các khay lớn (kích
thước: dài 50 x rộng 30 x cao 3 cm). Trên mặt khay
rải một lớp giấy ẩm, gieo ngô lên lớp giấy ẩm đó.
Sau đó rải một lớp giấy ẩm khác lên trên, tưới ẩm
thường xuyên. Hàng ngày, lấy lá làm thức ăn cho
sâu non, quan sát sự lột xác chuyển tuổi của từng cá
thể cho đến tuổi cuối chuẩn bị hóa nhộng.
+ Pha nhộng: Những cá thể mới vào nhộng
được cho riêng rẽ vào từng hộp mica hình trụ
(đường kính 8 × cao 8 cm) trong có lớp đất dày
khoảng 5-6 cm. Độ ẩm đất duy trì 28-30%. Ghi
chép ngày vào nhộng, ngày vũ hóa trưởng thành
để xác định thời gian phát dục của nhộng. Số cá
thể theo dõi là 30 nhộng.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
39
+ Pha trưởng thành: Những cá thể trưởng
thành vũ hóa cùng ngày cho ghép đôi (1 đực, 1
cái) trong lồng nuôi sâu. Lồng nuôi sâu được
thiết kế bằng lưới có kích thước dài 50 x rộng 40
x cao 50 cm, trong lồng đặt chậu có cây ngô 2-4
lá. Thức ăn thêm cho trưởng thành là dung dịch
mật ong 10%. Hàng ngày thay cây ngô mới.
Theo dõi, đếm số trứng đẻ của từng cặp mỗi
ngày cho đến khi trưởng thành cái chết sinh lý.
Tổng số trưởng thành theo dõi là 15 cặp.
- Theo dõi tỷ lệ trứng nở
Theo dõi 300 trứng cuả 15 trưởng thành cái
đẻ trong 3 thời điểm (ngày đầu tiên, ngày thứ 4
và ngày thứ 7). Mỗi thời điểm theo dõi 100 trứng.
Các trứng được đặt trong các hộp petri có lót
giấy thấm nước. Mỗi hộp đặt 10 trứng.
- Theo dõi tỷ lệ vũ hóa và tỷ lệ giới tính
Từ tháng 4 – 9 năm 2017 tiến hành thu các
sâu non bắt gặp ngoài đồng về nuôi trong phòng
cho tới pha nhộng để xác định tỷ lệ vũ hóa của
nhộng và tỷ lệ giới tính (phân biệt nhộng đực, cái
bằng đặc điểm khoảng cách giữa lỗ sinh dục và
lỗ hậu môn). Tương tự, các tỷ lệ này cũng được
xác định đối với những lứa sâu non nuôi hoàn
toàn ở trong phòng thí nghiệm. Số lượng trưởng
thành được theo dõi trong phòng mỗi lứa là 50
cá thể.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thời gian phát dục các pha của sâu
xanh H. armigera ăn lá ngô
Thời gian phát dục các pha là chỉ tiêu sinh
học không thể thiếu đối với mỗi loài sinh vật. Vì
đó là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sức
tăng quần thể. Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu này
đối với sâu xanh H. armigera ăn lá ngô được thể
hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Thời gian phát dục các pha và vòng đời của sâu xanh H. armigera ăn lá ngô
Pha phát dục
Số cá thể
theo dõi
Thời gian phát dục (ngày)
Ngắn nhất Dài nhất Trung bình ± SE
Trứng 100 2 3 2,43 ± 0,09
Sâu non
Tuổi 1 50 2 3 2,56 ± 0,07
Tuổi 2 44 3 5 3,91 ± 0,12
Tuổi 3 41 4 6 5,12 ± 0,14
Tuổi 4 37 4 6 4,83 ± 0,14
Tuổi 5 35 3 4 3,50 ± 0,07
Tuổi 6 33 4 6 5,42 ± 0,07
Tổng pha sâu non 33 19 26 22,3 ± 1,5
Nhộng 30 9 13 10,79 ± 1,52
Tiền đẻ trứng 15 2 4 2,45 ± 0,08
Thời gian vòng đời 15 32 41 35,54 ± 3,28
Ghi chú: Nhiệt độ trung bình: 30,1 ± 1,5ºC; ẩm độ trung bình: 79,4 ± 5,3%; thức ăn cho sâu non là
lá cây ngô giai đoạn 4-6 lá, giống White sweet corn trồng phổ biến tại Lào; chu kỳ quang là 14L:10D.
Số liệu bảng 1 cho thấy thời gian phát dục
các pha của sâu xanh tương đối ngắn ở điều
kiện nhiệt trung bình 30,1 ± 1,5ºC; ẩm độ trung
bình 79,4 ± 5,3%. Trứng phát dục khoảng 2-3
ngày, trung bình 2,43 ± 0,09 ngày. Trong các tuổi
của pha sâu non, tuổi 1 có thời gian phát dục
ngắn nhất (2,56 ngày); dài nhất là tuổi 3 và 6
(tương ứng là 5,12 và 5,42 ngày). Tổng thời gian
phát dục của pha sâu non dao động trong
khoảng 21 – 26 ngày, trung bình 22,3 ± 1,5 ngày.
Thời gian tiền đẻ trứng trung bình là 2,45 ± 0,08
ngày. Thời gian vòng đời dao động khoảng 32 –
41 ngày, trung bình 35,54 ± 3,28 ngày.
Kết quả nghiên cứu của Smith (2014) tương
tự với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, trưởng
thành cái sâu xanh có thời gian tiền đẻ trứng 2-6
ngày. Thời gian phát dục của trứng khoảng 3
ngày. Thời gian vòng đời hơn 1 tháng ở điều
kiện thích hợp. Theo Nguyễn Văn Đĩnh và
Nguyễn Thị Kim Oanh (2003), sâu non sâu xanh
H. armigera có 6 tuổi. Ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C
giai đoạn này kéo dài 22,38 ngày, trứng là 4,14
ngày, nhộng kéo dài 13,86 ngày. Trưởng thành
sống được 8,0 ngày. Kết quả nghiên cứu này dài
hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi do
điều kiện độ nhiệt thấp hơn. Theo Nguyễn Văn
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
40
Đĩnh và cs. (2012), trong điệu kiện khí hậu của
Việt Nam, thời gian vòng đời của sâu xanh kéo
dài 28-34 ngày. Trong đó, trứng là 2-3 ngày, sâu
non kéo dài 10-18 ngày, nhộng là 7-12 ngày.
Thời gian tiền đẻ trứng là 2-3 ngày. Theo
Nasreen và Mustafa (2000), giai đoạn trứng là 3
ngày, sâu non kéo dài 17,33 ngày, trong đó thời
gian từng tuổi 1, 2, 3, 4, 5, 6 tương ứng là 2,07;
2,15; 2,48; 3,13; 3,55; 3,95 ngày. Thời gian
nhộng đực kéo dài 15,4 ngày, thời gian nhộng
cái kéo dài 13,2 ngày ở điều kiện nhiệt độ 26,0 ±
1,0
o
C; ẩm độ 60-70%.
3.2 Thời gian sống và sức đẻ trứng của
trƣởng thành sâu xanh H. armigera
Thời gian sống và sức đẻ trứng của trưởng
thành là 2 yếu tố quyết định đến sức tăng quần
thể của sâu xanh H. armigera. Thức ăn thêm cho
trưởng thành có ý nghĩa trong việc gia tăng thời
gian sống và sức đẻ trứng của chúng. Kết quả
nghiên cứu chỉ tiêu này đối với sâu xanh được
thể hiện ở bảng 2.
Số liệu bảng 2 cho thấy cả 3 đợt theo dõi, với
độ nhiệt, độ ẩm trung bình biến động không
nhiều, thời gian sống của trưởng thành sâu xanh
H. armigera tương tự nhau ở tháng 8 và 9 (8,2-
8,8 ngày), nhưng sức đẻ trứng thì ở tháng 8 cao
hơn tháng 9 (444,66 và 400,93 trứng/cái). Còn
tháng 5 thời gian sống của trưởng thành sâu
xanh H. armigera dài nhất (9-10 ngày), sức đẻ
trứng cao tương tự ở tháng 8 (434,13 trứng/cái).
Trung bình chung cả 3 đợt về thời gian sống là
8,9 ngày, sức đẻ trứng 427,55 trứng/cái ở điều
kiện thức ăn thêm cho trưởng thành là dung dịch
mật ong 10%.
Bảng 2. Thời gian sống và sức đẻ trứng của trƣởng thành sâu xanh H. armigera
Thời gian theo dõi
Số cá
thể theo
dõi
Thời gian sống (ngày) Sức đẻ trứng (trứng/cái)
Ngắn
nhất
Dài
nhất
Trung bình Ít nhất
Nhiều
nhất
Trung bình
Tháng 5/2017 15 9 10 9,6 302 695 434,13
Tháng 8/2017 15 7 10 8,8 306 616 444,66
Tháng 9/2017 15 6 11 8,2 282 563 400,93
Trung bình chung 15 7,3 10,3 8,9 296,7 624,7 427,55
Ghi chú: Tháng 5: nhiệt độ là 28,6 ± 1,3ºC, ẩm độ là 79,9±4,8%; Tháng 8: nhiệt độ là 30,1 ± 1,5ºC,
ẩm độ là 79,4±5,3%; Tháng 9: nhiệt độ là 29,3 ± 1,6ºC, ẩm độ là 82,3±5,2%.
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs. (2012), trưởng
thành cái sâu xanh có thời gian sống ngắn hơn
(trung bình 7 ngày), nhưng sức đẻ trứng cao hơn
(800-1400 trứng/cái) trong thời gian 3-14 ngày.
Điều này có thể do giai đoạn sâu non được nuôi
dưỡng với thức ăn thích hợp hơn, nên có sức
sống tốt hơn, dẫn đến sức đẻ trứng cao hơn.
Theo Smith (2014), trưởng thành cái sâu
xanh có thể đẻ 300-3000 trứng. Theo Nasreen
và Mustafa (2000), sức đẻ trứng của trưởng
thành sâu xanh H. armigera phụ thuộc vào
thức ăn thêm của trưởng thành cái. Ở điều
kiện thức ăn thêm là nước lã, sức đẻ trứng đạt
248,55 trứng/cái; nếu được ăn thêm nước
đường, sức đẻ trứng cao hơn nhiều (795,02
trứng/cái).
3.3 Tỷ lệ nở của trứng sâu xanh H. armigera
Số liệu bảng 3 cho thấy ở điều kiện nhiệt độ
trung bình dao động từ 30,1
o
C đến 31,1
o
C, ẩm
độ trung bình là 76,28 – 82,6%, tỷ lệ nở của
trứng đẻ ngày thứ nhất đạt cao nhất (71%).
Những trứng được đẻ vào ngày thứ tư có tỷ lệ
nở là 67% và những trứng được đẻ vào ngày thứ
7 có tỷ lệ nở thấp hơn (64%). Tỷ lệ trứng nở
trung bình của loài sâu xanh tương đối thấp, đạt
67,3%.
Theo Nasreen và Mustafa (2000), ở điều kiện
nhiệt độ 26 ± 1
o
C, ẩm độ 60-70%, tỷ lệ trứng nở
của sâu xanh đạt 44% nếu trưởng thành cái ăn
thêm nước lã và 75% trong trường hợp trưởng
thành cái ăn thêm dung dịch nước đường
sacharoza 10%. Còn theo Felelova và Frolov
(2008), tỷ lệ trứng nở của sâu xanh H. armigera
đạt 45 - 73% phụ thuộc vào tác động của các yếu
tố môi trường.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
41
Bảng 3. Tỷ lệ trứng nở của sâu xanh H. armigera khi nuôi trên lá ngô
Thời gian trứng được
đẻ
Tình hình trứng nở Điều kiện phòng thí nghiệm
Số trứng theo
dõi (trứng)
Sổ trứng nở
(trứng)
Tỷ lệ trứng
nở (%)
Nhiệt độ trung
bình (
o
C)
Ẩm độ trung
bình (%)
Trứng đẻ ngày thứ nhất 100 71 71,0 31,1 76,3
Trứng đẻ ngày thứ 4 100 67 67,0 30,1 79,9
Trứng đẻ ngày thứ 7 100 64 64,0 30,3 82,6
Trung bình chung 67,3 67,3
3.4 Tỷ lệ giới tính của sâu xanh H. armigera
Biến động số lượng của một loài côn trùng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tỷ lệ giới tính là một
trong những yếu tố quan trọng. Kết quả nghiên
cứu về tỷ lệ giới tính của sâu xanh H. armigera
được trình bày ở bảng 4.
Bảng 4. Tỷ lệ giới tính của sâu xanh H. armigera
Tháng theo dõi
Trong phòng thí nghiệm Ngoài đồng ruộng
Số cá thể
theo dõi
Số đực/cái
Tỷ lệ
đực : cái
Số cá thể
theo dõi
Số đực/cái
Tỷ lệ
đực: cái
8/2017 100 52/48 1,1: 1,0 100 47/53 0,86: 1,0
9/2017 176 92/84 1,1: 1,0 78 35/43 0,81: 1,0
Trung bình chung 1,1: 1,0 0,83: 1,0
Ghi chú: Tháng 8: nhiệt độ là 30,1 ± 1,5ºC, ẩm độ là 79,4±5,3%
Tháng 9: nhiệt độ là 29,3 ± 1,6ºC, ẩm độ là 82,3±5,2%
Số liệu bảng 4 cho thấy những cá thể nuôi từ
phòng thí nghiệm có tỷ lệ giới tính nghiêng về
tính đực (1,1 đực: 1,0 cái). Còn đối với những cá
thể thu từ ngoài đồng, tỷ lệ giới tính lại nghiêng
về tính cái (0,86 đực: 1,0 cái ở tháng 8 và 0,81
đực: 1,0 cái ở tháng 9).
Sâu xanh cũng như nhiều loài côn trùng khác
thuộc bộ cánh vảy có phương thức sinh sản hữu
tính, nếu không có sự giao phối thụ tinh thì trứng
sẽ không thể hình thành phôi. Những loài này
thường có tỷ lệ giới tính khá cân đối.
4. KẾT LUẬN
Ở điều kiện nhiệt, ẩm độ trung bình 30,1 ±
1,5ºC và 79,4 ± 5,3%, sâu xanh được nuôi bằng
lá cây ngô có thời gian phát dục của trứng, sâu
non, nhộng và thời gian tiền đẻ trứng tương ứng
là 2,43; 22,3; 10,79 và 2,45 ngày. Thời gian vòng
đời dao động khoảng 32 – 41 ngày, trung bình
35,54 ± 3,28 ngày. Khi được ăn thêm dung dịch
mật ong 10%, trưởng thành cái sống trung bình
8,9 ngày, sức đẻ trứng 427,55 trứng/cái. Tỷ lệ
trứng nở tương đối thấp, đạt 67,3%. Tỷ lệ giới
tính nghiêng về tính đực (1,1đực: 1,0 cái) đối với
những cá thể nuôi từ phòng thí nghiệm và tỷ lệ
này nghiêng về tính cái đối với những cá thể thu
từ ngoài đồng (0,83 đực: 1,0 cái).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Đĩnh, Hà Quang Hùng, Nguyễn Thị
Thu Cúc, Phạm Văn Lầm, 2012. Côn trùng và động vật
hại Nông nghiệp Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội:
312-313.
2. Nguyễn Văn Đĩnh, Nguyễn Thị Kim Oanh, 2003.
Nghiên cứu phòng chống sâu xanh đục quả cà chua
H. armigera ở Lương Nỗ - Đông Anh, Tạp chí BVTV,
số 4: 3-8.
3. Felelova Yu.A. and A.N. Frolov, 2008.
Distribution and Mortality of corn earworm Helicoverpa
armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae) on maiz
plant in Krasnodar terrytory. Entomological Review,
vol. 88(4): 480-484
4. Fitt G.P., 1989. The ecology of Heliothis species in
relation to agroecosystem. Annu. Rev. Entomol., 34: 17-53.
5. Lammers J. W. and A. MacLeod, 2007. Report
of a Pest Risk Analysis: Helicoverpa armigera (Hübner,
1808). Plant Protection Service and Department for
Environment, Food and Rural Affairs, Central Science
Laboratory. 18 pp.
6. Đinh Thế Lộc, Võ Nguyên Quyền, Bùi Thế Hùng,
Nguyễn Thế Hùng, 1997. Giáo trình cây lương thực.
Tập II Cây màu. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội: 10-12.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018
42
7. Manjunath T.M., V.S. Bhatnagar, C.S. Pawar
and S. Sithanantha, 1989. Economic importance of
Heliothis spp. in India and assesment of their natural
enemies and host plants. Proceeding of the Workshop
on the Biological Control of Heliothis: Increasing the
effectiviness of natural enemies. Nov.11-15, 1985.
New Delhi, India, pp. 197-228.
8. Nasreen Abida and Ghulam Mustafa, 2000.
Biology of Helicoverpa armigera (Hübner) reared in
laboratory on natural diet. Pakistan Journal of
Biological Sciences: 3(10): 1668-1669.
9. Smith Pardo A. H., 2014. The Old World Bollworm
Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera:
Noctuidae: Heliothinae) Its Biology, Economic
importance and Its recent Introduction into the Weastern
Hemisphere. Boletin del Musio Entomólogico, Francisco
Luis Gallego, Vol. 6(1): 18-28.
10. Venette R.C., E.E. Davis, J. Zaspel, H. Heisler,
and M. Larson, 2003. Mini Risk Assessment Old World
bollworm, Helicoverpa armigera (Hübner)
(Lepidoptera: Noctuidae). Cooperative Agricultural
Pest Survey, Animal and Plant Health Inspection
Service, US Department of Agriculture.
Phản biện: GS.TS.NCVCC. Phạm Văn Lầm
ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỐC TRỪ NẤM ĐẾN TỶ LỆ NẢY MẦM,
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẢN NẤM VÀ KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH BÀO TỬ
CỦA NẤM Beauveria bassiana (BALS.) VUILL
Effect of Commercial Fungicides on Conidial Germination, Vegetative Growth
and Sporulation of Entomopathogenic Fungi Beauveria bassiana (Bals.) Vuill
Huỳnh Hữu Đức
1
và Trần Văn Hai
2
Ngày nhận bài: 03.01.2018 Ngày chấp nhận: 26.02.2018
Abstract
Entomopathogenic fungus Beauveria bassiana, a natural enemy of many species of insects, is an important
biological agent to apply in the programme of Integrated Pest Management (IPM). To have a suitable strategy of
using B. bassiana, we need to have basic knowledge about the compatibility of B. bassiana fungi with pesticides,
specifically fungicides. Using B. bassiana, which was divided and selected with high toxicity, quick growth to
evaluate the compatibility with fungicides at three concentrations (½ × RD), (1 × RD) and (2 × RD); (RD:
Recommended dose) on conidial germination, vegetative growth and sporulation in the in-vitro condition. Most
fungicides have a negative effect on vegetative growth and germination of B. bassiana fungi (Propiconazole +
Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole, Hexaconazole, Fenbuconazole, Picoxystrobin, Mancozeb and
Kasugamycin), only three active ingredients, such as Metalaxyl, Fenoxanil, Validamycin, are ineffective to fungi at
low concentration (½ × RD). Collected data in this research, which is the basis to recommend for applying
successfully B. bassiana entomopathogenic fungi as a biocontrol agent in the IPM programmes.
Keywords: Beauveria bassiana, Integrated Pest Management (IPM)
1. ĐĂT VẤN ĐỀ *
Một tập hợp đa dạng của vi sinh vật khác
nhau hiện đang được xem xét như là các tác
nhân sinh học kiểm soát côn trùng như: virus, vi
1.
Nghiên cứu sinh ngành Bảo vệ thực vật, Khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại
học Cần Thơ.
2.
Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và
Sinh học Ứng dụng, Trường Đại Học Cần Thơ.
khuẩn, nguyên sinh động vật và nấm. Trong đó,
giới nấm theo ước tính của các nhà khoa học có
khoảng 1,5 triệu loài (Hawksworth, 2001), với
khoảng 110.000 loài được mô tả (Kirk et al.,
2008). Trong số này, 700 loài trong 90 chi được
công nhận là tác nhân gây bệnh côn trùng
(Roberts and Humber, 1981) và khoảng 170 sản
phẩm kiểm soát dịch hại đã được phát triển dựa
trên ít nhất 12 loài nấm gây bệnh côn trùng (De
Faria and Wraight, 2007). Như vậy, nấm ký sinh
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_sinh_hoc_cua_sau_xanh_helicoverpa_armigera_h.pdf