KẾT LUẬN Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi có các kết luận sau: - Virus DTL nhược độc chủng C thích nghi trên tế bào PK15 tại công ty Hanvet đảm bảo các yêu cầu về nhận dạng, tính thuần khiết, không bị tạp nhiễm các yếu tố ngoại lai. - Virus nhân lên tốt trên tế bào PK15 với đường cong sinh trưởng ổn định, hiệu giá virus cao nhất đạt 106.5 TCID50/ml tại thời điểm 72 giờ sau khi gây nhiễm virus. - Sau khi thích nghi trên tế bào PK15, virus dịch tả lợn nhược độc chủng C vẫn giữ được đặc tính gây sốt thỏ, liều cảm nhiễm virus tối thiểu cho thỏ đạt 10-5/ml. - Virus DTL chủng C thích nghi trên tế bào an toàn khi tiêm cho lợn với liều 106.5 TCID50/ml/lợn. - Virus DTL chủng C thích nghi trên tế bào PK15 sinh đáp ứng miễn dịch tốt trên lợn. Khi gây miễn dịch cho lợn với liều 101 TCID50/ml, lợn được bảo vệ hoàn toàn khi thử thách cường độc tại thời điểm 35 ngày sau miễn dịch
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm sinh học của virus dịch tả lợn nhược độc chủng c được thích nghi trên tế bào PK15 tại công ty Hanvet, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
15
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM SINH HOÏC CUÛA VIRUS DÒCH TAÛ LÔÏN NHÖÔÏC ÑOÄC
CHUÛNG C ÑÖÔÏC THÍCH NGHI TREÂN TEÁ BAØO PK15 TAÏI COÂNG TY HANVET
Trần Văn Khánh, Nguyễn Thanh Ba, Nguyễn Thu Trang,
Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Hữu Vũ
Công ty Cổ phần Dược và Vật tư thú y (Hanvet)
TÓM TẮT
Virus nhược độc dịch tả lợn, chủng C đã được thích nghi trên tế bào PK15 tại công ty Hanvet. Sau khi
thích nghi, virus đã được kiểm tra các đặc tính sinh học của giống. Kết quả kiểm tra cho thấy chủng virus
đạt các tiêu chuẩn về nhận dạng, thuần khiết. Đường cong sinh trưởng của virus trên tế bào ổn định, hiệu
giá virus cao nhất đạt 106,5 TCID
50
/ml tại 72 giờ sau khi gây nhiễm. Chủng virus thích nghi trên tế bào vẫn
giữ được đặc tính gây sốt thỏ, liều gây nhiễm tối thiểu trên thỏ là 10-5/ml. Virus an toàn khi tiêm cho lợn
với liều 106,5 TCID
50
/lợn. Gây miễn dịch cho lợn bằng chủng virus dịch tả lợn thích nghi trên tế bào với
các liều miễn dịch 101, 102, 103 và 104 TCID
50
, lợn đều có đáp ứng miễn dịch tốt và được bảo vệ hoàn toàn
khi thử thách với 103 MLD
50
virus dịch tả lợn cường độc.
Từ khóa: virus nhược độc, dịch tả lợn, đặc tính sinh học, đáp ứng miễn dịch.
Characteristics of attenuated classical swine fever virus - C strain adapted
on PK15 cell line at Hanvet company
Tran Van Khanh, Nguyen Thanh Ba, Nguyen Thu Trang,
Nguyen Van Tam, Nguyen Van Phuc, Nguyen Thi Bich, Nguyen Huu Vu
Classical swine fever virus, C strain was adapted on PK15 cell line at Hanvet Company. The
biological characteristics of cell-adapted virus showed that its identity and purity met the required
standards. The growth kinetic of virus was very stable, the highest viral titer was 106.5 TCID50/ml at
72h post-infection. The cell-adapted virus retained the ability to induce fever in the experimental
rabbits; the minimum infective dose in the experimental rabbits was 10-5/ml. The pigs were safe
when inoculation with dose of 106.5 TCID50/pig. The inoculated pigs with 101; 102; 103 and 104 TCID50
of cell-adapted virus induced good immune response and they were completely protected when
challenging with 103 MLD50 virulent CSFV.
Keywords: attenuated virus, classical swine fever, biological characteristics, immune response.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vacxin dịch tả lợn (DTL) là một vacxin rất quan
trọng trong việc phòng bệnh cho đàn lợn. Vacxin
phòng bệnh DTL cho lợn hiện nay được sản xuất trên
hai phương thức chính là sản xuất vacxin từ hạch
lách thỏ và sản xuất vacxin trên tế bào.
Tại Hanvet, chúng tôi đã có quy trình sản xuất
vacxin DTL qua thỏ và sản phẩm đã được phân phối
trên thị trường. Tuy nhiên, việc sản xuất vacxin
DTL trên thỏ gặp nhiều khó khăn do:
- Vacxin có chứa nhiều protein ngoại lai
- Dễ tạp nhiễm các vi sinh vật có nguồn gốc từ thỏ
- Chất lượng thỏ dùng cho sản xuất khó kiểm soát
- Có thể gây phản ứng quá mẫn
- Khó mở rộng quy mô sản xuất
- Hàm lượng virus không cao.
Vacxin sản xuất trên tế bào là một công nghệ
mới với nhiều ưu điểm như:
- Vacxin đảm bảo độ tinh khiết
- Các nguyên liệu đầu vào của quá trình sản
xuất dễ kiểm soát
- Quá trình sản xuất cần ít diện tích mặt bằng
hơn sản xuất vacxin trên thỏ
16
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
- Giảm tiêu tốn nhân lực trong quá trình sản xuất
- Dễ dàng nâng cao quy mô sản xuất
- Hiệu quả sản xuất cao, giá thành hạ
- Chất lượng vacxin được kiểm soát dễ dàng
Vì vậy, việc chuyển sang nghiên cứu sản xuất
vacxin trên tế bào là một điều tất yếu.
Từ thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành thích nghi
virus DTL nhược độc chủng C trên nhiều loại tế
bào khác nhau: tế bào PK15, tế bào tinh hoàn lợn
(ST cell line) và tế bào tinh hoàn bê (BT cell line)
để tạo chủng virus dùng cho sản xuất vacxin trên
tế bào. Kết quả đã tạo được một chủng virus DTL
thích nghi trên tế bào PK15.
Nghiên cứu này nhằm xác định các đặc tính
sinh học của virus DTL nhược độc chủng C được
thích nghi trên tế bào PK15 tại công ty Hanvet.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trong nghiên cứu này là Virus DTL
nhược độc qua thỏ chủng C đã được thích nghi trên
tế bào PK15, hiệu giá virus đạt 106.5 TCID
50
/ml.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành theo các nội dung sau:
Nhận dạng virus thông qua xác định sự có mặt
của gen E2
Kiểm tra thuần khiết
Tính cảm nhiễm của chủng virus trên thỏ
Tính cảm nhiễm của virus trên tế bào
Tính an toàn của virus trên lợn
Tính sinh miễn dịch của virus trên lợn.
2.3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Vật liệu nghiên cứu
Cặp mồi nhận dạng gen E2 của virus DTL được
sử dụng trong nghiên cứu (Yan Li & cs, 2007):
Tên mồi Trình tự mồi Sản phẩm (bp)
CFSVF AACATGGATGGTGTAACTGGT
343
CFSVR TTCTCTATAGTGTTGGTCATTCC
Lợn khỏe mạnh trên 2 tháng tuổi, có huyết
thanh âm tính với kháng thể DTL được sử dụng
trong nghiên cứu.
Thỏ mẫn cảm khỏe mạnh, khối lượng 1,8 –
2,2kg, có thân nhiệt bình thường trong 3 ngày liên
tiếp, lợn lai hướng nạc hai tháng tuổi, chưa tiêm
phòng vacxin DTL và có huyết thanh âm tính với
virus DTL khi xét nghiệm bằng ELISA được sử
dụng trong nghiên cứu.
Tế bào dòng PK15 (ATCC-CCL33) được nuôi
cấy giữ giống tại Công ty Hanvet và các loại môi
trường hóa chất cho nuôi cấy tế bào như MEM,
PBS(-) cũng được sử dụng trong nghiên cứu.
Virus DTL cường độc phân lập tại thực địa
được giữ giống tại công ty Hanvet có liều MLD
đạt 105/ml.
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
Kỹ thuật RT-PCR được sử dụng để nhận dạng
virus DTL theo hướng dẫn của Yan Li & cs (2007).
Kiểm tra thuần khiết được tiến hành theo
TCVN 8684:2011
Tính mẫn cảm trên thỏ của virus DTL được
đánh giá thông qua phản ứng thân nhiệt của thỏ
khi tiêm virus DTL theo hướng dẫn trong TCVN
8685-8:2011
Kỹ thuật Fluorescent Antibody Test (FAT)
được sử dụng để xác định hiệu giá virus DTL
trên tế bào, thực hiện theo hướng dẫn trong OIE
Terrestrial Manual 2014, chapter 2.8.3.
Kỹ thuật ELISA với bộ kit của hãng IDEXX
và kỹ thuật trung hòa virus NPLA (Neutralising
Peroxidase Linked Assay) theo hướng dẫn trong
TCVN 5273:2010 được áp dụng.
17
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê
sinh học, sử dụng phần mềm Minitab16.
2.3.3. Bố trí thí nghiệm
Để xác định tính cảm nhiễm của virus trên thỏ,
hỗn dịch virus DTL được pha loãng theo cơ số 10,
dịch virus tại các độ pha loãng 10-2 - 10-6 được tiêm
cho thỏ, mỗi độ pha loãng tiêm cho 5 thỏ, 1ml/con
theo đường tĩnh mạch tai. Sau khi tiêm 24 giờ, tiến
hành đo thân nhiệt thỏ 6 giờ một lần đến 120 giờ.
27 chai T-flask 75cm2 tế bào PK15 một lớp
được gây nhiễm virus với liều gây nhiễm MOI =
0,01. Sau khi gây nhiễm virus, tại các thời điểm
24, 36, 48, 60, 72, 84, 96, 108 giờ, thu 3 chai tế
bào nhiễm chuyển vào tủ lạnh -400C, đông tan 3
lần rồi lấy mẫu để chuẩn độ hiệu giá virus tại các
thời điểm thu hoạch để xây dựng đường cong sinh
trưởng.
Để xác định tính an toàn của virus dịch tả
lợn, 20 lợn thí nghiệm chia thành 4 nhóm được
tiêm virus nhược độc với liều từ 105, 106 và 106,5
TCID
50
/lợn, một nhóm không tiêm làm đối chứng.
Lợn được theo dõi 15 ngày sau khi tiêm virus về
các chỉ tiêu, phản ứng cục bộ tại vị trí tiêm, các
biểu hiện lâm sàng và thân nhiệt.
Để đánh giá tính sinh miễn dịch, 25 lợn thí nghiệm
được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm 5 con. Từ nhóm
1 đến nhóm 4, lợn được gây miễn dịch bằng virus
DTL nhược độc đã thích nghi trên tế bào với các liều
101; 102; 103; 104 TCID
50
/con. Nhóm 5 không tiêm
virus làm đối chứng. Tại các thời điểm 14, 21, 28
và 35 ngày sau khi gây miễn dịch, lợn được lấy máu
để kiểm tra kháng thể bằng ELISA và NPLA. Sau
35 ngày miễn dịch, lợn được công cường độc bằng
chủng virus DTL cường độc với liều 103MLD. Lợn
chết được mổ khám để kiểm tra bệnh tích.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả nhận dạng gen E2
RNA của mẫu dịch virus được tách chiết
bằng TRIzol™ Reagent (hãng Invitrogen). Cặp
mồi đặc hiệu CSFVF, CSFVR được sử dụng để
nhận diện vùng gen E2 của virus dịch tả lợn
trong phản ứng PCR. Sản phẩm PCR được điện
di trên thạch Agarose 1%. Kết quả điện di được
thể hiện trên hình 1.
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR
của mẫu dịch virus DTL nhược độc với
cặp mồi đặc hiệu CSFV
Giếng M: Marker 100bp plus (invitrogen);
giếng 1: Đối chứng âm; giếng 2: Đối chứng
dương; giếng 3: Sản phẩm PCR với cặp mồi
đặc hiệu CSFVF – CSFVR
Kết quả điện di sản phẩm PCR cho thấy hình ảnh
của các băng rõ ràng, băng đơn gọn, kích thước băng
của mẫu dịch virus DTL nhược độc có kích thước
bằng với kích thước của băng của mẫu đối chứng
dương. Trong khi đó, đối với giếng đối chứng âm
không xuất hiện băng sáng. Kết quả này khẳng định
virus được thích nghi trên tế bào PK15 là virus DTL.
3.2. Kết quả kiểm tra thuần khiết virus DTL
Dịch virus DTL nhược độc được kiểm tra
vô trùng và tạp nhiễm Mycoplasma theo TCVN
8684:2011, kết quả như sau:
Sau 7 ngày theo dõi các ống môi trường kiểm tra,
không thấy sự có mặt của vi khuẩn trong môi trường dinh
dưỡng. Màu môi trường không đổi, không vẩn đục.
Sau 14 ngày theo dõi các ống kiểm tra sự tạp
nhiễm của nấm, không thấy sự có mặt của các sợi
nấm trên bề mặt thạch.
Sau 28 ngày theo dõi các mẫu kiểm tra sự tạp
nhiễm Mycoplasma, không thấy sự có mặt của
Mycoplasma trong môi trường dinh dưỡng.
Từ các kết quả trên, mẫu dịch virus DTL nhược
độc đạt tiêu chuẩn về vô trùng và không tạp nhiễm
Mycoplasma.
1 M 2 3
18
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Hình 2. Đường cong sinh trưởng của virus DTL nhược độc
3.3. Tính cảm nhiễm của virus trên thỏ
Việc thích nghi virus DTL nhược độc chủng C trên tế
bào PK15 có ảnh hưởng tới tính mẫn cảm của virus trên
thỏ như thế nào? Kết quả thu được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1. Phản ứng thân nhiệt của thỏ khi tiêm virus DTL nhược độc
STT Độ pha loãng
Phản ứng thân nhiệt của thỏ
Kết luận
Thỏ 1 Thỏ 2 Thỏ 3 Thỏ 4 Thỏ 5
1 10-2 ++ ++ ++ ++ ++ +
2 10-3 ++ ++ ++ ++ ++ +
3 10-4 ++ ++ ++ ++ + +
4 10-5 ++ + ++ ++ + +
5 10-6 - - + - - +/-
Ghi chú:“++” thỏ sốt điển hình theo TCVN 8685-8:2011
“+” thỏ sốt nhẹ theo TCVN 8685-8:2011
“+/-” thỏ nghi ngờ theo TCVN 8685-8:2011
“-” thỏ không sốt
Kết quả thu được cho thấy virus DTL chủng C
sau khi thích nghi trên tế bào PK15 vẫn có tính cảm
nhiễm rất tốt khi gây nhiễm trên thỏ, khả năng gây
nhiễm trên thỏ của virus DTL chủng C thích nghi trên
tế bào đạt 105 RID/ml (Rabbit Infected Dose). Kết
quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên
cứu của các tác giả Chris Morrissy, Trần Xuân Hạnh
& cs (2010) khi nghiên cứu phát triển vacxin dịch
tả heo mới, cấy chuyển virus DTL chủng C trên tế
bào PK15A 12 lần; Chao Tong & cs (2017) khi tiếp
truyền liên tục virus DTL chủng C trên tế bào PK15
40 lần; Ferrari (1992) khi nghiên cứu thích nghi
virus DTL chủng C trên tế bào MPK sau 20 đời cấy
chuyển, virus DTL chủng C vẫn giữ được độc lực
trên thỏ khi thích nghi trên tế bào. Tuy nhiên, dòng
tế bào sử dụng trong các nghiên cứu có khác nhau.
Thực tế, kết quả nghiên cứu này khác với kết
quả của Nguyễn Tiến Dũng và cs (2005) khi nghiên
cứu thích nghi virus DTL chủng C trên tế bào CPK,
sau 73 đời cấy chuyển, độc lực trên thỏ của virus
không còn ổn định như virus gốc.
3.4. Tính cảm nhiễm của virus trên tế bào
Để xác định đường cong sinh trưởng của virus
DTL nhược độc, chúng tôi tiến hành thí nghiệm như
mô tả trong mục 2.3.3. Kết quả thu được như sau:
19
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Qua đồ thị sinh trưởng, phát triển của giống
virus DTL nhược độc cho thấy: Sau gây nhiễm
24 giờ, virus bắt đầu quá trình nhân lên, hàm
lượng virus tăng dần theo thời gian nhiễm và
đạt cao nhất 106.57 TCID
50
/ml tại thời điểm 72
giờ sau gây nhiễm. Sau thời điểm 84 giờ, hiệu
giá virus giảm nhanh chóng. Đến thời điểm
108 giờ sau gây nhiễm, hiệu giá virus chỉ còn
104.73 TCID
50
/ml.
Có sự khác biệt về động thái sinh trưởng
của virus DTL trên tế bào trong nghiên cứu
này với nghiên cứu của Chao Tong & cs. Trong
nghiên cứu của Chao Tong & cs, hiệu giá virus
đạt cao nhất tại thời điểm 96 giờ sau gây nhiễm
và tác giả không theo dõi tiếp giai đoạn sau. Sự
khác biệt này có thể do liều nhân nhiễm virus
(MOI) trong hai nghiên cứu có sự khác nhau.
Chao Tong & cs sử dụng liều nhân nhiễm MOI
= 0.001, trong khi nghiên cứu này sử dụng
MOI = 0.01.
3.5. Tính an toàn của virus trên lợn
Tính an toàn của virus DTL nhược độc được
đánh gia thông qua thí nghiệm đã được mô tả trong
mục 2.3.3. Kết quả chúng tôi thu được như sau:
Bảng 2. Biểu hiện lâm sàng của lợn sau khi tiêm virus DTL nhược độc
Chỉ tiêu theo dõi
Số lợn có phản ứng trên các liều tiêm
Đối chứng
105TCID50 10
6TCID50 10
6,5TCID50
Phản ứng quá mẫn, sốc phản vệ 0/5 0/5 0/5 0/5
Phản ứng tại vị trí tiêm 0/5 0/5 0/5 0/5
Giảm ăn, bỏ ăn 0/5 0/5 0/5 0/5
Ủ rũ, mệt mỏi 0/5 0/5 0/5 0/5
Tiêu chảy 0/5 0/5 0/5 0/5
Các phản ứng khác 0/5 0/5 0/5 0/5
Như vậy, không phát hiện được phản ứng bất
lợi nào xảy ra trên cơ thể lợn ở tất cả các lợn thử
nghiệm.
Cùng với theo dõi lâm sàng, đã tiến hành theo
dõi thân nhiệt lợn thí nghiệm 2 lần/ngày vào sáng
và chiều, kết quả thu được thể hiện qua hình 3.
Hình 3. Thân nhiệt của lợn khi tiêm virus DTL nhược độc với các liều khác nhau
20
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Bảng 4. Biến động kháng thể của lợn được tiêm virus DTL nhược độc
xác định bằng ELISA
Liều tiêm
% blocking/ngày lấy máu
D0 D7 D14 D21 D28 D35
101TCID50 11,580 23,580 39,580 53,080 62,280 67,060
102TCID50 19,780 29,520 45,380 57,000 71,800 78,340
103TCID50 29,920 42,180 53,560 61,600 69,740 78,980
104TCID50 19,000 33,360 55,000 69,980 73,720 78,880
Đối chứng (không tiêm) 20,220 15,120 15,880 8,800 9,360 8,080
Qua đồ thị thân nhiệt của lợn thí nghiệm cho
thấy, tất cả lợn trong thử nghiệm đều có thân
nhiệt bình thường, dao động trong khoảng 39,2 –
39,60C, không có hiện tượng sốt trong suốt quá
trình theo dõi. Nói cách khác, virus DTL nhược
độc không gây sốt cho lợn được tiêm.
Để đánh giá toàn diện hơn về tính an toàn
của virus DTL nhược độc, chúng tôi đã tiến
hành theo dõi tăng trọng của lợn trong quá
trình thí nghiệm để so sánh với lợn đối chứng.
Kết quả thể hiện qua bảng 3.
Bảng 3. Tăng trọng của lợn khi tiêm virus DTL nhược độc ở các liều khác nhau
Nhóm TN
Khối lượng lợn (kg)
Tỷ lệ tăng trọng (%)
Ngày 0 Ngày 14
105 TCID50 21,9 ± 0,2 28,72 ± 0,11 31,14
106 TCID50 23,71 ± 0,19 30,37 ± 0,25 28,10
106,5 TCID50 22,87 ± 0,12 30,23 ± 0,17 32,18
Đối chứng (không tiêm) 22,69 ± 0,18 29,87 ± 0,15 31,64
Từ bảng số liệu theo dõi tăng trọng của lợn,
sử dụng thuật toán thống kê phân tích phương sai
một nhân tố cho thấy, không có sự khác biệt có ý
nghĩa về khả năng tăng trọng giữa các nhóm lợn
thí nghiệm.
Từ các kết quả kiểm tra an toàn của giống virus
DTL nhược độc cho thấy virus DTL nhược độc an
toàn cho lợn khi tiêm với liều 106.5 TCID
50
.
Kết quả này hoàn toàn dễ hiểu vì chủng virus
dùng để thích nghi trên tế bào là virus DTL chủng
C, một chủng virus cực kỳ an toàn, đã được chứng
minh qua nửa thế kỷ (Qui Hua – Ji & cs, 2006).
3.6. Tính sinh miễn dịch của virus trên lợn
3.6.1. Đáp ứng miễn dịch dịch thể
Biến động kháng thể trong huyết thanh lợn khi
xác định bằng ELISA
Sau khi miễn dịch cho lợn theo bố trí đã mô
tả trong mục 2.3.3, tiến hành lấy máu, chắt huyết
thanh lợn tại các thời điểm khác nhau và thực hiện
phản ứng ELISA. Kết quả thu được thể hiện trong
bảng 4.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở các liều tiêm
101, 102, 103, 104, lợn đều có đáp ứng miễn dịch
tốt. Sau khi tiêm virus DTL nhược độc 14 ngày,
lợn bắt đầu có kháng thể trong máu. Hàm lượng
kháng thể tăng dần và đạt hàm lượng cao nhất tại
thời điểm 35 ngày sau khi miễn dịch.
Có sự khác biệt trong đáp ứng miễn dịch của
lợn được tiêm với các liều virus khác nhau. Ở liều
21
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
miễn dịch 101 TCID
50
/ml, lợn có đáp ứng miễn
dịch yếu hơn, sự xuất hiện kháng thể muộn hơn
và hàm lượng kháng thể trong máu cũng thấp hơn
so với các liều tiêm khác. Trong khi đó lợn được
tiêm miễn dịch ở các liều 102, 103, 104 TCID
50
, có
đáp ứng miễn dịch cao tương dương nhau. Tại thời
điểm 35 ngày sau miễn dịch, kháng thể trong máu
lợn miễn dịch 101 có giá trị Blocking đạt 67,1%,
trong khi đó ở các liều miễn dịch 102; 103; 104
TCID
50
có giá trị Blocking trung bình lần lượt là:
78,4%, 79,0% và 78,9%. Cả 4 liều miễn dịch thử
nghiệm đều chưa có dấu hiệu giảm hàm lượng
kháng thể sau 35 ngày miễn dịch. Trong khi đó lô
đối chứng không tiêm, hàm lượng kháng thể luôn
âm tính trong suốt quá trình theo dõi.
Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả
của Chris Morrissy, Trần Xuân Hạnh (2010) khi
xác định hiệu lực của vacxin DTL chủng C thích
nghi trên tế bào PK15A; Sara Munoz-Gonzalez &
cs (2015) khi nghiên cứu về hiệu quả của vacxin
nhược độc trong sự đề kháng với virus DTL cường
độc ở lợn con.
Biến động kháng thể của lợn được tiêm virus
DTL nhược độc thể hiện qua hình 4.
Hình 4. Biến động kháng thể của lợn được tiêm virus DTL tế bào, xác định bằng ELISA
Biến động kháng thể trung hòa cùng với việc xác
định kháng thể của lợn bằng ELISA, chúng tôi còn
xác định hiệu giá kháng thể của lợn bằng phản ứng
trung hòa trên tế bào. Kết quả thể hiện qua bảng 5.
Bảng 5. Hiệu giá kháng thể trung hòa của lợn được tiêm virus DTL nhược độc
Liều tiêm
Hiệu giá kháng thể trung hòa/ngày lấy máu (Log2)
D0 D7 D14 D21 D28 D35
101 TCID50 0 2 3.4 5.2 6.4 6.8
102 TCID50 0 2.5 4.2 5.8 7 7.8
103 TCID50 0 2.8 5 6.2 7.8 9.2
104 TCID50 0 2.8 5.2 6.8 8 9.4
Đối chứng (không tiêm) 0 0 0 0 0 0
Qua kết quả theo dõi sự biến động kháng thể
trung hòa trong máu lợn thí nghiệm cho thấy:
Nhóm lợn được tiêm virus DTL nhược độc có
hàm lượng kháng thể trung hòa trong máu tăng
dần theo thời gian, đạt cao nhất sau 35 ngày
miễn dịch và chưa có dấu hiệu giảm. Ở liều
miễn dịch 101 cho hàm lượng kháng thể trung
hòa trong máu lợn thấp nhất, liều miễn dịch 103,
22
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Bảng 6. Biểu hiện lâm sàng của lợn sau khi công cường độc
Biểu hiện
lâm sàng
Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng
Liều miễn dịch (TCID50) Đối chứng
101 102 103 104
Ủ rũ 0/5 0/3 0/3 0/3 3/3
Giảm ăn, bỏ ăn 0/3 0/3 0/3 0/3 3/3
Tím tái,
xuất huyết 0/3 0/3 0/3 0/3 3/3
Tiêu chảy 0/3 0/3 0/3 0/3 3/3
Sốt 0/3 0/3 0/3 0/3 3/3
Chết 0/3 0/3 0/3 0/3 3/3
104 có hàm lượng kháng thể trung hòa cao tương
đối giống nhau. Trong khi đó, lô đối chứng hiệu
giá kháng thể giảm dần và gần như bằng 0 sau
21 ngày theo dõi. Hình 5 cho ta thấy rõ biến
động hàm lượng kháng thể trung hòa trong máu
lợn thí nghiệm.
Có sự khác biệt có ý nghĩa trong đáp ứng miễn
dịch dịch thể khi miễn dịch cho lợn với liều 101
TCID
50
so với các liều miễn dịch còn lại (P<0,0001,
khi phân tích thống kê với mô hình MIXED trên
phần mềm SAS 9.1). Với các liều miễn dịch khác,
sự sai khác không có ý nghĩa.
3.6.2. Khả năng bảo hộ khi thử thách với virus
cường độc
Để đánh giá một cách hoàn chỉnh về khả năng
bảo vệ lợn trước bệnh dịch tả của chủng virus
DTL nhược độc, sau 35 ngày theo dõi miễn dịch,
chúng tôi đã tiến hành công cường độc cho lợn thí
nghiệm và lợn đối chứng, 3 lợn/nhóm miễn dịch
và 3 lợn đối chứng được thử thách với cùng 1 liều
virus cường độc DTL (103 MLD/lợn). Kết quả thu
được như sau:
Hình 5. Biến động kháng thể trung hòa của lợn sau khi tiêm virus DTL trên tế bào
Qua bảng kết quả trên cho thấy: tất cả lợn đối
chứng có biểu hiện ủ rũ, bỏ ăn hoặc giảm ăn, tiêu
chảy, sốt, xuất huyết dưới vùng da mỏng; 3/3 lợn
đối chứng chết với biểu hiện bệnh tích đặc trưng
của DTL. Trong khi đó tất cả lợn miễn dịch đều
không có biểu hiện bất thường nào xảy ra.
Thân nhiệt lợn sau khi công cường độc cùng
với việc theo dõi các biểu hiện lâm sàng, chúng tôi
tiến hành theo dõi thân nhiệt của lợn sau khi công
cường độc liên tục trong 10 ngày, mỗi ngày kiểm
23
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
tra 2 lần vào 8 giờ sáng và 4 giờ chiều. Thân nhiệt
trung bình của lợn được tiêm virus DTL nhược
độc và lợn đối chứng có sự khác biệt rõ rệt. Sau
khi công cường độc, tất cả lợn được tiêm virus
DTL đều không có hiện tượng sốt, trong khi đó 3/3
lợn đối chứng đều sốt cao, lên tới 420C và kéo dài
liên tục trong 4 ngày, lợn chết ở ngày thứ 5, 8, 10
sau khi công cường độc.
Hình 6. Biến động thân nhiệt lợn thí nghiệm sau khi công cường độc
Kiểm tra virus huyết sau khi công cường độc.
Ngoài việc theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng, chúng tôi
còn tiến hành lấy máu lợn để phân lập virus trên môi
trường tế bào PK15. Kết quả thể hiện qua bảng 7.
Bảng 7. Kết quả phân lập virus DTL trong máu lợn sau khi công cường độc
Lô TN
Tỷ lệ dương tính tại các thời điểm lấy máu
3d 5d 7d 10d 14d
101TCID50 0 0 0 0 0
102TCID50 0 0 0 0 0
103TCID50 0 0 0 0 0
104TCID50 0 0 0 0 0
Đối chứng 3/3 3/3 3/3 3/3 0
Kết quả phân lập virus DTL trong máu lợn
thí nghiệm cho thấy: Sau khi công cường độc,
không phân lập được virus trong máu của lợn
được tiêm virus DTL ở tất cả các liều miễn dịch
cũng như tại các thời điểm lấy máu khác nhau.
Ở lợn đối chứng, hiện tượng virus huyết xảy
ra ở cả 3/3 lợn (100%), sau đó lợn chết với những
triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh DTL.
Để xác định chính xác hơn sự lưu hành của
virus DTL trong máu lợn sau khi công cường độc,
chúng tôi tiến hành kiểm tra virus huyết bằng kỹ
thuật rRT – PCR. Kết quả được trình bày trong
bảng 8.
Kết quả xác định virus huyết bằng rRT-PCR đã
khẳng định chắc chắn hơn về khả năng ngăn chặn
hiện tượng virus huyết ở lợn được miễn dịch.
Qua những kết quả thu được ở trên cho thấy
virus DTL nhược độc chủng C được thích nghi
trên tế bào PK15 có tính sinh miễn dịch rất tốt.
Khi tiêm cho lợn với liều 101TCID
50
, lợn đã có đáp
ứng miễn dịch đủ để bảo vệ lợn trước sự tấn công
của virus DTL cường độc.
24
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Hình 7. Bệnh tích của lợn khi công cường độc
Theo các tác giả Lai &cs (1982), Biront
&cs (1987), Dahle & Liess (1995), de Smit
&cs (2001) (dẫn theo Qui Hua – Ji & cs, 2006),
virus DTL chủng C sinh đáp ứng miễn dịch rất
sớm, chỉ 1 tuần sau khi tiêm vacxin, lợn đã
được bảo vệ hoàn toàn. Tuy nhiên trong nghiên
cứu này mới chỉ xác định được khả năng bảo
hộ của chủng virus thích nghi trên tế bào sau 35
ngày miễn dịch mà chưa có điều kiện để đánh
giá khả năng bảo hộ lợn ở những thời điểm sớm
hơn. Vấn đề này cần được đánh giá thêm.
Kết quả kiểm tra bệnh tích giải phẫu lợn thí nghiệm
Bảng 8. Kết quả kiểm tra virus huyết bằng kỹ thuật rRT-PCR
Lô TN
Tỷ lệ dương tính tại các thời điểm lấy máu (%)
3d 5d 7d 10d
101TCID50 0 0 0 0
102TCID50 0 0 0 0
103TCID50 0 0 0 0
104TCID50 0 0 0 0
Đối chứng 100 100 100 100
25
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Sau khi công cường độc, lợn đối chứng có biểu
hiện sốt, bỏ ăn, ủ rũ, xuất huyết ở các vùng da
mỏng (bụng, bẹn, gốc tai). Ở ngày thứ 5, 8, 10
sau khi công, lợn 22, 21, 23 bị chết. Chúng tôi tiến
hành mổ khám kiểm tra bệnh tích. Bệnh tích chủ
yếu gồm: Xuất huyết dưới da, tích nước xoang bao
tim, xuất huyết cơ tim, xuất huyết sụn tiểu thiệt,
xuất huyết các hạch lâm ba, van hồi manh tràng
loét cúc áo
IV. KẾT LUẬN
Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi có
các kết luận sau:
- Virus DTL nhược độc chủng C thích nghi trên
tế bào PK15 tại công ty Hanvet đảm bảo các yêu
cầu về nhận dạng, tính thuần khiết, không bị tạp
nhiễm các yếu tố ngoại lai.
- Virus nhân lên tốt trên tế bào PK15 với đường
cong sinh trưởng ổn định, hiệu giá virus cao nhất
đạt 106.5 TCID
50
/ml tại thời điểm 72 giờ sau khi
gây nhiễm virus.
- Sau khi thích nghi trên tế bào PK15, virus
dịch tả lợn nhược độc chủng C vẫn giữ được đặc
tính gây sốt thỏ, liều cảm nhiễm virus tối thiểu
cho thỏ đạt 10-5/ml.
- Virus DTL chủng C thích nghi trên tế bào an
toàn khi tiêm cho lợn với liều 106.5 TCID
50
/ml/lợn.
- Virus DTL chủng C thích nghi trên tế bào
PK15 sinh đáp ứng miễn dịch tốt trên lợn. Khi
gây miễn dịch cho lợn với liều 101 TCID
50
/ml, lợn
được bảo vệ hoàn toàn khi thử thách cường độc tại
thời điểm 35 ngày sau miễn dịch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Tiến Dũng, 2005. Nghiên cứu vacxin
Dịch tả lợn và phản ứng miễn dịch sau tiêm
phòng. Báo cáo nghiệm thu đề tài khoa học
trọng điểm cấp Bộ 2001 – 2003.
2. Nguyễn Tiến Dũng, 2007. Nghiên cứu biện
pháp khống chế bệnh Dịch tả lợn ở Việt Nam
và xây dụng mô hình an toàn bệnh. Báo cáo
nghiệm thu đề tài khoa học trọng điểm cấp Bộ
2004 – 2006.
3. Chris Morrissy, Trần Xuân Hạnh & cs, 2010.
Bệnh Dịch tả heo: Phát triển vacxin Dịch tả
heo mới. Báo cáo nghiệm thu Dự án 014/07
VIE giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam và Chính phủ Úc.
4. Chao Tong, Ning Chen, Xu Liao, Xuemei
Yuan, Mengjiao Sun, Xiao Liang and
Weihuan Fang, 2017. Continuos passaging
of recombinant C strain virus in PK15 cells
selects culture adapted variant that showed
enhanced replication but failed to induce
fever in rabbits. J. Microbiol. Biotechnol.,
2017, 27(9), 1701 – 1710.
5. Sara Munoz-Gonzales, Marta Perez-Simo,
Marta Munoz, Jose Alejandro Bohorquez,
Rosa Rosell, Artur Summerfield, Marriano
Domingo, Nicolas Ruggli and Lliliance
Ganges, 2015. Efficacy of a live attenuated
vaccine in classical swine fever virus postnally
persistently infected pigs. Veterinary research,
Bio – Med central, 2015.
6. Qui Hua – Ji, Shen Rong-xian and Tong
Guang-zhi, 2006. The lapinized Chinese strain
vaccine against classical swine fever virus: A
retrospective review spanning half a century.
Agricultural sciences in China, 2006.
7. M. Ferrari, 1992. A tissue culture vaccine with
lapinized Chinese (LC) strain of Hog cholera
virus (HCV). Comp. Immun. Microbiol. Infect.
Dis. Vol 15, No. 3, pp 221 – 228, 1992.
8. Yan Li, Jian-Jun Zhao, Na Li, Zixue Shi, Dan
Cheng, Qing-Hu Zhu, Changchun Tu, Guang-
Zhi Tong, Hua-Ji Qiu, 2007. A multiplex nested
RT-PCR for the detection and differentiation
of wild-type viruses from C-strain vaccine
of classical swine fever virus. Journal of
Virological Methods 143 (2007) 16–22.
(Available online at www.sciencedirect.com)
Ngày nhận 5-10-2018
Ngày phản biện 16-12-2018
Ngày đăng 1-3-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_dac_diem_sinh_hoc_cua_virus_dich_ta_lon_nhuoc_doc_chu.pdf