Một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp sáp bột hồng phenacoccus manihoti (matile-Ferrero, 1977) (homoptera: pseudococcidae) trong phòng thí nghiệm

Nhiệt độ khởi điểm phát dục, số thế hệ lý thuyết trong năm của rệp sáp bột hồng Dựa vào số liệu về thời gian phát triển của rệp sáp bột hồng nuôi ở nhiệt độ 25oC và 30oC cùng 62% ẩm độ đã tính được nhiệt độ khởi điểm phát dục của pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng tương ứng là 14,7oC; 14,5oC; 15,7oC. Nhiệt độ khởi điểm phát dục tính chung cho cả vòng đời của rệp sáp bột hồng là 4,8oC. Kết quả này tương tự như kết quả của nhiều nghiên cứu ở ngoài nước (CABI, 2005; Iheagwam, 1981; Le Rü and Fabres, 1987; Lema and Herren, 1985; Nwanze et al., 1979). Nghiên cứu của các tác giả này chỉ ra nhiệt độ khởi điểm phát dục của rệp sáp bột hồng là 14,7oC. Nhưng, theo Iheagwam và Eluwa (1983), nhiệt độ khởi điểm phát dục của các pha phát triển và chung cho cả vòng đời của rệp sáp bột hồng biến động trong phạm vi 14-20ºC. Với nhiệt độ khởi điểm phát dục là 14,8oC, thì tổng nhiệt độ hữu hiệu cần cho một vòng đời (một thế hệ) của rệp sáp bột hồng là 419,1ºC. Dựa vào nhiệt độ trung bình tháng của tỉnh Tây Ninh, Phú Yên trong các năm nghiên cứu đã tính được tổng nhiệt độ hữu hiệu trong một năm của rệp sáp bột hồng ở hai tỉnh này. Trên cơ sở này đã tính được số thế hệ lý thuyết của rệp sáp bột hồng ở Tây Ninh, Phú Yên tương ứng là 11,1- 11,7 và 10,7-11,4 thế hệ/năm. Trong tự nhiên ở Congo đã ghi nhận rệp sáp bột hồng có 9 thế hệ/năm (CABI, 2005). 4. KẾT LUẬN Ở điều kiện ổn định (nhiệt độ: 20oC, 25oC, 30oC; ẩm độ: 62%; chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm) với thức ăn là lá cây sắn giống KM 98-7, rệp sáp non của rệp sáp bột hồng phát triển thành trưởng thành cái trải qua 3 tuổi. Thời gian vòng đời kéo dài từ 27,57 ngày ở 30oC đến 79,68 ngày ở 20oC. Trong đó, thời gian trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng tương ứng là 5,89-17,05; 16,11-44,05 và 5,57-18,58 ngày. Rệp sáp bột hồng sinh sản đơn tính. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái biến động từ 252,0 trứng/cái ở 30oC đến 458,38 trứng/cái ở 25oC. Trưởng thành cái có thể sống trung bình được từ 22,06 ngày ở 30oC đến 48,06 ngày ở 20oC và thời gian đời của rệp sáp bột hồng trung bình từ 44,0 ngày ở 30oC đến 107,89 ngày ở 20oC. Sự gia tăng nhiệt độ thí nghiệm từ 20oC đến 30oC đã làm tăng tốc độ sinh trưởng dẫn đến rút ngắn thời gian một thế hệ, tuổi thọ trưởng thành, thời gian đời, thời gian đẻ trứng, giảm sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng. Quá trình phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng ở 30oC kém đồng đều hơn so với ở 25oC và 20oC. Đây là yếu tố gây hiện tượng gối lứa ở rệp sáp bột hồng. Nhiệt độ khởi điểm phát dục của pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng, chung cho cả vòng đời tương ứng là 14,7oC; 14,5oC; 15,7oC và 14,8oC. Về lý thuyết, ở Tây Ninh và Phú Yên trong một năm rệp sáp bột hồng có thể hoàn thành tương ứng được 11,1-11,7 và 10,7-11,4 thế hệ.

pdf9 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp sáp bột hồng phenacoccus manihoti (matile-Ferrero, 1977) (homoptera: pseudococcidae) trong phòng thí nghiệm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 18 đối chứng không xử lý và có chiều hướng giảm hơn so với lô xử lý thuốc hóa học. Tiếp tục khảo nghiệm chế phẩm ở quy mô rộng hơn và ở nhiều vùng sinh thái. Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất và bảo quản chế phẩm từ nấm P. lilacinus. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chen Guan Pau, Chan Teck Stephen Leong, Sing King Wong, Lily Eng, Make Jjiwan, Franklin Ragai Kkundat, Zakry Fitri Bin Ab Aziz, Osumanu Haruna Ahmed and Nik Muhammad Majid, 2012. Isolation of Indigenous Strains of Paecilomyces lilacinus with antagonistic activity against Meloidogyne incognita. International Journal of Agriculture & Biology, 14: 197–203. 2. Đào Thị Lan Hoa, Trần Kim Loang, Lê Đình Đôn, Nguyễn Tăng Tôn, Lê Đăng Khoa Ngô Thị Xuân Thịnh, Trần Thị Xê, Nguyễn Thị Thiên Trang, Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Tiến Sỹ, Cù Thị Dần, Trần Thị Thường, 2012. Kết quả nghiên cứu một số bệnh hại chính trên cây hồ tiêu và biện pháp quản lý theo hướng bền vững tại Tây Nguyên. Hội thảo quốc gia Bệnh hại thực vật, trang 288 – 301. 3. Dropkin V. H., 1980. Introduction to plant nematology. John Wiley and Sons, New York. 4. Esfahani M. Nars and B. Ansari Pour, 2006. The effects of Paecilomyces lilacinus on the Pathogenesis of Meloidogyne Javanica and Tomato plant growth parameters. Iran Agricultural Research ,_Vol. 24.25,_Issue 1.2: 67-76. 5. Hano Pura and Khan Matiyar Rahaman, 2016. Evaluation of fungal (Paecilomyces lilacinus) formulations against root knot nematode infecting tomato. Bangladesh Journal of Botany, 45 (5): 1003-1013. 6. Hooper D.J., 1986. Extraction of free living stages from soil. Laboratory method for work with plant and soil nematodes. 6 ed. London. 7. Hussey R.S., K.R. Barker, 1973. A comparison of methods of collecting inocula for Meloidogyne spp., including a new technique. Plant Dis. Rep., 57: 1025–1028. 8. Morgan-Jones G., J.F. White and R. Rodriguez- Kabana, 1984. Phytonematode pathology: Ultrastructural studies II. Parasitism of Meloidogyne arenaria eggs and larvae by Paecilomyces lilacinus. Nematropica, 14: 57–71. 9. Nguyễn Thị Hai, Phan Ánh Ngân, 2017. Đánh giá một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng trừ tuyến trùng của nấm Paecilomyces lilacinus HT1. Kỷ yếu hội thảo khoa học Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng theo hướng hữu cơ sinh học trong phát triển nông nghiệp xanh. Nxb Nông nghiệp, trang 207-213. 10. Nguyễn Tăng Tôn, Nguyễn Thị Hương, Lê Quang Nhựt, Nguyễn Mộng,, Đỗ Trung Bình, Nguyễn Lương Thiện, Đỗ Đình Đan, Lã Phạm Lân, Đoàn Văn Trung, Trần Kimm Loang, Trần Thị Thu Hà, 2010. Nghiên cứu các giải pháp quản lý tổng hợp dịch hại phát sinh từ đất trên cây hồ tiêu. Báo cáo tổng kết đề tài trọng điểm cấp Bộ 2006-2010. Bộ nông nghiệp và phát triển Nông thôn. Phản biện: GS-TS-NCVCC. Phạm Văn Lầm MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA RỆP SÁP BỘT HỒNG Phenacoccus manihoti (Matile-Ferrero, 1977) (Homoptera: Pseudococcidae) TRONG PHÕNG THÍ NGHIỆM Bio-Ecological Characteristics of The Cassava Mealybug, Phenacoccus manihoti (Matile-Ferrero, 1977) (Hom.: Pseudococcidae) under Laboratory Conditions Đỗ Hồng Khanh 1 , Phạm Văn Lầm 2 và Lê Thị Tuyết Nhung 3 Ngày gửi bài: 02.05.2018 Ngày chấp nhận đăng: 05.06.2018 Abstract Bio-ecological characteristics of the cassava mealybug, Phenacoccus manihoti (Matile-Ferrero, 1977) (Hom.: Pseudococcidae) was studied under laboratory conditions at constant temperatures of 20°C, 25°C and 30°C, 62% RH and a photoperiod of 16 h light:8 h dark using leaves of cassava variety KM 98-7 as food. In this study, all nymphs pass through 3 instars. With increasing in tested temperatures, developmental time of all stages and life span of the cassava mealybug decreased. The duration of egg, nymphal stages and the 1. Cục Bảo vệ thực vật 2. Hội Côn trùng học Việt Nam 3. Viện Bảo vệ thực vật Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 19 pre-oviposition period at temperature of 20°C, respectively, increased 2.9, 2.7, 3.3 times in comparison with that of at 30°C. It indicates that the pre-oviposition period of this pest was impacted most strongly by the lowest tested temperature (20°C). The life span of the cassava mealybug decreased from 79.68 days at 20°C to 27.57 days at 30°C (it was shortened about 2.9 times). The cassava mealybug, P. manihoti reproduce by parthenogenesis. The fecundity of females ranged from 252.0 eggs/female at 30 o C to 458.38 eggs/female at 25 o C. The longevity of oviposited-females lasted for 22.06-48.06 days. Calculated threshold temperature for development of egg, nymph, the pre-oviposition period and life cycle of the cassava mealybug were 14.7 o C, 14.5 o C, 15.7 o C and 14.8 o C, respectively. In theory, the cassava mealybug can complete about 11.1-11.7 and 10.7-11.4 generations per year at Tay Ninh and Phu Yen province, respectively. Keywords: Bio-ecological characteristics, cassava mealybug, Phenacoccus manihoti, Phu Yen, Tay Ninh 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti có nguồn gốc phát sinh ở vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ (Gutierrez et al., 1988; Löhn et al., 1990; Muniappan et al., 2009; Parsa et al., 2012; Sartiami et al., 2015). Vào đầu thập niên 1970, rệp sáp bột hồng đã ngẫu nhiên xâm nhập vào phía tây châu Phi và tàn phá cây sắn ở vùng này. Đến năm 1987, nó đã xâm lấn ở 31 trong tổng số 35 nước thuộc dải trồng sắn châu Phi (Herren, 1990; Neuenschwander et al., 1990). Tháng 4 năm 2008, rệp sáp bột hồng được phát hiện ở Thái Lan và đã trở thành sâu hại chính ở các vùng trồng sắn của nước này từ năm 2009. Sau đó, rệp sáp bột hồng đã được phát hiện có ở Campuchia vào năm 2009, ở Indonesia vào năm 2010, ở Lào vào năm 2011. Tại Việt Nam, vào tháng 5 năm 2012, đã phát hiện rệp sáp bột hồng ở Tây Ninh, sau đó đã ghi nhận được ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Trị, Thanh Hóa, (FAO-IPM, 2013; Parsa et al., 2012;). Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về rệp sáp bột hồng. Tại Việt Nam, những nghiên cứu về rệp sáp bột hồng còn rất hạn chế. Bài viết này cung cấp kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp bột hồng. 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nguồn rệp sáp bột hồng P. manihoti dùng trong nghiên cứu này được thu trong tháng 8-9 năm 2015 tại vùng trồng sắn của tỉnh Quảng Trị. Quả bí ngô ở giai đoạn bắt đầu chín vàng được sử dụng làm thức ăn trong phòng để nuôi rệp sáp bột hồng tạo nguồn rệp sáp bột hồng làm thí nghiệm. Rệp sáp bột hồng đã thu thập được thả lên quả bí ngô đặt trong lồng nuôi côn trùng (kích thước 60 x 40 x 40 cm). Lồng lưới được phủ tấm vải tối màu (nhằm hạn chế sự di chuyển ra ngoài của rệp sáp bột hồng) và đặt trong phòng thí nghiệm (20-30 o C, 70-75% ẩm độ). Rệp sáp bột hồng được nuôi một thế hệ trên quả bí ngô sau đó dùng làm thí nghiệm nghiên cứu đặc điểm sinh vật học. Thức ăn dùng nuôi rệp sáp bột hồng trong thí nghiệm là lá của cây sắn giống KM 98-7. Cây sắn được trồng trong cốc nhựa (cao 25 cm, đường kính 15cm) ở trong nhà lưới cách ly côn trùng. Mỗi cốc nhựa trồng một hom sắn (đất trồng sắn được khử trùng). Khi mầm cây sắn được 3-4 lá thì tiến hành thí nghiệm. Các cốc nhựa trồng cây sắn được đặt trong khay nước để tránh sự xâm nhập của kiến và sự phát tán ra ngoài của rệp sáp bột hồng. Rệp sáp bột hồng được nuôi cá thể trong tủ sinh thái côn trùng (nhãn hiệu RGX-400E) ở ba mức nhiệt độ 20ºC, 25ºC, 30ºC với cùng 62% ẩm độ và chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm. Các ổ trứng của rệp sáp bột hồng mới đẻ (trong vòng 24 giờ) trên quả bí ngô được nhẹ nhàng chuyển bằng bút lông lên góc giữa các thùy của lá cây sắn có 3-4 lá trồng trong cốc nhựa. Mỗi nhiệt độ lây nhiễm 100 trứng lên các cây sắn thí nghiệm. Hàng ngày theo dõi sự phát dục của pha trứng. Khi rệp sáp non tuổi 1 nở từ trứng đã cố định vị trí dinh dưỡng trên các thùy lá sắn thì tiến hành đánh số thứ tự những cá thể rệp sáp non tuổi 1 cần theo dõi. Trên mỗi thùy lá sắn chỉ để 2-3 cá thể rệp non tuổi 1 ở vị trí cách xa nhau một khoảng cách sao cho không nhầm lẫn khi theo dõi thí nghiệm (loại bỏ hết các rệp non tuổi 1 không theo dõi). Số lượng rệp non tuổi 1 được đánh số thứ tự để theo dõi đủ lớn sao cho đến cuối từng tuổi/từng giai đoạn phát triển cá thể phải có ít nhất 30 cá thể trong mỗi nhiệt độ thí nghiệm. Hàng ngày vào thời gian nhất định quan sát, theo dõi tập tính hoạt động sống ở các pha phát triển của rệp sáp bột hồng, ghi nhận thời điểm trứng nở, lột xác chuyển tuổi của rệp sáp non, thời điểm xuất hiện pha trưởng thành. Khi có Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 20 trưởng thành xuất hiện thì tiến hành theo dõi các chỉ tiêu liên quan đến sinh sản, tuổi thọ của chúng. Ít nhất phải theo dõi được 15 cá thể trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trong mỗi nhiệt độ thí nghiệm. Sử dụng công thức tính tổng nhiệt độ hữu hiệu của Blunk (1923) và Sanderson (1917) (dẫn theo т , 1969) để xác định khởi điểm phát dục của rệp sáp bột hồng. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tập tính sống Rệp sáp bột hồng P. manihoti trên cây sắn sống ở điểm sinh trưởng, cuống lá, lá đã mở. Trên lá sắn đã mở, rệp sáp bột hồng chủ yếu sống ở mặt dưới về phía gốc các thùy lá, cạnh gân chính của lá, một số sống ở cạnh gân cấp hai của lá, rất ít cá thể sống ở mặt trên của lá sắn. Trưởng thành các đẻ trứng trong túi trứng. Rệp sáp non tuổi 1 mới nở từ trứng, theo phản ứng dương với ánh sáng thường bò lên đỉnh ngọn cây sắn và bị cuốn theo gió đi nơi khác. Do đó, rệp sáp non tuổi 1 đóng vai trò rất quan trọng trong lây lan của rệp sáp bột hồng ở ruộng sắn. Rệp sáp non các tuổi khác bất động, chỉ di chuyển một đoạn rất ngắn (vài mm) sau lột xác. Trưởng thành cái cũng rất ít di chuyển và thường đẻ trứng ở điểm sinh trưởng, mặt dưới của lá đã mở và cuống lá. Những quan sát về tập tính sống như nêu trên khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả (Belloti et al., 1984; CABI, 2005; Nwanze et al., 1979). 3.2 Thời gian phát triển các pha và thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng P. manihoti Khi dinh dưỡng trên cây sắn 3-4 lá (trồng trong cốc nhựa), ở các nhiệt độ 20ºC, 25ºC, 30ºC cùng 62% ẩm độ, chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm, những rệp sáp non phát triển thành trưởng thành cái của rệp sáp bột hồng đều có 3 tuổi (bảng 1). Số tuổi rệp sáp non của rệp sáp bột hồng trong thí nghiệm này tương tự như số tuổi rệp sáp non của rệp sáp bột hồng trong nhiều thí nghiệm ở nước ngoài (Barilli et al., 2014; Nwanze, 1978; Nwanze et al., 1979; Wardani et al., 2014). Một vài tài liệu ghi rệp sáp non của rệp sáp bột hồng có 4 tuổi, nhưng tuổi 4 lại được chú thích là giai đoạn trước đẻ trứng của trưởng thành cái hoặc là giai đoạn trưởng thành cái chưa thành thục (CABI, 2005; Essien et al., 2013; Nwanze, 1978). Số tuổi rệp sáp non của rệp sáp bột hồng ở nghiên cứu này cũng tương tự như số tuổi rệp sáp non phát triển thành trưởng thành cái của các loài Phenacoccus herreni và P. gossypii hay của một số loài rệp sáp bột khác như rệp sáp giả cam Planococcus citri, rệp sáp mềm tua dài Ferrisa virgata, (Belloti et al., 1984; Nguyễn Văn Liêm, 2005; Nguyễn Thị Thủy và nnk., 2010). Rệp sáp non phát triển thành trưởng thành cái trải qua 3 tuổi là một đặc điểm chung đã được ghi nhận đối với họ rệp sáp bột Pseudococcidae (Б рxce иуc, 1963; Kosztarab and Kozar, 1988). Trong khi đó, kết quả nghiên cứu rệp sáp bột hồng ở Đại học Nông Lâm Huế lại ghi nhận được rệp sáp non có 4 tuổi (Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang, 2014). Bảng 1. Thời gian phát triển rệp sáp non các tuổi của rệp sáp bột hồng P. manihoti ở thí nghiệm trong phòng Các tuổi rệp sáp non Thời gian phát triển (ngày) ở các điều kiện thí nghiệm 20 o C, 62% ẩm độ 25 o C, 62% ẩm độ 30 o C, 62% ẩm độ Phạm vi biến động Trung bình Phạm vi biến động Trung bình Phạm vi biến động Trung bình Tuổi 1 13-22 17,92±0,29 a 8-14 9,37±0,25 b 4-9 6,32±0,14 c Tuổi 2 9-18 12,26±0,28 a 5-9 6,89±0,15 b 3-9 4,70±0,19 c Tuổi 3 9-18 13,87±0,20 a 6-10 7,50±0,20 b 3-9 5,08±0,23 c Ghi chú: n=30; trong cùng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự khác nhau có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy P<0,05 Trong cả 3 nhiệt độ thí nghiệm, rệp sáp non tuổi 1 của rệp sáp bột hồng đều có thời gian phát triển dài nhất, kéo dài từ 6,32 ngày ở nhiệt độ 30 o C đến 17,92 ngày ở nhiệt độ 20 o C và rệp sáp non tuổi 2 có thời gian phát triển ngắn nhất, chỉ từ 4,70 ngày ở nhiệt độ 30 o C đến 12,26 ngày ở nhiệt độ 20 o C (bảng 1). Xu thế tương tự về thời gian phát triển của các Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 21 tuổi rệp sáp non cũng ghi nhận được trong các nghiên cứu của Barilli và nnk. (2014), Nwanze (1978), Nwanze và nnk. (1979). Nhưng, trong thí nghiệm của Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang (2014) thì thời gian phát triển các tuổi rệp sáp non lại rút ngắn dần theo tuổi của chúng. Ở nhiệt độ 25 o C, rệp sáp non các tuổi có thời gian phát triển biến động với biên độ hẹp hơn: rệp sáp non các tuổi có thời gian phát triển dài nhất chỉ gấp 1,7-1,8 lần thời gian phát triển ngắn nhất của tuổi tương ứng (so 14 ngày với 8 ngày, 9 ngày với 5 ngày và 10 ngày với 6 ngày). Còn ở 30 o C, rệp sáp non các tuổi có thời gian phát triển biến động với biên độ rộng hơn: rệp sáp non các tuổi có thời gian phát triển dài nhất gấp 2,3-3,0 lần thời gian phát triển ngắn nhất của tuổi tương ứng (so 9 ngày với 3 hoặc 4 ngày) (bảng 1). Như vậy, tăng nhiệt độ từ 25 o C lên 30 o C đã gây ảnh hưởng rõ ràng không chỉ đến thời gian phát triển mà cả sự đồng đều về thời gian phát triển của các cá thể rệp sáp non của rệp sáp bột hồng. Thời gian phát triển rệp sáp non các tuổi cũng như cả pha rệp sáp non của rệp sáp bột hồng ở 30 o C trong nghiên cứu này gần tương tự như trong thí nghiệm của Essien et al. (2013) và Wardani et al. (2014). Theo các tác giả này, nuôi trên cây sắn rệp sáp non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 của rệp sáp bột hồng có thời gian phát triển tương ứng là 6,0-6,23; 4,83-4,92; 4,52-6,0 và thời gian phát triển của pha rệp sáp non là 15,67-16,83 ngày. Ở ẩm độ ổn định 62% và chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm, khi nhiệt độ thí nghiệm gia tăng từ 20ºC đến 30ºC thì rệp sáp non phát triển không chỉ nhanh hơn, mà còn đồng đều hơn. Thời gian phát triển của rệp sáp non các tuổi ở nhiệt độ thấp đều kéo dài hơn so với tuổi tương ứng ở nhiệt độ cao hơn và các cá thể rệp sáp non cùng tuổi ở nhiệt độ thấp hơn có thời gian phát triển biến động rộng hơn so với chỉ tiêu này của tuổi tương ứng ở nhiệt độ cao hơn. Thí dụ, đối với rệp sáp non tuổi 1, ở nhiệt độ 20 o C có thời gian phát triển trung bình là 17,92 ngày với phạm vi biến động là 9 ngày (13-22 ngày) và ở nhiệt độ 30 o C chỉ tiêu này trung bình đạt 6,32 ngày với phạm vi biến động là 5 ngày (4-9 ngày). Thời gian phát triển của rệp sáp non các tuổi trong ba nhiệt độ thí nghiệm đều khác nhau ở mức có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05 (bảng 1). Sự tăng nhiệt độ thí nghiệm đã rút ngắn thời gian phát triển các pha, thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng. Kết quả bảng 1 và bảng 2 cho thấy thời gian phát triển trứng, rệp sáp non tuổi 1, rệp sáp non tuổi 2, rệp sáp non tuổi 3 ở 20 o C tương ứng kéo dài gấp 2,9; 2,8; 2,6 và 2,7 lần so với các chỉ tiêu này ở 30 o C (tương ứng so 17,05 ngày với 5,89 ngày; 17,92 ngày với 6,32 ngày; 12,26 ngày với 4,7 ngày và 13,87 ngày với 5,08 ngày). Nhưng, thời gian trước đẻ trứng ở 20 o C kéo dài gấp tới 3,3 lần so với chỉ tiêu này ở 30 o C (so 18,58 ngày với 5,57 ngày). Như vậy, giai đoạn trước đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng bị nhiệt độ thấp (20 o C) tác động mạnh nhất so với các giai đoạn phát triển khác. Thời gian vòng đời giảm từ 79,68 ngày ở 20 o C xuống còn 27,57 ngày ở 30 o C, rút ngắn được 2,9 lần. Thời gian phát triển các pha, thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng (tương ứng) trong ba nhiệt độ thí nghiệm đều khác nhau có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy P<0,05 (bảng 2). Ở nhiệt độ 25 o C, thời gian phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng biến động với biên độ hẹp hơn: pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng có thời gian phát triển dài nhất chỉ gấp 1,1-1,9 lần thời gian phát triển ngắn nhất của pha/giai đoạn phát triển tương ứng (tương ứng so 9 ngày với 8 ngày, 27 ngày với 21 ngày và 15 ngày với 8 ngày); thời gian vòng đời dài nhất gấp 1,3 lần thời gian vòng đời ngắn nhất (so 46 ngày với 36 ngày). Thời gian phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng ở 20 o C có xu thế biến động gần tương tự như ở 25 o C. Còn ở 30 o C, thời gian phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng biến động với biên độ rộng hơn: pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng có thời gian phát triển dài nhất gấp 1,4- 2,3 lần thời gian phát triển ngắn nhất của pha/giai đoạn phát triển tương ứng (tương ứng so 7 ngày với 5 ngày, 22 ngày với 11 ngày và 9 ngày với 4 ngày); thời gian vòng đời dài nhất gấp 1,8 lần thời gian vòng đời ngắn nhất (so 35 ngày với 20 ngày) (bảng 2). Như vậy, tăng nhiệt độ từ 25 o C lên 30 o C không chỉ làm rút ngắn thời gian phát triển cá thể mà còn ảnh hưởng đến sự đồng đều về thời gian phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 22 Bảng 2. Thời gian phát triển các pha và thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti ở thí nghiệm trong phòng Các pha/giai đoạn phát triển Thời gian phát triển (ngày) ở các điều kiện thí nghiệm 20 o C, 62% ẩm độ 25 o C, 62% ẩm độ 30 o C, 62% ẩm độ Biến động Trung bình Biến động Trung bình Biến động Trung bình Trứng 16-18 17,05±0,08 a 8-9 8,76±0,17 b 5-7 5,89±0,08 c Rệp sáp non 36-51 44,05±0,46 a 21-27 23,76±0,28 b 11-22 16,11±0,34 c Trước đẻ trứng 15-20 18,58±0,29 a 8-15 8,56±0,29 b 4-9 5,57±0,22 c Thời gian vòng đời 71-86 79,68±0,48 a 36-46 41,08±0,39 b 20-35 27,57±0,45 c Ghi chú: n=30; trong cùng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự khác nhau có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy P<0,05. Ở 25 o C trong nghiên cứu này, thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, từ trứng đến trưởng thành của rệp sáp bột hồng (tương ứng là 8,76; 23,76; 32,52 ngày) đều ngắn hơn so với các chỉ tiêu này (tương ứng là 9,13; 25,87 và 35,0 ngày) trong thí nghiệm cùng ở 25 o C của Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang (2014). Cũng ở 25 o C và chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm trong nghiên cứu này, rệp sáp bột hồng có thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng, thời gian vòng đời (tương ứng là 8,76; 23,76; 8,56; 41,08 ngày) đều kéo dài hơn đáng kể so với trong nghiên cứu của Barilli et al. (2014). Theo các tác giả này, ở 25±2 o C và chế độ chiếu sáng 14 giờ/ngày đêm, thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng, thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng tương ứng là 7,7; 17,5; 6,2 và 31,4 ngày. Ở 30 o C và 62% ẩm độ trong nghiên cứu này, rệp sáp bột hồng có thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, thời gian vòng đời (tương ứng là 5,89; 16,11; 27,57 ngày) đạt tương tự, còn thời gian trước đẻ trứng (5,57 ngày) thì kéo dài hơn so với nghiên cứu của Essien et al. (2013). Theo các tác giả này, nuôi trên cây sắn, thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng, thời gian vòng đời của rệp sáp bột hồng tương ứng là 6,07; 16,83; 4,56 và 27,46 ngày. Cũng ở 30 o C và 62% ẩm độ trong nghiên cứu này, rệp sáp bột hồng có thời gian phát triển rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng, thời gian vòng đời (tương ứng là 16,11; 5,57; 27,57 ngày) đều hơi dài hơn, còn thời gian phát triển trứng (5,89 ngày) lại ngắn hơn so với kết quả nghiên cứu của Le Rü và Fabres (1987). Theo các tác giả này, rệp sáp bột hồng ở 30 o C và 75% ẩm độ có thời gian phát triển trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng và thời gian vòng đời tương ứng là 7,1; 14,2; 4,7 và 26,0 ngày. Những khác nhau về thời gian phát triển các pha, vòng đời của rệp sáp bột hồng là đương nhiên vì các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều điều kiện rất khác nhau và đồng thời cho thấy rệp sáp bột hồng có tính dẻo sinh thái khá cao. 3.3 Sinh sản và thời gian sống của rệp sáp bột hồng Trong các thí nghiệm theo dõi đặc điểm sinh vật học đối với rệp sáp bột hồng của nghiên cứu này đều đã không ghi nhận được sự xuất hiện của trưởng thành đực, tất cả các rệp sáp non nuôi trong thí nghiệm đều phát triển thành trưởng thành cái. Điều này có nghĩa là rệp sáp bột hồng sinh sản đơn tính (parthenogenetic). Kết quả này tương tự như nghiên cứu của nhiều tác giả (Barilli et al., 2014; CABI, 2005; Trần Đăng Hòa và Nguyễn Thị Giang, 2014; Le Rü and Fabres, 1987; Leuschner, 1978; Nwanze, 1978; Nwanze et al., 1979;). Sinh sản đơn tính là đặc điểm khác biệt của loài rệp sáp bột hồng P. manihoti so với một số loài rệp sáp bột khác cùng giống như loài P. herreni, P. gossypii, (Bellotti et al., 1984). Ở nhiệt độ 20 o C và 25 o C, trưởng thành cái rệp sáp bột hồng có thời gian đẻ trứng tương tự nhau, trung bình là 28,67 và 28,89 ngày với phạm vi biến động khá lớn (15-41 ngày). Ở 30 o C, thời gian đẻ trứng rút ngắn (khoảng 1,7 lần) chỉ còn trung bình là 17,06 ngày với phạm vi biến động hẹp hơn (11-21 ngày). Thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái ở 20 o C và 25 o C so với ở 30 o C sai khác có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy P<0,05 (bảng 3). Trong nghiên cứu này, ở 25 o C rệp sáp bột hồng có thời gian đẻ trứng dài hơn đáng kể so với nghiên cứu của Barilli et al. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 23 (2014) và Essien et al. (2013). Theo các tác giả này, thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở 25±2 o C kéo dài chỉ từ 14,6 ngày đến 20,85 ngày. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng rất biến động, từ 132 trứng/cái ở 30 o C đến 618 trứng/cái ở 25 o C. Ở 20 o C và 25 o C, trưởng thành cái rệp sáp bột hồng có sức đẻ trứng trung bình (440,13-458,38 trứng/cái) cao hơn (gấp khoảng 1,8 lần) so với sức đẻ trứng trung bình (252,0 trứng/cái) ở 30 o C. Sự khác nhau này đều ở mức có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05 (bảng 3). Như vậy, nhiệt độ thí nghiệm tăng từ 25 o C lên 30 o C, quan sát thấy sức sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng giảm. Điều này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Lema và Herren (1985). Theo các tác giả này, sức đẻ trứng của trưởng thành cái đạt 585 trứng/cái ở 25 o C, nhưng chỉ là 425,0 trứng/cái ở 30 o C. Trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trong cùng nhiệt độ 20 o C hay 25 o C có sức đẻ trứng đồng đều hơn với biên độ biến động hẹp hơn: sức đẻ trứng cao nhất chỉ nhiều gấp 1,9-1,96 lần sức đẻ trứng thấp nhất (so 584 trứng/cái với 309 trứng/cái và 618 trứng/cái với 316 trứng/cái). Còn ở nhiệt độ cao hơn (30 o C), trưởng thành cái có sức đẻ trứng kém đồng đều hơn với biên độ biến động rộng hơn: sức đẻ trứng cao nhất gấp 2,9 lần sức đẻ trứng thấp nhất (so 387 trứng/cái với 132 trứng/cái) (bảng 3). Như vậy, nhiệt độ 30 o C không chỉ làm giảm rất rõ ràng sức đẻ trứng mà còn ảnh hưởng đến sự đồng đều về sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng. Bảng 3. Một số chỉ tiêu về sinh sản và thời gian sống của rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti ở thí nghiệm trong phòng Các chỉ tiêu theo dõi Các điều kiện thí nghiệm 20 o C, 62% ẩm độ 25 o C, 62% ẩm độ 30 o C, 62% ẩm độ Biến động Trung bình Biến động Trung bình Biến động Trung bình Sức đẻ trứng (trứng/cái) 309-584 440,13±84,38 a 316-618 458,38±23,44 a 132- 387 252,0±77,6 b Thời gian đẻ trứng (ngày) 15-41 28,67±1,00 a 15-41 28,89±1,21 a 11-21 17,06±0,52 b Tuổi thọ của trưởng thành cái (ngày) 36-56 48,06±2,28 a 23-50 38,53±1,27 b 15-27 22,06±0,59 c Thời gian đời (ngày) 96-112 107,89±1,51 a 53-80 70,74±1,33 b 37-50 44,0±0,68 c Ghi chú: n=30; trong cùng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy P<0,05. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trong nghiên cứu này cao hơn nhiều so với một số nghiên cứu đã công bố. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng đã ghi nhận được trong nghiên cứu của Trần Đăng Hòa và Nguyễn Thị Giang (2014) trung bình là 200,3- 273,1 trứng/cái (98-368 trứng/cái), của Barilli et al. (2014) là 247,1 trứng/cái (37-497 trứng/cái), của Wardani et al. (2014) là 318,67-386,37 trứng/cái, của Essien et al. (2013) là 370 trứng/cái (148-508 trứng/cái), của Leuschner (1978) là 200-400 trứng/cái. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trong nghiên cứu này tương tự như trong nghiên cứu của Nwanze (1978). Theo các tác giả này, sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng dao động trong phạm vi 210-715 trứng/cái, trung bình là 440,89 trứng/cái. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trong nghiên cứu này lại thấp hơn so với 425,0-585 trứng/cái trong thí nghiệm của Lema và Herren (1985). Sức đẻ trứng trong 1 ngày của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở các nhiệt độ thí nghiệm (20 o C, 25 o C, 30 o C) hoàn toàn không giống nhau và trung bình tương ứng đạt 3,25-22,1; 2,2-22,7 và 0,5-26,3 trứng/cái/ngày (hình 1). Sức đẻ trứng trong 1 ngày của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nghiên cứu này đạt rất thấp so vơi nghiên cứu của Trần Đăng Hòa và Nguyễn Thị Giang (2014). Theo các tác giả này, mỗi trưởng thành Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 24 cái rệp sáp bột hồng trong 1 ngày có thể đẻ trung bình 69,77-75,38 trứng. Nhưng, sức đẻ trứng trong 1 ngày của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nghiên cứu này đạt không thấp hơn so với nghiên cứu của Nwanze (1978) và Nwanze et al. (1979). Theo các tác giả này, sức đẻ trứng trong 1 ngày của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng trung bình là 17,64 trứng/cái/ngày. Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ. Thời điểm bắt đầu đẻ trứng, thời gian có sức đẻ trứng cao, thời gian kết thúc đẻ trứng ở các nhiệt độ thí nghiệm khác nhau (20 o C, 25 o C, 30 o C) hoàn toàn không giống nhau. Ở nhiệt độ thí nghiệm thấp nhất (20 o C) trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng muộn nhất (từ ngày tuổi thứ 16); thời gian có sức đẻ trứng cao (18,5-21,1 trứng/cái/ngày) quan sát được vào ngày tuổi thứ 20-24 của trưởng thành cái; thời điểm kết thúc đẻ trứng là ngày tuổi thứ 53 của trưởng thành cái. Đường biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nhiệt độ 20 o C bắt đầu ở mức thấp, gia tăng dần, đạt đỉnh cao vào ngày đẻ trứng thứ 6 (ngày tuổi thứ 21), sau đó giảm nhẹ dần có thời gian dài với xu hướng đi ngang, không dốc như đường biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở 30 o C. Đường biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nhiệt độ 25 o C gần tương tự như ở 20 o C, chỉ khác là các mốc thời gian bắt đầu, kết thúc đẻ trứng diễn ra sớm hơn so với ở 20 o C. Trong khi đó, ở nhiệt độ thí nghiệm cao nhất (30 o C), trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng từ ngày tuổi thứ 4 và có sức đẻ trứng trong ngày (26,3 trứng/cái/ngày) đạt cao nhất ngay từ ngày đầu đẻ trứng và sau đó sức đẻ trứng trong ngày giảm dần và kết thúc đẻ trứng trong thời gian không dài (thời điểm kết thúc đẻ trứng là ngày tuổi thứ 23 của trưởng thành cái). Đường biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nhiệt độ 30 o C bắt đầu ngay ở mức cao nhất, sau đó giảm nhanh và dốc nhất, ngắn nhất so với đường biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng ở 20 o C và 25 o C. (hình 1). Hình 1. Nhịp điệu đẻ trứng của trƣởng thành cái rệp sáp bột hồng ở nhiệt độ thí nghiệm khác nhau Trưởng thành cái có thể sống trung bình được từ 22,06 ngày ở 30 o C đến 48,06 ngày ở 20 o C. Thời gian đời của rệp sáp bột hồng ở 30 o C chỉ trung bình là 44,0 ngày và đạt tới 107,89 ngày ở 20 o C. Sự khác nhau này đều ở mức có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05 (bảng 3). Như vậy, nhiệt độ thí nghiệm tăng từ 20 o C lên 30 o C đã rút ngắn khoảng 2,2 lần thời gian sống của trưởng thành cái và khoảng 2,5 lần thời gian đời của rệp sáp bột hồng. 3.4 Nhiệt độ khởi điểm phát dục, số thế hệ lý thuyết trong năm của rệp sáp bột hồng Dựa vào số liệu về thời gian phát triển của rệp sáp bột hồng nuôi ở nhiệt độ 25 o C và 30 o C cùng 62% ẩm độ đã tính được nhiệt độ khởi điểm phát dục của pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng tương ứng là 14,7 o C; 14,5 o C; 15,7 o C. Nhiệt độ khởi điểm phát dục tính chung cho cả vòng đời của rệp sáp bột hồng là 0 5 10 15 20 25 30 1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 39 41 43 45 47 49 51 53 Tr ứ n g/ cá i/ n gà y Ngày sau vũ hóa của trưởng thành cái 30°C 25°C 20°C Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 25 14,8 o C. Kết quả này tương tự như kết quả của nhiều nghiên cứu ở ngoài nước (CABI, 2005; Iheagwam, 1981; Le Rü and Fabres, 1987; Lema and Herren, 1985; Nwanze et al., 1979). Nghiên cứu của các tác giả này chỉ ra nhiệt độ khởi điểm phát dục của rệp sáp bột hồng là 14,7 o C. Nhưng, theo Iheagwam và Eluwa (1983), nhiệt độ khởi điểm phát dục của các pha phát triển và chung cho cả vòng đời của rệp sáp bột hồng biến động trong phạm vi 14-20ºC. Với nhiệt độ khởi điểm phát dục là 14,8 o C, thì tổng nhiệt độ hữu hiệu cần cho một vòng đời (một thế hệ) của rệp sáp bột hồng là 419,1ºC. Dựa vào nhiệt độ trung bình tháng của tỉnh Tây Ninh, Phú Yên trong các năm nghiên cứu đã tính được tổng nhiệt độ hữu hiệu trong một năm của rệp sáp bột hồng ở hai tỉnh này. Trên cơ sở này đã tính được số thế hệ lý thuyết của rệp sáp bột hồng ở Tây Ninh, Phú Yên tương ứng là 11,1- 11,7 và 10,7-11,4 thế hệ/năm. Trong tự nhiên ở Congo đã ghi nhận rệp sáp bột hồng có 9 thế hệ/năm (CABI, 2005). 4. KẾT LUẬN Ở điều kiện ổn định (nhiệt độ: 20 o C, 25 o C, 30 o C; ẩm độ: 62%; chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm) với thức ăn là lá cây sắn giống KM 98-7, rệp sáp non của rệp sáp bột hồng phát triển thành trưởng thành cái trải qua 3 tuổi. Thời gian vòng đời kéo dài từ 27,57 ngày ở 30 o C đến 79,68 ngày ở 20 o C. Trong đó, thời gian trứng, rệp sáp non, thời gian trước đẻ trứng tương ứng là 5,89-17,05; 16,11-44,05 và 5,57-18,58 ngày. Rệp sáp bột hồng sinh sản đơn tính. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái biến động từ 252,0 trứng/cái ở 30 o C đến 458,38 trứng/cái ở 25 o C. Trưởng thành cái có thể sống trung bình được từ 22,06 ngày ở 30 o C đến 48,06 ngày ở 20 o C và thời gian đời của rệp sáp bột hồng trung bình từ 44,0 ngày ở 30 o C đến 107,89 ngày ở 20 o C. Sự gia tăng nhiệt độ thí nghiệm từ 20 o C đến 30 o C đã làm tăng tốc độ sinh trưởng dẫn đến rút ngắn thời gian một thế hệ, tuổi thọ trưởng thành, thời gian đời, thời gian đẻ trứng, giảm sức đẻ trứng của trưởng thành cái rệp sáp bột hồng. Quá trình phát triển cá thể của rệp sáp bột hồng ở 30 o C kém đồng đều hơn so với ở 25 o C và 20 o C. Đây là yếu tố gây hiện tượng gối lứa ở rệp sáp bột hồng. Nhiệt độ khởi điểm phát dục của pha trứng, rệp sáp non, giai đoạn trước đẻ trứng, chung cho cả vòng đời tương ứng là 14,7 o C; 14,5 o C; 15,7 o C và 14,8 o C. Về lý thuyết, ở Tây Ninh và Phú Yên trong một năm rệp sáp bột hồng có thể hoàn thành tương ứng được 11,1-11,7 và 10,7-11,4 thế hệ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Barilli D.R., V. Pietrowski, A.P.G.D. Wengrat, D. Gazola, R. Ringenberg, 2014. Revista Colombiana de Entomologia, 40(1): 21-24. 2. Bellotti A.C., J.A. Reyes, A.M. Varela, 1984. 6 th Symposium of the Inter. Soc. for Tropical Root Crops, 1983, Lima, Peru, CIP, 339-352. 3. CABI, 2005. Crop Protection Compendium. 4. Essien R.A., J.A. Odebiyi, M.S. Ekanem, 2013. Res. Jour. of Agric. and Envir. Management, Vol. 2(12) :457-466. 5. FAO-IPM, 2013. Report of final meeting. FAO TCP Project (TCP/RAS/3311), 4-8 Nov., 2013, Ho Chi Minh City, Vietnam. 6. Gutierrez A.P., P. Neuenschwander, F. Schulthess, H.R. Herren, J.U. Baumgaertner, B. Wermeliger, B. Löhr, C.K. Ellis, 1988. Journ. of Applied Ecology, 25: 921-940. 7. Herren H.R., 1990. Integrated Pest Management for Tropical root and tuber crops (Eds. Hahn S.K., F.E. Caveness). IITA, Ibadan, Nigeria: 33-41. 8. Iheagwam E.U., 1981. Revue de Zoologie Africaine, 95(4): 959-967. 9. Iheagwam E.U., M.C. Eluwa, 1983. Deutsche Entomologiesche Zeitschrief, Vol. 30(1-3):17-22. 10. Kosztarab M., F. Kozar, 1988. Scale insects of Central Europe. Akademiai Kiado, Budapest, 19-20. 11. Lema K.M., H.R. Herren, 1985. Entomologia Experimentalis et Applicata, Vol. 38(2): 171-175. 12. Le Rü B., G. Fabres, 1987. Acta Oecologica/Oecol. Applic., Vol.8(2): 165-174. 13. Leuschner K., 1978. Proceed. of the international workshop on the cassava mealybug Phenacoccus manihoti Mat.-Ferr. (Pseudococcidae) held at INERA-M’vuazi, Bas-Zaire, Zaire, June 26-29, 1977. July 1978, Ibadan, Nigeria, 15-19. 14. Löhn B., A.M. Varela, B. Santos, 1990. Bull. Entomol. Res., 80: 417-425. 15. Muniappan R., B.M. Shepard, G.W. Watson, G.R. Carner, A. Rauf, D. Sartiami, P. Hidayat, J.V.K. Afun, G. Goergen, A.K.M.Z. Rahman, 2009. J. Agric. Urban Entomol. 26(4):167-174. 16. Neuenschwander P., W.N.O. Hammond, 1990. Integrated Pest Management for Tropical root and tuber crops (Eds. Hahn S.K., F.E. Caveness). IITA, Ibadan, Nigeria: 42-50. 17. Nwanze K.F., 1978. Proceed. of the international workshop on the cassava mealybug Phenacoccus manihoti Mat.-Ferr. (Pseudococcidae) held at INERA-M’vuazi, Bas-Zaire, Zaire, June 26-29, 1977. July 1978, Ibadan, Nigeria, 20-28. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 26 18. Nwanze K.F., K. Leuschner, H.C. Ezumah, 1979. PANS, 25(2):125-130. 19. Parsa S., T. Kondo, A. Winotai, 2012. PloS ONE, 7(10): e47675. 20. Sartiami D., G.W. Watson, R.M.N. Mohamad, H.Y. Mohd, A.B. Idris, 2015. Zootaxa, 3957(2): 235-238. 21. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Thị Vượng, Lê Xuân Vị, 2010. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 4: 5-8. 22. Trần Đăng Hòa, Nguyễn Thị Giang, 2014. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 6: 26-30. 23. Wardani N., A. Rauf, I.W. Winasa, S. Santoso, 2014. J. HPT Tropika, Vol.14(1): 64-70. 24. Б рxce иуc Н. С., 1963. Прaктичеcкий определитель кокцид (Coccoidea) культурных растений и лесных пород СССР. Издательст АН СССР, М ск а- Ле и град, 54-66 c. 25. т В. В., 1969. Экология насекомых. М ск а, Издательст “Высшая шк ла” Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM Fusarium solani GÂY BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ TRÊN CÂY CÓ MÖI Assessment of Antibacterial Activity of Actinomycetes Isolates on Fusarium solani Causing Rot Root Disease on Citrus Lê Minh Tƣờng 1 , Nguyễn Ngọc Sơn 2 , Lê Thị Ngọc Xuân 1 và Nguyễn Trƣờng Sơn 3 Ngày nhận bài: 07.06.2018 Ngày chấp nhận đăng: 18.06.2018 Abstract The objective of the research was to screen actinomycetes able to control rot root disease on citrus caused by Fusarium solani. Two hundred and twenty four (224) isolates were collected from citrus field in some province of Mekong Delta. There are 22 of 224 isolates in total presented antagonistic activity against F.solani and 3 Actinomyces isolates LM6, LM25 and LV74 showed higher stabler antagonistic ability with radiuses of inhibition zones reaches 5.9mm, 5.8mm and 5.5mm and antagonistic efficacy reaches 58.33%, 60.44% and 54.92% respectively at 7 days after co-culture. On the other hand, chitinase activity of the LM6, LM25 and LV74 actinomycetes isolates was performed on chitin medium. The result indicated that, 3 actinomyces isolates had the chitinolytic activity and LM25 isolate showed the highest chitinolytic activity with the chitin lyse halo radius of 22.7mm at 7 days after testing. Beside, the testing β-glucanase productivity of these Actinomycetes on β-glucan medium showed that LM6 isolate was the best with the β-glucan lyses halo radius of 7.12mm at 13 days after testing. Keywords: Actinomyces, chitinase, Fusarium solani, rot root disease on Citrus, β-glucanase 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với sự phát triển diện tích là sự xuất hiện nhiều loại sâu bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây có múi trong đó, bệnh vàng lá thối rễ hại cây có múi là một trong những bệnh hại quan trọng nhất (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002). Hiện 1. Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ 2. Sinh viên Đại học ngành Bảo vệ thực vật khóa 39, trường Đại học Cần Thơ 3. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tỉnh Kiên Giang nay, việc phòng và trị bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi chủ yếu dựa vào tập quán của người nông dân và biện pháp sử dụng thuốc hóa học. Nhưng việc lạm dụng thuốc hóa học dẫn đến những hậu quả như thay đổi tính độc của mầm bệnh, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và không mang lại hiệu quả kinh tế. Gần đây việc áp dụng phòng trừ sinh học vào việc quản lí bệnh hại được xem là một chiến lược lâu dài vì an toàn với con người và không gây ô nhiễm môi trường. Trong đó, xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật được cho là có nhiều tiềm năng lớn như xạ khuẩn có thể tiết ra các enzyme như chitinase,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_dac_diem_sinh_vat_hoc_va_sinh_thai_hoc_cua_rep_sap_bo.pdf