Một khía cạnh quan trọng cần được xem xét khi tái sinh cây từ phương pháp vi nhân giống là duy trì tính toàn vẹn di truyền đối với cây mẹ. Thuật ngữ 'biến dị soma' được đặt ra để chỉ sự biến đổi di truyền giữa các loại cây trồng, trong tự nhiên, sự đa dạng di truyền và sự thay đổi di truyền trong một quần thể được tạo ra thông qua các sự kiện tái tổ hợp. Trong vi nhân giống, sự tăng trưởng và sự tái sinh của các tế bào thực vật thành toàn bộ thực vật là một quá trình vô tính liên quan đến việc phân chia các tế bào. Trong quá trình này sự xuất hiện của các biến đổi tự phát là ngẫu nhiên và không kiểm soát được, biến dị soma đã được báo cáo ở các mức độ khác nhau (hình thái, tế bào học, sinh hóa và cấp độ phân tử). Điều kiện nuôi cấy, thành phần môi trường nuôi cấy, thời gian và chu kỳ nuôi cấy có thể gây đột biến và một số cơ quan nuôi cấy (mô sẹo, tế bào trần, phôi soma, ) đôi khi có thể cho thấy sự biến đổi về cả kiểu hình lẫn kiểu gen. Thông thường, sự thay đổi này xảy ra một cách tự phát và có thể là kết quả của những thay đổi tạm thời hoặc thay đổi di truyền vĩnh viễn trong tế bào hoặc mô trong suốt quá trình nuôi cấy trong ống nghiệm. Những thay đổi tạm thời là kết quả từ các tác động không phụ thuộc kiểu gen (epigenetic) hoặc tác động sinh lý, những tác động này là không thể tránh khỏi và có thể phục hồi được. Ngược lại, những thay đổi vĩnh viễn liên quan đến di truyền và thường biểu thị sự biến đổi đã tồn tại từ trước trong cây mẹ hoặc là kết quả của những biến dị de novo. Sự xuất hiện biến dị soma là một vấn đề quan tâm lớn đối với bất kỳ hệ thống vi nhân giống nào, để đánh giá sự hiện diện của nó, một số chiến lược đã được sử dụng để phát hiện các biến thể theo thời gian, dựa trên một hoặc nhiều yếu tố quyết định từ các đặc điểm hình thái hay phân tích tế bào (biến đổi số và cấu trúc trong nhiễm sắc thể), sử dụng các marker phân tử và phương pháp sinh hóa. Các nghiên cứu về biến dị soma cũng rất quan trọng với mục đích sản xuất giống cây trồng đồng nhất về mặt di truyền và cũng được sử dụng như một công cụ để tạo ra sự biến đổi di truyền có giá trị để cải thiện cây trồng thông qua việc lựa chọn các biến thể mới có khả năng kháng bệnh, cải thiện chất lượng, hoặc năng suất cao hơn (Leva et al., 2012). Bên cạnh đó, ngày nay với nhu cầu về cây giống sạch bệnh, đồng nhất cũng như đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì một số lượng lớn cây trồng có giá trị kinh tế cao bao gồm các loại rau, hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây rừng và cây dược liệu đã được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô. Hơn một tỷ cây giống mỗi năm được sản xuất bằng phương pháp này, tuy nhiên, các cây trồng vi nhân giống thường đắt hơn các cây trồng bằng phương pháp truyền thống, bởi cần nhiều trang thiết bị vận hành, môi trường nuôi cấy đặc biệt, nhiều vật tư và hóa chất đòi hỏi cần được sử dụng trong suốt quá trình nuôi cấy. Do chi phí sản xuất cao nên kéo theo giá thành sản phẩm nuôi cấy cũng cao. Để giảm thiểu chi phí người ta thường giảm chi phí từ nhân công lao động và lượng điện năng tiêu thụ, nhân giống theo hợp đồng, rút ngắn và giảm bớt một số giai đoạn nuôi cấy trong tiến trình nhân giống in vitro, tự động hóa và mở rộng quy mô sản xuất (Tomar et al., 2008).
17 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số hiện tượng bất thường trong vi nhân giống thực vật và giải pháp khắc phục, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ơng
đối trong môi trường nuôi cấy đến 35%. Điều
này cũng có thể đạt được bằng cách đặt bình nuôi
cấy trên đĩa lạnh, vì khi sử dụng đĩa lạnh hơi
nước sẽ ngưng tụ trên môi trường agar, do đó
giảm được hiện tượng thủy tinh thể (Ziv, 1991).
Ngoài trạng thái vật lý của môi trường,
nhiều thành phần hòa tan cũng có thể ảnh
hưởng đến sự phát sinh hình thái của cây.
Sucrose là carbohydrate chính được cung cấp
trong nuôi cấy in vitro. Đối với cây cẩm
chướng, chồi đỉnh có số lá bị thủy tinh thể ít
hơn khi lượng đường là 3%, thành phần sucrose
nếu được thay thế bởi dung dịch mannitol cùng
nồng độ thì lại cảm ứng sự mọng nước của lá.
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
26
Hiện tượng này xuất hiện theo mức độ khác
nhau tùy từng loài cây và đáp ứng của chúng
đối với sự gia tăng hàm lượng carbohydrate
trong môi trường. Đối với cây Philodendron,
việc bổ sung thêm mannitol làm gia tăng hàm
lượng chlorophyll trong lá nhưng không cải
thiện được sự sinh trưởng. Đối với cây hạnh
nhân và cây ô liu, rất nhiều loại carbohydrate
được thử nghiệm trong đó 4,5% fructose làm
giảm đáng kể hiện tượng thủy tinh thể
(Bahmani et al., 2009). Môi trường giàu khoáng
như môi trường MS (Murashige, Skoog, 1962)
cho thấy có khả năng làm gia tăng hiện tượng
thủy tinh thể ở một số loài cây. Dùng môi
trường có hàm lượng khoáng thấp hơn hay chỉ
bằng phân nửa khoáng MS sẽ cải thiện sự phát
triển của cây cẩm chướng và cây dưa leo; giảm
hàm lượng NH4+ trong môi trường làm gia tăng
sự hóa gỗ và giảm hiện tượng thủy tinh thể ở
cây liễu, cây mận, cây xương rồng. Gia tăng
hàm lượng Ca2+ đã được chứng minh giúp giảm
được hiện tượng thủy tinh thể ở cả loài cây thân
thảo và cây thân gỗ, tuy nhiên, việc gia tăng
nồng độ Ca2+ có thể cản trở sự hóa gỗ thông qua
hoạt động của enzyme peroxidase và sẽ cảm
ứng hình thành mô sẹo (Mayor et al., 2003).
Gần đây, các nghiên cứu đã cho thấy việc sử
dụng nano bạc (AgNPs) cũng giúp hạn chế hiện
tượng thủy tinh thể trong vi nhân giống một số
loại cây trồng. AgNPs hạn chế hiện tượng thủy
tinh thể trong vi nhân giống cây dâu tây (Dương
Tấn Nhựt et al., 2014), cây hoa cúc (Luong
Thien Nghia et al., 2017), cây hoa đồng tiền
(Hà Thị Mỹ Ngân et al., 2019) đã được ghi
nhận.
Quá trình tái sinh chồi in vitro và nhân
giống đòi hỏi cung cấp chất điều hòa sinh
trưởng trong môi trường nuôi cấy. Những chất
điều hòa sinh trưởng thường được dùng là các
chất thuộc nhóm auxin và cytokinin riêng rẽ hay
dùng chung với tỉ lệ rất đa dạng phụ thuộc vào
loài cây và loại mô dùng để nuôi cấy. Nghiên
cứu trên cây cẩm chướng cho thấy benzyl
amino purine (BA), kinetin (KIN) đã cảm ứng
hiện tượng thủy tinh thể khi sử dụng ở nồng độ
cao do gia tăng sự phân bào và thay đổi các quá
trình biến dưỡng in vitro, đây là lý do vì sao mà
nhiều loài cây lại đáp ứng một cách khác nhau
đối với các hàm lượng khác nhau của cytokinin.
Mối liên hệ giữa auxin với hiện tượng thủy tinh
thể ít được nghiên cứu và trong hầu hết các
trường hợp, ảnh hưởng của chúng đều có mối
liên hệ với cytokinin, sự mất cân bằng giữa
auxin và cytokinin cũng có thể cảm ứng hiện
tượng thủy tinh thể (Kharrazi et al., 2011).
Cây nuôi cấy in vitro được cung cấp nguồn
carbohydrate và vì thế chúng sống theo hình
thức dị dưỡng. Tuy nhiên, chất lượng ánh sáng,
thời gian và cường độ chiếu sáng cũng có ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát sinh hình thái
từ đó có vai trò trong quang hợp. Ánh sáng
kiểm soát kích thước của lá và thân cũng như
con đường phát sinh hình thái, vì vậy có ảnh
hưởng tới việc hình thành các sắc tố và hiện
tượng thủy tinh thể. Đối với cây phong lữ, cây
hoa hồng và bạch diệp lá lớn trong điều kiện
nuôi cấy in vitro sự phát triển hình thái dị
thường được cho là do cường độ ánh sáng thấp
trong phòng nuôi cấy. Tăng cường độ chiếu
sáng và làm giàu CO2 trong phòng nuôi cấy có
thể cải thiện được hiệu quả quang hợp. Sự sinh
trưởng của một số loài thực vật được đẩy mạnh
một cách rõ khi được đặt dưới điều kiện cường
độ ánh sáng cao cùng với sự làm gia tăng lượng
CO2 trong không khí bao quanh phòng nuôi cấy.
Nhiều nghiên cứu về vai trò của cường độ ánh
sáng cho thấy nó có liên quan đến giai đoạn
cuối của giai đoạn thích nghi của cây (Da Silva
et al., 2013)
Các bằng chứng nêu trên về những bất
thường trong cấu trúc của cây bị thủy tinh thể,
cho thấy nhiều nhân tố và phức hợp trong môi
trường nuôi cấy cũng như những mối quan hệ
bên trong của nhiều con đường biến dưỡng đã
cảm ứng sự dị thường trong cấu trúc và chứng
năng của lá. Hậu quả là giảm khả năng sống sót
khi chuyển ra ngoài bầu đất, chúng đòi hỏi phải
trải qua bước thích nghi kéo dài trong điều kiện
ex vitro và kể cả việc tạo lá mới thay thế những
lá cũ.
Hiện tượng vàng và rụng lá
Thực vật vi nhân giống thường xuyên chịu
ảnh hưởng bởi những stress sinh học và phi sinh
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
27
học gây tác động xấu đến sự sinh trưởng, phát
triển, sinh sản và giảm tỷ lệ sống khi chuyển ra
vườn ươm từ đó làm giảm năng suất cây trồng.
Bên cạnh hiện tượng thủy tinh thể, vi nhân
giống một số loài thực vật còn gặp phải hiện
tượng vàng và rụng lá (Hình 1D).
Sự rụng cơ quan là thuật ngữ được sử dụng
để mô tả quá trình mà các bộ phận của thực vật
bị tách rời, nó thường xảy ra ở các cơ quan như
lá, hoa, quả hoặc hạt. Tiến trình này chịu tác
động cả về thời gian lẫn không gian, ví dụ nếu
thụ phấn thất bại thì toàn bộ hoa có thể bị rụng
trong khi thụ phấn đạt hiệu quả sẽ xúc tác sự
rụng của tơ bao phấn, cánh hoa và đài hoa.
Những quan sát như vậy cho chúng ta biết rằng
các dấu hiệu dẫn đến sự rụng một cơ quan nào
đó phải được phối hợp chặt chẽ với các tín hiệu
dẫn đến sự xáo trộn tại một số địa điểm trong
khi kích hoạt quá trình này ở những nơi khác
(Roberts et al., 2002). Kết quả là sự tách rời của
các cơ quan thường liên quan đến giai đoạn phát
triển của cơ quan bị mất. Lá rụng ở các loài
thực vật rụng lá cũng được liên kết với sự suy
giảm của quang chu kỳ; tuy nhiên, hiện tượng
này có thể xảy ra sớm bởi sự tác động của các
yếu tố môi trường như hạn hán, mặn, thiếu chất
dinh dưỡng hoặc sự tấn công của mầm bệnh.
Trong tự nhiên, đặc biệt là trong nông nghiệp và
khoa học cây trồng quá trình này cũng có vai trò
hữu ích. Nếu như sự rụng sớm của hoa hoặc trái
non do những tác động của môi trường có thể
gây ra hậu quả nghiêm trọng đến năng suất thì
sự rụng trái cây trưởng thành, thông qua việc áp
dụng các hóa chất kích thích quá trình rụng như
ethylene hay ethephone có thể tạo điều kiện cho
việc thu hoạch sớm (Taylor, Whitelaw, 2001; Li
et al., 2006).
Trong vi nhân giống thực vật, rụng cơ quan
đặc biệt là rụng lá ở các chồi nuôi cấy thường
liên quan tới tác động của khí ethylene và auxin.
Các tế bào chịu tác động dẫn đến khiếm khuyết
trong sự hóa gỗ, trong điều kiện bất lợi sẽ kích
thích sự tạo nên các enzyme phân huỷ thành tế
bào của tầng rời, làm tầng rời nhanh chóng xuất
hiện. Tầng rời (2 - 3 lớp tế bào nối liền cơ quan
thực vật với thân chính) gồm một số tế bào nhu
mô đặc biệt có đặc trưng là tế bào bé hơn, tròn,
chất nguyên sinh đặc hơn, gian bào bé, không
hóa suberin và lignin, hệ thống dẫn qua vùng
này rất mỏng manh. Các cấu trúc trên làm cho
vùng này yếu hơn các vùng tế bào khác. Khi có
những điều kiện cảm ứng sự rụng thì tầng rời
xuất hiện nhanh chóng. Các biến đổi xảy ra
trong vùng tế bào này cũng rất mạnh đặc biệt là
sự huy động các enzyme thủy phân như enzyme
pectinase và cellulase sẽ phân huỷ thành tế bào
làm các tế bào trở nên rời rạc, không dính nhau
và lá chỉ còn giữ lại được bằng bó mạch mỏng
manh và dễ dàng rụng (Phan, Letouze, 1983;
Ngan et al., 2020).
Ethylene là yếu tố quan trọng liên quan đến
sự rụng lá, mặc dù nó không phải là yếu tố duy
nhất điều khiển sự rụng cơ quan thực vật trong
nhiều trường hợp, và trong một số trường hợp
có thể thậm chí không quan trọng. Tuy nhiên
trong vi nhân giống với điều kiện nuôi cấy trong
bình kín, độ ẩm cao cùng với hình thức sinh
dưỡng dị dưỡng của thực vật nuôi cấy thì sự
tích tụ khí ethylene lại trở thành một trong
những yếu tố chính điều khiển sự rụng lá
(Agustí et al., 2009). Tiến trình rụng lá đã được
nghiên cứu rộng rãi và nhiều phân tích đã được
thực hiện bằng cách cho các mô hoặc các mẫu
cấy tiếp xúc với các chất điều hòa sinh trưởng
thực vật như ethylene hoặc auxin trong thời
gian dài từ vài giờ đến vài ngày (González-
Carranza et al., 2002). Thông thường, những
cây nuôi cấy trong môi trường ở độ ẩm cao rất
nhạy cảm với tác động của ethylene và trong
một số nghiên cứu cho thấy auxin nội sinh hoặc
ngoại sinh từ môi trường nuôi cấy có khả năng
ức chế sự rụng lá. Ở giai đoạn I sự rụng lá bị ức
chế bởi các auxin và các tác động của ethylene
không gây ra hiện tượng rụng. Sau đó, các tế
bào ở vùng rụng trở nên nhạy cảm hơn với tốc
độ sản sinh nhanh và nhiều hơn của ethylene và
lúc này vai trò ức chế của auxin không được thể
hiện vì dòng auxin từ lá đã bị giảm và cơ chế
vận chuyển theo cực bị phá bỏ. Thực tế lá non
là cơ quan sản sinh ethylene nhiều hơn nhưng
sự rụng lại xảy ra nhiều nhất ở những lá già
nhất, thấp nhất trên cây vì ethylene được cho là
đã rút ngắn thời gian của giai đoạn I và ức chế
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
28
sự chuyển hóa auxin (Tucker et al., 2007)
Nồng độ cao của ethylene cũng gây ra hiện
tượng rụng cánh hoa hồng, nồng độ ethylene
trong vùng rụng thường tăng ngay trước khi xảy
ra sự phân tách cơ quan. Sự gia tăng nồng độ
ethylene được cho là kích hoạt sự tiết ra và sự
biểu hiện của các gen mã hóa cho các enzyme
thủy phân thành tế bào, chẳng hạn như
pectinase và cellulase (MacDonald et al., 2011,
Ngan et al., 2020). Trong cà chua, khi hoa nở
được tiếp xúc với ethylene khí quyển thì sự
rụng cuống hoa xảy ra nhanh hơn so với trong
môi truờng không có ethylene. Ngược lại, khi
các mẫu cấy được tiền xử lý bằng amino-
ethoxyvinyl glycine (AVG), một chất ức chế
sinh tổng hợp ethylene, sự tách rời cơ quan đã
bị kìm hãm; tương tự như vậy khi tiền xử lý các
mẫu cấy bằng một chất ức chế hoạt động
ethylene khác là 1-metyl-cyclopropene (1-
MCP) cũng giúp làm chậm gây chậm tiến trình
rụng (Meir et al., 2010).
Gần đây, công nghệ nano được biết đến như
một lĩnh vực khoa học mới và những khám phá
thuộc công nghệ nano có thể mở ra các nghiên
cứu tiên tiến và được ứng dụng trong nhiều lĩnh
vực như y học, môi trường, năng lượng, điện tử,
khoa học đời sống và bao gồm cả khoa học cây
trồng. Tác động tích cực của các hạt nano kim
loại lên thực vật đã được chứng minh thông qua
khả năng gia tăng tỉ lệ nảy mầm, tăng cường
sinh trưởng và hoạt động sinh lý, hạn chế sự
rụng các cơ quan sinh sản của thực vật, tăng sản
lượng và năng xuất cây trồng, tăng cường
chuyển hóa các hợp chất thứ cấp trên nhiều cây
trồng quan trọng (Nair et al., 2010). Nano bạc
(AgNPs) và nano cobalt (CoNPs) là hai nano
kim loại có vai trò quan trọng trong khắc phục
hiện tượng thủy tinh thể, vàng và rụng lá cây
trồng nuôi cấy in vitro thông qua khả năng ức
chế sự sinh tổng hợp cũng như hoạt động của
khí ethylene. AgNPs có thể ngăn ngừa hoạt
động của khí ethylene bằng cách làm đảo lộn
vùng bám dính ở thụ thể của ethylene thông qua
việc thay thế Cu2+ bằng Ag+, điều này khiến cho
thụ thể không thể liên kết với ethylene và ngăn
ngừa các tín hiệu ức chế của ethylene lên thực
vật (Kumar et al., 2009). Bổ sung 3 mg/L
AgNPs vào môi trường nuôi cấy cây hoa hồng
đã giúp hạn chế sự tích lũy khí ethylene bên
trong bình nuôi cấy, giảm hoạt độ của các
enzyme thủy phân và gia tăng chất lượng cây
con in vitro (Hà Thị Mỹ Ngân et al., 2019).
Bên cạnh đó, CoNPs lại đóng vai trò quan
trọng trong ức chế sự sinh tổng hợp của khí
ethylene thông qua ức chế enzyme l-
aminocyclo-propane carboxylic acid (enzyme
ACC) – enzyme quan trọng trong quá trình
chuyển đổi ACC thành ethylene (Thao et al.,
2015). CoNPs ở nồng độ thích hợp đã được sử
dụng để thay thế muối CoCl2 trong môi trường
nhân giống in vitro cây hoa hồng, kết quả ghi
nhận được cho thấy CoNPs đóng vai trò quan
trọng trong khắc phục hiện tượng vàng lá, rụng
lá cũng như ức chế sự hình thành và hoạt động
của khí ethylene trong vi nhân giống loài cây
này (Ngan et al., 2020). Từ đó cho thấy việc sử
dụng các chất ức chế hoạt động cũng như sinh
tổng hợp ethylene, thay đổi điều kiện môi
trường nuôi cấy, sử dụng màng thoáng khí có
thể điều khiển được hiện tượng rụng lá trong
nhân giống in vitro.
Trong hiện tượng rụng lá, auxin và ethylene
đã được chỉ ra như là những tác nhân chính điều
khiển quá trình này và có tác động qua lại với
nhau, nồng độ auxin ở các vị trí xa và gần với
vùng rụng lá có liên quan đến thời điểm rụng lá
và sự phụ thuộc nồng độ này là không tuyệt đối.
Nồng độ auxin sẽ thấp ở vị trí xa và nồng độ
cao ở vị trí gần vùng rụng lá, trong khi sự rụng
sẽ được trì hoãn khi nồng độ auxin cao ở xa
vùng rụng lá. Do đó, các nhà nghiên cứu đã gợi
ý rằng một dãy nồng độ auxin xung quanh khu
vực rụng lá có khả năng điều chỉnh và cảm ứng
sự rụng. Như vậy, việc giảm nồng độ auxin ở
phía xa, sự tăng cường sinh tổng hợp ethylene
và sự nhạy cảm của mẫu cấy với ethylene đã
gây ra hoạt động của các enzyme thủy phân làm
suy yếu thành tế bào và tăng cường sự rụng và
già hóa của lá. Trong các auxin thì acid
indoleacetic (IAA) nội sinh đã được chứng
minh làm trì hoãn quá trình phân tách cơ quan ở
cây cà chua, tuy nhiên, auxin ngoại sinh lại
không ảnh hưởng đến hình thái của hiện tượng
này. Các kết quả cho thấy ngoài IAA thì NAA
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
29
và IBA cũng có thể làm hạn chế sự rụng tuy
nhiên tác dụng rất yếu và auxin có thể trì hoãn
sự phân tách tế bào bằng cách ức chế sự biểu
hiện của các enzyme phân hủy tế bào nhất định
nhưng nó không ảnh hưởng đến sự biệt hóa
cũng như hình thái giải phẫu của vùng rụng
(Tucker et al., 2002). Các nhà nghiên cứu cho
rằng giảm lượng auxin ở vùng rụng lá làm gia
tăng tín hiệu ethylene và ngược lại khi nồng độ
auxin ở vùng này cao, sự phân tách tế bào bị ức
chế, do đó, auxin tự do trong tầng rời điều chỉnh
độ nhạy với ethylene và khi có bất kỳ yếu tố
nào điều tiết quá trình sinh tổng hợp auxin, hoặc
sự vận chuyển auxin trong tầng rời cũng có thể
ảnh hưởng đến độ nhạy của các tế bào này với
ethylene. Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của
ethylene và IAA là cần thiết để xác định
chínhxác cách thức chúng hoạt động để điều
chỉnh thời gian rụng cơ quan (Taylor, Whitelaw,
2001; González-Carranza et al., 2012).
Hình 1. Một số hiện tượng bất thường trong nhân giống in vitro thực vật. Thủy tinh thể chồi cây cẩm chướng (A),
chồi hoa hồng (B) và chồi đồng tiền (C). Hiện tượng vàng lá và rụng lá ở chồi hoa hồng nuôi cấy in vitro (D)
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
30
Nếu cả ethylene lẫn IAA đều không phải là
yếu tố quyết định cho việc phân tách của tế bào,
thì những tác nhân khác như acid abscisic
(ABA) ban đầu được cho là một chất điều hòa
sinh trưởng quan trọng, tuy nhiên, trong những
năm gần đây vai trò của nó đã được thay đổi trở
thành là một trong những tác nhân cảm ứng sự
lão hóa của mô và sự sản xuất ethylene một
cách nhanh chóng thậm chí ở những mô ở xa và
có thể liên quan trực tiếp hơn với sự tách rời cơ
quan thực vật; một số nghiên cứu khác cũng cho
thấy methyl jasmonate cũng có chức năng điều
chỉnh thời gian rụng (Patterson, 2001).
Hiện tượng nhiễm vi sinh trong vi nhân
giống thực vật
Sự nhiễm vi sinh vật trong bình nuôi cấy là
một vấn đề nghiêm trọng đối với bất kỳ phòng
thí nghiệm nào, đặc biệt đối với phòng thí
nghiệm thương mại vì nó có thể gây ra thiệt hại
về kinh tế to lớn không chỉ do mất trực tiếp môi
trường nuôi cấy mà còn làm chậm tiến độ sản
xuất. Trong các phòng thí nghiệm thương mại
được thiết lập tốt, vấn đề nhiễm được nhấn
mạnh bởi thực tế là loại ô nhiễm thay đổi theo
thời gian. Ban đầu, sự nhiễm do vi khuẩn, nấm,
virus là do những bệnh liên quan đến thực vật,
trong một vài trường hợp vấn đề nhiễm vi sinh
vật nghiêm trọng hơn do vi khuẩn phát triển
chậm và có thể mang trong mô thực vật mà
không bị phát hiện và xuất hiện ở giai đoạn rất
muộn khi mọi thứ dường như sạch sẽ
(Bhojwani, Dantu, 2013).
Nhiễm vi sinh vật trong vi nhân giống được
chia làm hai loại: ngoại sinh từ môi trường và
nội sinh có nguồn gốc từ mẫu cấy, và dù ở dạng
nào thì chúng đều có thể gây thiệt hại nghiêm
trọng cho mẫu cấy ở từng giai đoạn sinh trưởng
khác nhau (Hình 2A). Các vi sinh vật ngoại sinh
có thể được loại bỏ một cách hiệu quả bằng
cách sử dụng các chất khử trùng bề mặt; nhưng
sự nhiễm nội sinh không thể dễ dàng loại bỏ
được và là một vấn đề nghiêm trọng trong vi
nhân giống thực vật bởi vì vi khuẩn nội sinh có
thể cư trú trong thực vật tại các cầu nối tế bào
và trong không gian nội bào của tế bào nhu mô
vỏ. Nhiễm khuẩn nội sinh đặc biệt rắc rối vì
chúng có thể không thể hiện rõ ràng khi mẫu
thực vật được bắt đầu được đưa vào môi trường
nuôi cấy nhưng sẽ xuất hiện vài tuần sau đó và
tồn tại qua các lần cấy chuyền tiếp theo. Nhiễm
vi sinh vật tiềm ẩn trong vi nhân giống có thể
dẫn đến thay đổi sự tăng trưởng mẫu cấy, gây
hoại tử mẫu, giảm sự gia tăng chồi và sự ra rễ
(Bairu, 2008).
Hiện tượng nhiễm có thể xuất hiện nhanh
chóng hoặc thường xuất hiện sau 2-4 tháng kể
từ khi bắt đầu nuôi cấy (Oda et al., 2003). Do
đó, để đảm bảo hiệu quả của việc kiểm soát vi
sinh vật những điều sau đây được khuyến
nghị: môi trường nuôi cấy cần phải được tiệt
trùng trước khi sử dụng; sử dụng nguồn mẫu
sạch bệnh và khuyến cáo nên sử dụng các mô
cấy non, mùa xuân và mùa đông là thời điểm
thích hợp nhất để thu nhận mô cấy; đối với
các mô bị nhiễm cần làm sạch bằng cách rửa
trong nước cất vô trùng sau đó ngâm vào
dung dịch kháng sinh trước khi cấy vào môi
trường; dụng cụ nuôi cấy (dao cấy, kẹp, đĩa
cấy, giấy) cần được khử trùng trước khi
đưa vào sử dụng ở 180°C/2 h (Alkhateeb,
2008). Trong vi nhân giống việc bổ sung
kháng sinh vào môi trường cũng có thể được
sử dụng để giảm hiện tượng nhiễm vi sinh
vật. Zacchini, Agazio (2004) đã báo cáo rằng
sử dụng thủy ngân clorua và sodium
hypochloride trong bước khử trùng và kháng
sinh bổ sung trong môi trường nuôi cấy đã
giúp khắc phục tình trạng ô nhiễm nghiêm
trọng trong nuôi cấy cây ô liu Nebbiar.
AgNPs cũng được sử dụng như một chất khử
trùng bề mặt trong nhân giống cây African
violet, theo đó, sử dụng AgNPs ở nồng độ
0,05% trong 15 phút cho hiệu quả khử trùng
tốt nhất mà không có tác động xấu đến sự sinh
trưởng và phát triển của mẫu cấy so với khi sử
dụng thủy ngân clorua và sodium
hypochloride (Dương Tấn Nhựt et al., 2018).
Sử dụng AgNPs ở nồng độ thích hợp giúp loại
bỏ vi sinh vật gây nhiễm (nấm, vi khuẩn, )
trong vi nhân giống thực vật trên nhiều đối
tượng cây trồng (Spinoso-Castillo et al.,
2017). AgNPs ở nồng độ 7,5 mg/L có khả
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
31
năng ức chế 8 loài vi khuẩn
(Corynebacterium sp., Enterobacter sp.,
Arthrobacter sp., Agrobacterium sp.,
Xanthomonas sp., Pseudomonas sp., Bacillus
sp. và Micrococcus sp.) và 3 loài nấm
(Aspergillus sp., Fusarium sp. và Alterneria
sp.) trong nuôi cấy vi thủy canh cây hoa cúc
trắng (Tung et al., 2018). Ngoài ra để hạn chế
sự nhiễm cần phải kiểm tra thường xuyên các
vi khuẩn gây bệnh và cần phải loại bỏ ngay
các nguồn mẫu bị nhiễm bệnh, hạn chế vào
khu vực nuôi cấy, tiến hành khử trùng bằng
formaldehyde hoặc thiobendazole thường
xuyên để giảm tỷ lệ ô nhiễm Tác động rõ
nhất của sự nhiễm môi trường nuôi cấy là mất
thời gian, tiền bạc, gây cản trở quá trình thí
nghiệm, ảnh hưởng tiêu cực đến các môi
trường nuôi cấy dẫn đến kết quả thực nghiệm
không chính xác, sai lệch và mất mát những
sản phẩm có giá trị. Vì vậy cần phải có những
phương pháp hiệu quả hơn để hạn chế cũng
như khắc phục tình trạng này (Bhojwani,
Dantu, 2013).
Hiện tượng hoại tử mẫu cấy (chồi đỉnh, rễ,
mẫu mô nuôi cấy)
Hiện tượng hoại tử chồi đỉnh hay hoại tử
mẫu cấy cũng là một trở ngại lớn trong tiến
trình nhân giống thành công của một số loài
thực vật bằng nuôi cấy mô (Bairu et al., 2009).
Các triệu chứng của hiện tượng này là mẫu hóa
nâu đen, chồi và lá non vàng dần hoại tử rồi
chết (Hình 2C, D). Giả thiết đầu tiên khi thấy
hiện tượng hoại tử chồi đỉnh là do thiếu hụt chất
dinh dưỡng. Các triệu chứng thiếu hụt chất dinh
dưỡng của các yếu tố ít di động như canxi (Ca)
và boron (B) xuất hiện ở mô phân sinh và lá
non, trong khi triệu chứng dư thừa của các
khoáng chất này được quan sát thấy ở những lá
già (Chiruvella et al., 2012). Tuy nhiên, hiện
tượng hoại tử mẫu hay chồi đỉnh vi nhân giống
chịu tác động bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố
như thành phần muối, nồng độ và loại chất điều
hòa sinh trưởng, nồng độ than hoạt tính bổ sung
vào môi trường, nguồn và nồng độ đường, tần
suất cấy chuyền, một số rối loạn sinh lý liên
quan đến rễ, hàm lượng lưu huỳnh, tỷ lệ
NH4+/NO3- và sự biến động pH (Chiruvella et
al., 2012)
Nồng độ và loại chất điều hòa sinh trưởng
thực vật là một trong những yếu tố chính gây
nên hiện tượng hoại tử mẫu cấy, các nghiên cứu
cho thấy rằng chồi nuôi cấy trên môi trường
được bổ sung với isopentenyladenine (iP),
thidiazuron (TDZ) hoặc kinetin có lá vàng và
hoại tử quá mức ở nồng độ cao, do đó, cần giảm
nồng độ cytokinin xuống mức rất thấp do hoạt
động ức chế ra rễ của chúng (Piagnani et al.,
1996). Mặt khác có báo cáo cho rằng 6-
benzylaminopurine (BA) lại không ảnh hưởng
đến sự hoại tử chồi, Perez-Tornero và Burgos
(2000) phát hiện ra rằng việc tiền xử lý các chồi
vào dung dịch BA trước khi chuyển sang môi
trường rễ đã giúp khắc phục tình trạng hoại tử
đỉnh ở cây mai, cây hạt dẻ in vitro. Từ đó cho
thấy tác động của chất điều hòa sinh trưởng
thực vật lên hiện tượng hoại tử mẫu cấy còn phụ
thuộc vào kiểu gen của thực vật. Ngược lại với
cytokinin, auxin lại tỏ ra hiệu quả với vai trò
giúp hạn chế hiện tượng hoại tử, trong đó
indole-3-butyric acid (IBA) bổ sung vào môi
trường ra rễ giúp giảm sự thoái hóa đỉnh do đã
làm thay đổi sự sản xuất hoặc tính sẵn có của
các cytokinin nội sinh từ đó có thể ngăn chặn
hiện tượng hoại tử mẫu (Perez, Burgos, 2000).
Canxi là một cation thiết yếu được tìm thấy
với số lượng tương đối lớn trong các mô thực
vật, Ca có mặt trong thành tế bào, màng tế bào,
không bào và chiếm 10% tổng trọng lượng khô
ở một số loài thực vật (Hirschi, 2004). Ca ngoài
hoạt động như một chất mang thông tin còn
đóng vai trò như một chất điều chỉnh sự tăng
trưởng và phát triển của cây trồng, liên quan
đến sự kéo dài và phân chia tế bào, ảnh hưởng
đến độ pH của các tế bào, tăng cường tính ổn
định của màng tế bào bằng cách kết nối các
protein và lipid khác nhau ở bề mặt màng tế
bào, cung cấp khả năng chịu stress (sinh học và
phi sinh học) và ngăn chặn sự lão hóa sinh lý.
Đây là lý do tại sao thiếu Ca trong thực vật,
trong hầu hết các trường hợp, có liên quan đến
bệnh lý và các vấn đề sau thu hoạch (Hepler,
2005; Hirschi, 2004). Có rất nhiều báo cáo về
vai trò của Ca trong ngăn ngừa hoại tử chồi đỉnh
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
32
ở cả cây nuôi cấy in vitro và ex vitro. Bổ sung
Ca vào môi trường làm giảm sự hoại tử ở cây
hạt dẻ, cây mẫu đơn in vitro. Việc sử dụng các
nguồn cung cấp canxi khác nhau (calcium
chloride, calcium acetate, calcium ammonium
nitrate và calcium pantothenate) cũng tác động
đến hiện tượng thoái hóa mẫu cấy, Ca cung cấp
dưới dạng muối calcium chloride làm giảm hiện
tượng thoái hóa và không ức chế sự nhân lên
hoặc sự kéo dài chồi trong khi Ca được cung
cấp dưới dạng calcium acetate gây ức chế
nghiêm trọng đối với sự kéo dài chồi (Piagnani
et al., 1996; Wang, Van Staden, 2001). Qua đó
cho thấy mặc dù Ca có ảnh hưởng đến sinh
trưởng, phát triển và sự hoại tử của chồi, mẫu
cấy tuy nhiên sự ảnh hưởng của Ca có thể thay
đổi từ loài này sang loài khác và phụ thuộc rất
nhiều vào kiểu gen thực vật.
Một số phương pháp khác cũng đã được sử
dụng để khắc phục hiện tượng hoại tử mẫu cấy:
thay đổi nồng độ môi trường nuôi cấy với sự
giảm nồng độ các thành phần dinh dưỡng
(khoáng đa lượng, vi lượng và vitamin) có trong
môi trường xuống còn một nữa hoặc một phần
tư, sử dụng các nguồn cacbon khác nhau
(glucose, fructose), nuôi cấy thoáng khí, sử
dụng than hoạt tính với nồng độ thích hợp.
Ngoài ra việc loại bỏ những lá, vùng mẫu bị
vàng, nâu trước khi các chồi được sử dụng để
nuôi cấy cũng có thể để làm giảm bớt hiện
tượng này (Chiruvella et al., 2012).
Hiện tượng hóa nâu mẫu và môi trường nuôi cấy
Trong vi nhân giống nhiều cây thân gỗ và
một số loài thân thảo thường xuất hiện tượng
hóa nâu mẫu cấy và hóa nâu môi trường. Đôi
khi tình trạng hóa nâu trở nên nghiêm trọng đến
mức mẫu cấy có màu nâu sẫm/đen, trở nên hoại
tử và cuối cùng chết (Hình 2B, E). Các nhà
khoa học cho rằng sự sản sinh phenol trong suốt
quá trình nuôi cấy gây oxy hóa và làm cho mẫu
cấy và môi trường bị hóa nâu (Bhojwani, Dantu,
2013). Tình trạng hóa nâu xảy ra tại vị trí mặt
cắt ngay khi mẫu được cắt và phenol được sản
xuất liên tục trong suốt quá trình nuôi cấy.
Những phenol này trở nên độc hại với mẫu cấy
bằng cách liên kết ngược với những protein
bằng liên kết hydro và quá trình oxy hóa của
chúng tạo thành các quinon có hoạt tính cao,
các quinon này sau đó được polymer hóa và oxy
hóa protein để hình thành các hợp chất melanic
được gọi là polyphenol có thể là độc tố đối với
thực vật. Các enzyme oxy hóa phenol cũng có
thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, sự
hiện diện của ánh sáng và nhiệt độ cao làm tăng
tỷ lệ hóa nâu bằng cách tăng hoạt động của các
enzyme này. Trong tự nhiên, các hợp chất
phenol được biết là đóng một vai trò quan trọng
đối với thực vật trong đáp ứng với sự mất cân
bằng các hormone thực vật, ngăn chặn, kháng
bệnh và bảo vệ các mô bị tổn thương do nhiễm
trùng. Các phenol này không chỉ có vai trò
trong phòng thủ, bảo vệ mà còn có thể đóng vai
trò như chất nguồn cho tổng hợp một số hợp
chất khác như carbohydrate, amino acid và một
số protein trong quá trình biệt hóa phát sinh
hình thái của thực vật (Dobránszki, Teixeira,
2010).
Mức độ hóa nâu phụ thuộc vào loài nuôi
cấy, kiểu gen, độ tuổi của mô cấy (mô già hơn
cho thấy khả năng bị hóa nâu cao hơn), mùa
bắt đầu nuôi cấy (nhiều hơn vào mùa đông và
mùa thu) và thành phần cũng như trạng thái
môi trường (sự hóa nâu xuất hiện nhiều khi
mẫu nuôi cấy trong môi trường lỏng) (Hình
2E). Một số phương pháp đơn giản để bảo vệ
các mẫu cấy khỏi sự hóa nâu là cấy chuyền
thường xuyên ở giai đoạn nuôi cấy ban đầu;
hạn chế sự oxi hóa phenol bằng phương pháp
nuôi cấy trong tối hoặc ở cường độ ánh sáng
thấp (3-4 µmol.m-2.s-1); giảm nồng độ muối
của môi trường giúp làm giảm hiện tượng hóa
nâu của mẫu cấy mô sẹo cây kiwi (Actinidia
arguta) (Han et al., 2010). Các khoáng kim
loại trong môi trường nuôi cấy như Mn2+,
Cu2+ là các chất đồng dạng với các enzyme
peroxidase và phenolase (tương ứng) nên
được giảm hoặc loại bỏ để không kích thích
các enzyme này oxy hóa các hợp chất phenol
và ngăn ngừa hiện tượng hóa nâu của mẫu cấy
(Bhojwani, Dantu, 2013). Bên cạnh các biện
pháp nêu trên thì việc bổ sung các chất bổ trợ
như acid ascorbic (AA), cystein-HCl hoặc
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
33
acid citric (chất chống oxy hoá), poly-
vinylpyrolidone (PVP) và than hoạt tính cũng
giúp hấp thụ phenol từ đó kiểm soát tình trạng
hóa nâu của mẫu cấy cũng như môi trường
nuôi cấy. Trong tái sinh chồi giống chuối
Formosana, tình trạng hóa nâu gây chết 100%
mẫu cấy, việc bổ sung thêm 0,01% AA vào
môi trường không chỉ ngăn ngừa hiện tượng
hóa nâu gây chết mẫu mà còn làm tăng đáng
kể số lượng cây con được hình thành. Tuy
nhiên, AA chỉ có hiệu quả nếu nó được thêm
vào bề mặt của môi trường, nó không hiệu
quả nếu được thêm vào trong môi trường
trước khi hấp khử trùng vì nhiệt độ sẽ làm
mất hoạt tính và phân hủy AA (Bhojwani,
Dantu, 2013). Một phương pháp hiệu quả nhất
để chống lại các vấn đề về tình trạng hóa nâu
trong mẫu lá của Sideritis trojana là sự kết
hợp 100 mg/L của AA và 50 mg/L của acid
citric (Çördük, Aki, 2011).
Hình 2. Một số hiện tượng bất thường trong nhân giống in vitro thực vật (tiếp theo). Hiện tượng nhiễm vi sinh
vật (A), hóa nâu và hoại tử rễ cây hoa hồng (B), hoại tử chồi đỉnh hoa hồng (C), hoại tử toàn bộ mẫu cấy hoa
hồng (D), hóa nâu mẫu cấy cây lan và cây đồng tiền (E).
Các chất bổ sung khác vào môi trường đã
giúp ngăn ngừa hiện tượng hóa nâu là
polyvinylpyrolidone (PVP), canxi pantothenate
và than hoạt tính cũng có khả năng hấp thụ
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
34
phenol. PVP, một polyamide rất thường được
sử dụng để hấp phụ trong sắc ký, nó còn được
sử dụng để hấp thụ các hợp chất phenolic trong
nuôi cấy mô. PVP hấp thụ phenol thông qua
liên kết hydro, ngăn chặn quá trình oxy hóa và
sự trùng hợp của chúng. Calcium pantothenate
như một chất phụ gia trong môi trường đã được
báo cáo giúp làm giảm màu nâu của các mô
nuôi cấy. Mẫu được ngâm trong hỗ hợp acid
ascorbic và acid citric cho thấy màu nâu xuất
hiện sau một thời gian trong nuôi cấy, và trong
trường hợp này, nơi màu nâu tái phát, hiệu quả
của canxi pantothenate trong việc giảm màu nâu
đã được thử nghiệm. Canxi pantothenate được
bổ sung vào môi trường đã giúp giảm sự hóa
nâu đến một mức độ nhất định của mẫu cấy khi
sử dụng ở nồng độ cao (200 mg/L), nồng độ
canxi pantothenate thấp tỏ ra không hiệu quả
trong việc giảm mức độ hóa nâu. Khả năng của
than hoạt tính để hấp thụ các chất ức chế cũng
được ghi nhận. Bổ sung than hoạt tính đã được
báo cáo giúp tránh sự tích tụ các hợp chất
phenolic trong nuôi cấy mô, tuy nhiên hiệu quả
đạt được không cao và phenol vẫn tiếp tục hình
thành từ mẫu cấy, mẫu vẫn tiếp tục hóa nâu và
hoại tử (Bajaj, 1996).
Nhìn chung các chất hấp phụ được bổ sung
vào môi trường nuôi cấy đã giúp hạn chế hiện
tượng hóa nâu mẫu cấy và môi trường nuôi cấy,
tuy nhiên, các chất này cũng có thể hấp thụ các
hợp chất hữu ích cần thiết cho thực vật từ môi
trường và do đó việc sử dụng loại và nồng độ
của chúng nên được lựa chọn một cách thận
trọng (Bhojwani, Dantu, 2013).
Một số vấn đề khác
Nhiều loài thực vật không tuân theo quy
trình nuôi cấy mô vì chúng không hoặc rất khó
tái sinh trong ống nghiệm. Sự hạn chế này thể
hiện rõ rệt hơn ở nhiều loài cây thân gỗ và có
thể được khắc phục bằng cách sử dụng các mô,
các bộ phận chưa trưởng thành hoặc còn non
nhất của cây; bên cạnh đó, xử lý với cytokinin
cũng có thể làm trẻ hóa mẫu cấy, kích thích sự
phát triển của các chồi non mới và cho phép sử
dụng chúng như là nguồn mẫu để bắt đầu cho
quá trình nuôi cấy in vitro. Một số loài thực vật
thân gỗ như Prunus, Eucalyptus, Pinus và
Sequoia khi nuôi cấy trên môi trường có bổ
sung cytokinin ở nồng độ thích hợp đã kích hoạt
sự hình thành mô phân sinh. Sự thành công của
phương pháp nhân giống in vitro trên đối tượng
cây thân gỗ và cây ăn quả đã đóng một vai trò
quan trọng trong công tác nhân giống, bảo tồn
các nguồn gene quý hiếm và cũng góp phần
phục vụ cho mục đích thương mại (Ahuja,
2013).
Một khía cạnh quan trọng cần được xem xét
khi tái sinh cây từ phương pháp vi nhân giống là
duy trì tính toàn vẹn di truyền đối với cây mẹ.
Thuật ngữ 'biến dị soma' được đặt ra để chỉ sự
biến đổi di truyền giữa các loại cây trồng, trong
tự nhiên, sự đa dạng di truyền và sự thay đổi di
truyền trong một quần thể được tạo ra thông qua
các sự kiện tái tổ hợp. Trong vi nhân giống, sự
tăng trưởng và sự tái sinh của các tế bào thực
vật thành toàn bộ thực vật là một quá trình vô
tính liên quan đến việc phân chia các tế bào.
Trong quá trình này sự xuất hiện của các biến
đổi tự phát là ngẫu nhiên và không kiểm soát
được, biến dị soma đã được báo cáo ở các mức
độ khác nhau (hình thái, tế bào học, sinh hóa và
cấp độ phân tử). Điều kiện nuôi cấy, thành phần
môi trường nuôi cấy, thời gian và chu kỳ nuôi
cấy có thể gây đột biến và một số cơ quan nuôi
cấy (mô sẹo, tế bào trần, phôi soma, ) đôi khi
có thể cho thấy sự biến đổi về cả kiểu hình lẫn
kiểu gen. Thông thường, sự thay đổi này xảy ra
một cách tự phát và có thể là kết quả của những
thay đổi tạm thời hoặc thay đổi di truyền vĩnh
viễn trong tế bào hoặc mô trong suốt quá trình
nuôi cấy trong ống nghiệm. Những thay đổi tạm
thời là kết quả từ các tác động không phụ thuộc
kiểu gen (epigenetic) hoặc tác động sinh lý,
những tác động này là không thể tránh khỏi và
có thể phục hồi được. Ngược lại, những thay
đổi vĩnh viễn liên quan đến di truyền và thường
biểu thị sự biến đổi đã tồn tại từ trước trong cây
mẹ hoặc là kết quả của những biến dị de novo.
Sự xuất hiện biến dị soma là một vấn đề quan
tâm lớn đối với bất kỳ hệ thống vi nhân giống
nào, để đánh giá sự hiện diện của nó, một số
chiến lược đã được sử dụng để phát hiện các
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
35
biến thể theo thời gian, dựa trên một hoặc nhiều
yếu tố quyết định từ các đặc điểm hình thái hay
phân tích tế bào (biến đổi số và cấu trúc trong
nhiễm sắc thể), sử dụng các marker phân tử và
phương pháp sinh hóa. Các nghiên cứu về biến
dị soma cũng rất quan trọng với mục đích sản
xuất giống cây trồng đồng nhất về mặt di truyền
và cũng được sử dụng như một công cụ để tạo
ra sự biến đổi di truyền có giá trị để cải thiện
cây trồng thông qua việc lựa chọn các biến thể
mới có khả năng kháng bệnh, cải thiện chất
lượng, hoặc năng suất cao hơn (Leva et al.,
2012).
Bên cạnh đó, ngày nay với nhu cầu về cây
giống sạch bệnh, đồng nhất cũng như đáp ứng
thị hiếu người tiêu dùng thì một số lượng lớn
cây trồng có giá trị kinh tế cao bao gồm các loại
rau, hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây rừng và cây
dược liệu đã được nhân giống bằng phương
pháp nuôi cấy mô. Hơn một tỷ cây giống mỗi
năm được sản xuất bằng phương pháp này, tuy
nhiên, các cây trồng vi nhân giống thường đắt
hơn các cây trồng bằng phương pháp truyền
thống, bởi cần nhiều trang thiết bị vận hành,
môi trường nuôi cấy đặc biệt, nhiều vật tư và
hóa chất đòi hỏi cần được sử dụng trong suốt
quá trình nuôi cấy. Do chi phí sản xuất cao nên
kéo theo giá thành sản phẩm nuôi cấy cũng cao.
Để giảm thiểu chi phí người ta thường giảm chi
phí từ nhân công lao động và lượng điện năng
tiêu thụ, nhân giống theo hợp đồng, rút ngắn và
giảm bớt một số giai đoạn nuôi cấy trong tiến
trình nhân giống in vitro, tự động hóa và mở
rộng quy mô sản xuất (Tomar et al., 2008).
KẾT LUẬN
Vi nhân giống thực vật là một quá trình
phức tạp và đóng vai trò quan trọng trong công
tác chọn tạo giống. Việc sử dụng phương pháp
nuôi cấy mô để nhân nhanh các loài cây phục
vụ cho mục đích thương mại thường có chi phí
và giá thành cao là do tác động của các rủi ro
bất thường khác nhau trong hoặc sau quá trình
vi nhân giống. Các vấn đề chính gặp phải trong
hầu hết các phòng thí nghiệm nuôi cấy mô đều
có hai loại: bệnh lý (nhiễm vi sinh vật) và sinh
lý học (thủy tinh thể, vàng lá và rụng lá, hoại tử
mẫu cấy, hóa nâu mẫu cấy, biến dị soma...).
Việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân cũng như
giải pháp khắc phục các hiện tượng bất thường
này là việc làm mang tính cấp thiết để hạn chế
những rủi ro, nâng cao hiệu suất và chất lượng
cây vi nhân giống đồng thời hạ giá thành sản
phẩm. Có lẽ sẽ không bao giờ có thể xác định
cũng như khắc phục được tất cả các tác nhân,
các hiện tượng bất thường, nhưng càng có thể
xác định được nhiều hiện tượng thì càng có
nhiều khả năng kiểm soát tốt hơn đối với quá
trình vi nhân giống thực vật. Từ đó, có thể hạn
chế, khắc phục, loại bỏ được những hiện tượng
bất thường không mong muốn và tận dụng
những hiện tượng hữu ích trong quá trình vi
nhân giống thực vật.
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin chân thành
cảm ơn sự tài trợ kinh phí của đề tài “Nghiên
cứu tác động của hạt nano kim loại lên khả
năng tái sinh, sinh trưởng, phát triển và tích
lũy hoạt chất trong quá trình nhân giống vô
tính một số cây trồng có giá trị kinh tế cao ở
Việt Nam” thuộc Hợp phần IV: “Nghiên cứu
cơ chế tác động và đánh giá an toàn sinh học
của các chế phẩm nano được nghiên cứu
trong dự án”, mã số: VAST.TĐ.NANO.04/15–
18 và Phòng Sinh học phân tử và Chọn tạo
giống cây trồng (Viện Nghiên cứu Khoa học
Tây Nguyên) đã tạo điều kiện cho chúng tôi
hoàn thành nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ahuja MR (2013) Micropropagation of woody
plants. Springer Science and Business Media.
Alkhateeb AA (2008) A review the problems facing
the use of tissue culture technique in date palm
(Phoenix dactylifera L.). Sci J King Faisal Univ
Basic Appl Sci 9: 85-104.
Agustí J, Merelo P, Cercós M, Tadeo FR, Talón M
(2009) Comparative transcriptional survey between
laser-microdissected cells from laminar abscission
zone and petiolar cortical tissue during ethylene-
promoted abscission in citrus leaves. BMC Plant
Biol 9: 1-20.
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
36
Bairu M, Jain N, Stirk W, Doležal K, Van Staden J
(2009) Solving the problem of shoot-tip necrosis in
Harpagophytum procumbens by changing the
cytokinin types, calcium and boron concentrations in
the medium. S Afr J Bot 75(1): 122-127.
Bairu MW (2008) Characterization and control of
micropropagation problems in Aloe, Devil’ claw and
Banana. Doctor of phisology. University of Kwazulu
Natal.
Bajaj Y (1996) Biotechnology in agriculture and
forestry 35. Trees IV. Springer-Verlag, Berlin.
Bahmani R, Karami O, Gholami M (2009) Influence
of carbon sources and their concentrations on rooting
and hyperhydricity of apple rootstock MM.106. Appl
Sci 6(11): 1513–1517.
Bhojwani SS, Dantu PK (2013) Plant Tissue
Culture: An Introductory Text. Springer, India.
Chang C (2016) Q and A: How do plants respond to
ethylene and what is its importance? BMC Biol 14:
1–7.
Chiruvella KK, Mohammed A, Dampuri G, Ghanta
RG (2012) In vitro shoot regeneration and control of
shoot tip necrosis in tissue cultures of soymida
febrifuga (Roxb.) A. Juss. Plant Tiss Cult Biotechnol
21(1): 11-25.
Çördük N, Aki C (2011) Inhibition of browning
problem during micropropagation of Sideritis
trojana bornm., an endemic medicinal herb of
Turkey. Rom Biotechnol Lett 16(6): 61-67.
Da Silva JAT, Dobránszki J, Ross S (2013)
Phloroglucinol in plant tissue culture. Vitr Cell Dev
Biol Plant 49: 1-16.
Dương Tấn Nhựt, Dương Bảo Trinh, Đỗ Mạnh
Cường, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Phúc Huy, Vũ
Thị Hiền, Vũ Quốc Luận, Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn
Hoài Châu (2018) Khảo sát nano bạc làm chất khử
trùng mẫu mới trong nhân giống vô tính cây african
violet (Saintpaulia ionantha H. Wendl.). Tạp chí
Công nghệ Sinh học 16(1): 87-98.
Dương Tấn Nhựt, Hồ Thanh Tâm, Nguyễn Thị
Thanh Hiền, Lê Kim Cương, Vũ Quốc Luận,
Nguyễn Bá Nam, Nguyễn Phúc Huy, Vũ Thị Hiền,
Trịnh Thị Hương, Nguyễn Hồng Hoàng, Nguyễn
Xuân Tuấn, Nguyễn Việt Cường, Đỗ Mạnh Cường,
Nguyễn Hoài Châu và Ngô Quốc Bưu (2014) Khảo
sát ảnh hưởng của nano bạc lên sự sinh trưởng và
phát triển của cây cúc, dâu tây, đồng tiền nuôi cấy in
vitro. Tạp chí Công nghệ Sinh học 12(1): 103-111.
Dobránszki J, Teixeira da Silva JA (2010)
Micropropagation of apple - A review. Biotechnol
Adv 28: 462-488.
García-Gonzáles R, Quiroz R, Carrasco B, Caligari P
(2010) Plant tissue culture: Current status,
opportunities and challenges. Cien Inv Agr 37(3): 5-
30.
Gaspar T, Franck T, Bisbis B, Kevers C, Jouve L,
Hausman JF, Dommes J (2002) Concepts in plant
stress physiology. Application to plant tissue
cultures. Plant Growth Regul 37: 263–285.
Gaspar TH, Kevers C, Debergh P, Maene L, Paques
M, Boxus PH (1987) Vitrification: morphological,
physiological and ecological aspects. In Bonga JM,
Durzan DJ, eds. Cell and tissue culture in forestry,
Vol 1. Martinus Nijhoff, Dordrecht: 152-166.
George EF, Hall MA, De Klert GJ (2008) Plant
propagation by tissue culture, 3rd edn, Vol 1, The
background. Springer, The Netherlands.
González-Carranza ZH, Shahid AA, Zhang L, Liu Y,
Ninsuwan U, Roberts JA (2012) A novel approach to
dissect the abscission process in Arabidopsis. Plant
Physiol 160(3): 1342-1356.
González-Carranza ZH, Whitelaw CA, Swarup R,
Roberts JA (2002) Temporal and spatial expression
of a polygalacturonase during leaf and flower
abscission in oilseed rape and Arabidopsis. Plant
Physiol 128(2): 534-543.
Han M, Gleave AP, Wang T (2010) Efficient
transformation of Actinidia arguta by reducing the
strength of basal salts in the medium to alleviate
callus browning. Plant Biotechnol Rep 4(2): 129-
138.
Hà Thị Mỹ Ngân, Trần Đào Hồng Trinh, Đỗ Mạnh
Cường, Hoàng Thanh Tùng, Nguyễn Thị Nhật Linh,
Phan Lê Hà Nguyễn, Vũ Thị Hiền, Vũ Quốc Luận,
Bùi Văn Lệ, Dương Tấn Nhựt (2019) Hạn chế hiện
tượng thủy tinh thể và gia tăng tỷ lệ sống của cây
con hoa Đồng tiền (Gerbera jamesonii) nuôi cấy in
vitro trong môi trường có bổ sung nano bạc. Tạp chí
Công nghệ Sinh học 17(1): 115-124.
Hà Thị Mỹ Ngân, Hoàng Thanh Tùng, Ngô Đại
Nghiệp, Bùi Văn Lệ, Dương Tấn Nhựt (2019) Tác
động của nano bạc lên sự hạn chế khí ethylene và
hoạt độ enzyme thủy phân trong vi nhân giống cây
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
37
hoa hồng (Rosa hybrida L. ‘Baby Love’). Tạp chí
Công nghệ Sinh học 17(3): 505-517.
Hepler PK (2005) Calcium: a central regulator of
plant growth and development. Plant Cell 17(8):
2142-2155.
Hirschi KD (2004) The calcium conundrum. Both
versatile nutrient and specific signal. Plant Physiol
136(1): 2438-2442.
Kharrazi IVM, Nemati H, Tehranifar A, Bagheri A,
Sharifi A (2011) Culture of Carnation (Dianthus
caryophyllus L.) focusing on the problem of
vitrification. J Biol Environ Sci 5(13): 1-6.
Kumar P, Lakshmanan P, Thorpe TA (1998)
Regulation of morphogenesis in plant tissue culture
by ethylene. In vitro Cell Dev Biol Plant 34(2): 93-
103.
Kumar V, Parvatam G, Ravishankar GA (2009)
AgNO3 - a potential regulator of ethylene activity
and plant growth modulator. Electron J Biotechnol
12(2): 1-15.
Leva A, Petruccelli R, Rinaldi L (2012) Somaclonal
variation in tissue culture: a case study with olive. In
Leva A, ed. Recent advances in plant in vitro
culture. InTech: 123-150.
Li C, Zhou A, Sang T (2006) Rice domestication by
reducing shattering. Sci 311(5769): 1936-1939.
Luong Thien Nghia, Hoang Thanh Tung, Nguyen
Phuc Huy, Vu Quoc Luan, Duong Tan Nhut (2017)
The effects of silver nanoparticles on growth of
Chrysanthemum morifolium Ramat. cv. ‘JIMBA’ in
different cultural systems. Vietnam J Sci Technol
55(4): 493-504.
MacDonald MT, Lada RR, Dorais M, Pepin S (2011)
Endogenous and exogenous ethylene induces needle
abscission and cellulase activity in post-harvest
balsam fir (Abies balsamea L.). Trees 25(5): 947
Mayor ML, Nestares G, Zorzoli R, Picardi LA
(2003) Reduction of hyperhydricity in sunflower
tissue culture. Plant Cell Tissue Organ Cult 72: 99-
103.
Meir S, Philosoph-Hadas S, Sundaresan S, Selvaraj
KV, Burd S, Ophir R, Kochanek B, Reid MS, Jiang
C-Z, Lers A (2010) Microarray analysis of the
abscission-related transcriptome in the tomato flower
abscission zone in response to auxin depletion. Plant
Physiol 154(4): 1929-1956.
Murashige T, Skoog F (1962) A revised medium for
rapid growth and bio assays with tobacco tissue
cultures. Physiol Planta 15(3): 473-497.
Nair R, Varghese SH, Nair BG, Maekawa T,
Yoshida Y, Kumar DS (2010) Nanoparticulate
material delivery to plants. Plant Sci 179(3): 154-
163.
Ngan HTM, Cuong DM, Tung HT, Nghiep ND, Le
BV, Nhut DT (2020) The effect of cobalt and silver
nanoparticles on overcoming leaf abscission and
enhanced growth of rose (Rosa hybrida L. ‘Baby
Love’) plantlets cultured in vitro. Plant Cell Tiss Org
Cult 141(2): 393-405.
Oda ML, de Faria RT, Fonseca ICB, Silva GL
(2003) Fungicide and germicide on contamination
escaping in the in vitro propagation of Oncidium
varicosum Lindl. (Orchidaceae). Ciên Agrá 24 (2):
273-276.
Patterson SE (2001) Cutting loose. Abscission and
dehiscence in Arabidopsis. Plant Physiol 126(2):
494-500.
Perez-Tornero O, Burgos L (2000) Different media
requirements for micropropagation of apricot
cultivars. Plant, Cell Tiss Org Cult 63: 133-141.
Phan C, Letouze R (1983) A comparative study of
chlorophyll, phenolic and protein contents, and of
hydroxycinnamate: CoA ligase activity of normal
and ‘vitreous’ plants (Prunus avium L.) obtained in
vitro. Plant Sci Lett 31(2-3): 323-327.
Piagnani C, Zocchi G, Mignani I (1996) Influence of
Ca2+ and 6-benzyladenine on chestnut (Castanea
sativa Mill.) in vitro shoot-tip necrosis. Plant Sci
118(1): 89-95.
Roberts JA, Elliott KA, Gonzalez-Carranza ZH
(2002) Abscission, dehiscence, and other cell
separation processes. Annu Rev Plant Biol 53(1):
131-158.
Spinoso-Castillo J, Chavez-Santoscoy R,
Bogdanchikova N, Pérez-Sato J, Morales-Ramos V,
Bello-Bello J (2017) Antimicrobial and hormetic
effects of silver nanoparticles on in vitro
regeneration of vanilla (Vanilla planifolia Jacks. ex
Andrews) using a temporary immersion system.
Hà Thị Mỹ Ngân et al.
38
Plant Cell Tiss Org Cult 129(2): 195-207.
Taylor JE, Whitelaw CA (2001) Signals in
abscission. New Phytol 151(2): 323-340.
Thao NP, Khan MIR, Thu NBA, Hoang XLT,
Asgher M, Khan NA, Tran L-SP (2015) Role of
ethylene and its cross talk with other signaling
molecules in plant responses to heavy metal stress.
Plant physiol 169 (1):73-84.
Tomar UK, Negi U, Sinha AK, Dantu PK (2008)
Economics and factors influencing cost of
microprop- agated plants. My Forest 44:135–147.
Tucker ML, Burke A, Murphy CA, Thai VK,
Ehrenfried ML (2007) Gene expression profiles for
cell wall-modifying proteins associated with soybean
cyst nematode infection, petiole abscission, root tips,
flowers, apical buds, and leaves. J Exp Bot 58(12):
3395-3406.
Tucker ML, Whitelaw CA, Lyssenko NN, Nath P
(2002) Functional analysis of regulatory elements in
the gene promoter for an abscission-specific
cellulase from bean and isolation, expression, and
binding affinity of three TGA-type basic leucine
zipper transcription factors. Plant Physiol 130(3):
1487-1496.
Tung HT, Nam NB, Huy NP, Luan VQ, Hien VT,
Phuong TTB, Dung LT, Loc NH, Nhut DT (2018) A
system for large scale production of chrysanthemum
using microponics with the supplement of silver
nanoparticles under light-emitting diodes. Sci Hortic
232: 153-161.
Wang H, Van Staden J (2001) Establishment of in
vitro cultures of tree peonies. S Afr J Bot 67(2): 358-
361.
Yam TW, Arditti J (2009) History of orchid
propagation: a mirror of the history of
biotechnology. Plant Biotechnol Rep 3: 1-56.
Zacchini M, Agazio M (2004) Micropropagation of a
local olive cultivar for germplasm preservation. Biol
Plant 48: 589-592.
Ziv M (1991) Vitrification: morphologycal and
physiological disorders of in vitro plants. In Debergh
PC, Zimmerman RH, eds. Micropropagation,
Technology and Application. Kluwer Academic
Publishers, Dordrecht, the Nertherlands: 45-69.
ABNORMAL SYMPTOMS IN MICROPROPAGATION AND STRATEGIES TO
OVERCOME
Ha Thi My Ngan1,2, Hoang Thanh Tung2, Bui Van Le1, Duong Tan Nhut2
1University of Science, Vietnam National University Ho Chi Minh City, Ho Chi Minh City
2Tay Nguyen Institute for Scientific Research, Vietnam Academy of Science and Technology
SUMMARY
Nowaday, plant cell, tissue and organ culture has become a standard and popular propagation
method for many crops including ornamental plants, medicinal plants, fruit trees and green vegetables.
The advantage of this method is that it can generate a huge number of genetically identical seedlings,
effectively control the pathogenicity in order to produce disease-free plants, become a tool for
conservation and development of genetic sources and support study of physiological characteristics of
plants. However, this method still has some limitations such as abnormal physiological morphology
and anatomical structure; necrosis and deformities plants; stomata loss of function, etc. These
abnormalities have great impacts on shoot multiplication as well as the growth and development of the
plants after transplanted from the culture vessels to the nursery stage. The components of in vitro
culture conditions such as culture system, composition and content of nutrients, plant growth
regulators used in the culture medium, light, temperature and humidity, age and origin of explants,
etc., are the main causes of the abnormalities. Therefore, optimization of culture system to improve the
quality of seedlings has always been one of the main targets of commercial micropropagation. In this
review, we focused on some frequently abnormal symptoms in micro - propagation such as
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 23-39, 2020
39
vitrification, yellowing and abscission of leaves; microbial contamination; necrosis of shoot-tip, roots
and tissues culture; browning of explants and medium culture and other restrictions. More over, this
report showed some the effective solutions to overcome these abnormal phenomena.
Keywords: Abscission, browning, contamination, in vitro culture, necrosis explant, vitrification.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
mot_so_hien_tuong_bat_thuong_trong_vi_nhan_giong_thuc_vat_va.pdf