Nghiên cứu ảnh hưởng của chất giữ ẩm ams-1 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây gai xanh (boehmeria nivea (L) gaud) tại Thanh Hóa

Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 cho cây gai xanh tại tỉnh Thanh Hóa Kết quả bảng 7 cho thấy, khi bón chất giữ ẩm cho cây gai thì năng suất gai tăng đáng ể so với công thức đối chứng không bón. Giá trị sản phẩm thu được tăng cũng hơn so với đối chứng, dao dộng t 2.000.000đ đến 6.400.000đ. Tuy nhiên chi phí sản xuất cũng tăng thêm do giá thành chất giữ ẩm AMS-1 hiện nay khá cao nên chỉ số VCR chỉ đạt mức thấp, t 1,21 đến 1,35. Điều này cho thấy sử dụng chất giữ ẩm chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vụ gai đầu.KẾT LUẬN Bón chất giữ ẩm có tác dụng tăng độ ẩm đất, độ ẩm đất tăng hi lượng bón chất giữ ẩm AMS-1 tăng. Bón chất giữ ẩm ở mức 90 kg/ha cho kết quả về độ ẩm đất cao nhất (23,21% tại thời điểm 5 ngày sau trồng và 27,64% tại thời điểm thu hoạch). Bón chất giữ ẩm AMS-1 có tác động tích cực đến các chỉ tiêu phát triển về thân, cành, lá của cây gai xanh. Các cây trong công thức bón 90 kg/ha chất giữ ẩm có các chỉ tiêu sinh trưởng (số lá, chiều cao cây, đường kính thân cao hơn các công thức bón chất giữ ẩm còn lại và cao hơn đối chứng không bón. Công thức bón chất giữ ẩm mức 90 g/ha cho năng suất cao nhất, đạt 27,8 tấn/ha. Chỉ số VCR ở các công thức đều đạt ở mức thấp, cho thấy bón chất giữ ẩm AMS-1 chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao trong vụ gai đầu.

pdf8 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của chất giữ ẩm ams-1 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây gai xanh (boehmeria nivea (L) gaud) tại Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 61 NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẤT GIỮ ẨM AMS-1 ĐẾN SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY GAI XANH (BOEHMERIA NIVEA (L.) GAUD) TẠI THANH HÓA Lê Thị Hƣờng1, Đàm Hƣơng Giang2, Nguyễn Thị Chính3 TÓM TẮT Nghiên cứu đ ợc thực hiện trong năm 2019 nhằm đánh giá khả năng sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 trong canh tác cây gai xanh AP1 tại Thanh Hóa. Thí nghiệm g m 5 công thức bón chất giữ ẩm AMS-1 ở các mức khác nhau (0, 30, 50, 70, 90 kg/ha), trong đó công thức không bón chất giữ ẩm là đối chứng. Kết quả cho thấy bón chất giữ ẩm AMS-1 có tác động tích cực đến khả năng giữ ẩm của đất, độ ẩm đất tăng dần khi tăng l ợng bón AMS-1 và đạt cao nhất ở công thức bón 90kg/ha (23,21% tại th i điểm 5 ngày sau tr ng và 27,64% tại th i điểm thu hoạch). Bón chất giữ ẩm AMS-1 làm tăng các chỉ tiêu phát triển về thân, cành, lá của cây gai xanh so với đối chứng không bón ở mức có ý nghĩa 95%. Công thức bón chất giữ ẩm mức 90 kg/ha cho năng suất cao nhất, đạt 27,8 tấn/ha. Chỉ số tỷ suất lợi nhuận VCR ở các công thức đều đạt ở mức thấp (< 2), cho thấy bón chất giữ ẩm AMS-1 ch a mang lại hiệu quả kinh tế cao trong năm đầu tiên. Từ khóa: AMS-1, cây gai xanh, chất giữ ẩm, Thanh Hóa. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Thanh Hóa là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có tổng diện tích tự nhiên 11.129,48 km2 trong đó, đất nông nghiệp chiếm 914.282 ha. Trong tổng diện tích thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% [1]. Đây là vùng có điều kiện khí hậu, đất đai của tỉnh đƣợc đánh giá là khá phù hợp cho việc phát triển cây gai xanh (Boehmeria nivea (L.) Gaud). Cây gai là cây lấy sợi, nguồn gốc nhiệt đới, có tiềm năng sinh hối lớn, thời gian sinh trƣởng ngắn, sợi gai có nhiều ƣu điểm và là nguồn nguyên liệu có tiềm năng rất lớn trong ngành dệt may [5]. Hiện nay, phần lớn diện tích trồng gai hiện nay ở Thanh Hóa nằm ở vùng đất đồi khô hạn không chủ động tƣới do gai là cây có khả năng chịu hạn khá. Tuy nhiên, trong điều kiện đất khô hạn, năng suất gai giảm đáng ể. Vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật giữ ẩm cho đất rất có ý nghĩa trong canh tác gai. AMS-1 là sản phẩm gel giữ nƣớc t quá trình đồng trùng hợp ghép axit acrylic với tinh bột đã đƣợc biến tính, do Viện Hóa học thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia nghiên cứu và chế biến. AMS-1 là một polyme siêu thấm, có khả năng trƣơng nở và trữ nƣớc cho cây trồng, 1g AMS-1 có khả năng hút giữ 350 g nƣớc cất [3]. Với khả năng lƣu giữ đƣợc một lƣợng nƣớc lớn và nhả nƣớc nhiều lần, polymer siêu hấp thụ nƣớc AMS-1 có ý nghĩa quan trọng trong việc chống hạn cho cây trồng. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hƣởng của AMS-1 đến sinh trƣởng, phát triển và năng suất của cây gai xanh tại vùng đồi núi Thanh Hóa. 1,2,3 Khoa Nông - Lâm - Ng nghiệp, Tr ng Đại học ng Đức TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 62 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Vật liệu nghiên cứu Chất polyme giữ ẩm AMS-1: là sản phẩm gel giữ nƣớc t quá trình đồng trùng hợp ghép axit acrylic với tinh bột đã đƣợc biến tính, do Viện Hóa học thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia nghiên cứu và chế biến, đƣợc Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam công nhận là một tiến bộ kỹ thuật và đƣợc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lựa chọn ứng dụng vào trồng trọt. AMS-1 là một polyme siêu thấm, có khả năng trƣơng nở t 350 - 400 lần. Cây gai xanh AP1: đƣợc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống tốt cho sản xuất năm 2017. Phân bón và các vật liệu hác hung điều tra, thƣớc, bình bơm, sổ ghi chép,...). 2.2. Nội dung nghiên cứu Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng bón polyme giữ ẩm AMS-1 đến độ ẩm đất. Đánh giá ảnh hƣởng của lƣợng bón polyme giữ ẩm AMS-1 đến khả năng sinh trƣởng, phát triển và năng suất của cây gai xanh. Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng polyme giữ ẩm AMS-1 trong sản xuất gai. 2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.3.1. Ph ơng pháp bố trí thí nghiệm Công thức thí nghiệm: I ĐC1 : Không bổ sung polyme giữ ẩm AMS-1 II: Bổ sung 30kg/ha polyme giữ ẩm AMS-1 III: Bổ sung 50kg/ha polyme giữ ẩm AMS-1 IV: Bổ sung 70kg/ha polyme giữ ẩm AMS-1 V: Bổ sung 90kg/ha polyme giữ ẩm AMS-1 Các công thức thí nghiệm đƣợc tiến hành trên nền phân bón: Vôi bột: 1,5 tấn /ha, 20 tấn phân chuồng + 600 kg NPK 18-6-12 + 100 g/ha đạm urê. Thí nghiệm đƣợc bố trí tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa năm 2019. Tổng lƣợng mƣa cả năm đạt 1527 mm, các tháng có lƣợng mƣa thấp nhất là tháng 1, 2, 3 và tháng 12. Thời điểm trồng gai rơi vào tháng 3 với lƣợng mƣa thấp, chỉ đạt 45,3 mm (bảng 1). Bảng 1. Lƣợng mƣa trung b nh các tháng trong năm 2019 Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lƣợng mƣa TB (mm) 16.7 18.8 45.3 58.5 188.6 149.7 213.3 189.0 309.5 209.5 93.6 34.5 Ngu n: Trạm Khí t ợng Thủ văn Thanh óa, 2019 Bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng diện tích ô thí nghiệm 27 m2/ô (trồng 3 hàng gai, dài 10 m, khoảng cách hàng 0,9 m, khoảng cách cây 0,4 m). Các ô thí nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ, nhắc lại 3 lần. Tổng diện tích ô thí nghiệm = 15 ô x 27 m2 = 405 m2. Diện tích toàn thí nghiệm: 500 m2 cả dải bảo vệ. TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 63 2.3.2. Chỉ tiêu theo dõi và ph ơng pháp xác định các chỉ tiêu Ph ơng pháp lẫ mẫu Các mẫu đất đƣợc lấy theo phƣơng pháp 5 điểm chéo góc 5, 10, 15, 20, 25, 30 ngày sau tƣới và tại thời điểm thu hoạch. Mỗi điểm lấy 0,5 g đất ở độ sâu 20 - 30 cm. Lấy mẫu vào lúc chiều mát. Ph ơng pháp đo độ ẩm đất Cân 50g mẫu đất cho vào cốc thủy tinh đã sấy hô, đánh số. Cân khối lƣợng của cốc và mẫu đất. Đem mẫu sấy khô ở trong tủ sấy ở 1050C trong 24h, lấy cốc ra khỏi tủ sấy, làm nguội mẫu rồi đem cân cốc có đựng mẫu đã nguội trên cân kỹ thuật. Độ ẩm đất W đƣợc tính bằng phần trăm theo công thức của Head (2012) [4]. Theo dõi sinh tr ởng, phát triển và năng suất gai Chiều cao cây cm : Đo t cổ rễ đến điểm cao nhất của ngọn cây của tất cả các cây trong khóm, tính chiều cao cây trung bình. Định kỳ 7 ngày theo dõi 1 lần. Tốc độ tăng trƣởng chiều cao cây (cm/kỳ theo dõi) = Chiều cao kỳ sau - Chiều cao kỳ trƣớc liền kế trƣớc đó. Số lá/thân chính: đánh dấu và đếm số lá trên thân chính. Đình ỳ theo dõi 7 ngày/lần. Số thân/ hóm: đếm số thân/khóm khi thu hoạch. Đƣờng ính thân: đo đƣờng kính của tất cả các cây trong khóm ở vị trí cách cổ rễ 15 cm. Tính đƣờng kính cây trung bình. Khối lƣợng cây tƣơi g : cân hối lƣợng (thân + lá) của các cây trong khóm. Tính khối lƣợng cây trung bình. Năng suất sinh khối (tấn/ha): Cân khối lƣợng cây tƣơi của toàn ô thí nghiệm. Năng suất thân tƣơi tấn/ha): Cân khối lƣợng thân tƣơi sau hi loại bỏ lá và ngọn non. Vỏ khô: Tách vỏ, phơi hô, cân hối lƣợng vỏ khô. CT tính: Tỷ lệ vỏ khô (%) = khối lƣợng vỏ hô/năng suất sinh khối) x 100 Tỷ suất lợi nhuận bón chất giữ ẩm (VCR): Bằng giá trị sản phẩm tăng thêm chia cho chi phí bón tăng thêm do sử dụng chất giữ ẩm. Ph ơng pháp xử lý số liệu Số liệu thu thập đƣợc đƣợc sử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và Irristart 5.0. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Ảnh hưởng lượng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến khả năng giữ nước của đất Bảng 2. Ảnh hƣởng lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến khả năng giữ nƣớc của đất ĐVT: Công thức Độ ẩm đất sau 5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày 30 ngày Thu hoạch I ĐC 15,43 11,40 16,67 13,63 10,19 10,29 17,19 II 17,27 12,75 17,82 14,81 12,59 12,49 20,52 III 18,78 13,79 19,31 15,20 14,03 13,87 24,03 IV 21,04 15,49 19,87 16,12 15,86 15,21 25,95 V 23,21 16,49 20,03 16,45 15,87 14,97 27,64 TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 64 Kết quả theo dõi cho thấy, khả năng giữ ẩm ở các công thức có bón chất giữ ẩm đều cao hơn so với công thức đối chứng ở tất cả các thời điểm nghiên cứu, lƣợng bón chất giữ ẩm càng cao thì khả năng giữ nƣớc càng lớn. Ở lƣợng bón 90 kg/ha khả năng giữ ẩm cao hơn so với công thức đối chứng I, độ ẩm tăng so với đối chứng là 50% (5 ngày sau trồng), 46,3% (10 ngày sau trồng), 42,9% (30 ngày sau trồng) và 160,8% ở kỳ thu hoạch đầu tiên (3 tháng sau trồng . Điều này chứng tỏ khi bổ sung AMS-1 đã giúp điều hòa mối quan hệ đất - nƣớc, tăng hả năng giữ nƣớc của đất 60,8%. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Bích Thủy và cộng sự (2017) về bón bổ sung chất giữ ẩm cho cây cao su tại Quảng Bình cũng cho ết quả tƣơng tự. Khi tăng lƣợng bón chất giữ ẩm t 10 g, 20 g đến 30 g/gốc, khả năng giữ ẩm của đất tăng dần và cao hơn rõ rệt so với không bón. 3.2. Ảnh hƣởng lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái tăng trƣởng chiều cao cây gai xanh (Boehmeria nivea (L.) Gaud) tại Thanh Hóa Kết quả trình bày ở bảng 3 cho thấy, ở các kì theo dõi, chiều cao cây của gai tăng dần hi tăng dần lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 cho đất. Công thức bón 90 kg/ha, cho sự phát triển vƣợt trội về chiều cao so với các công thức khác, ở hầu hết các kì theo dõi. Ở kì theo dõi cuối cùng chiều cao cây của công thức này đạt 187,3 cm cao hơn so với công thức đối chứng là 28 cm và các công thức còn lại ở mức ý nghĩa 95%. Bảng 3. Ảnh hƣởng lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái tăng trƣởng chiều cao cây gai xanh (Boehmeria nivea (L.) Gaud) tại Thanh Hóa ĐVT: cm Công thức Ngà sau tr ng... (Ngày) 7 14 21 28 35 42 49 56 63 70 Chiều cao cuối cùng I (ĐC 6,1 10,3 16,1 24,0 30,7 39,2 46,3 86,03 128,23 137,98 159,33 II 6,2 10,5 16,3 24,8 32,6 41,1 49,1 88,47 132,86 13,38 166,57 III 6,7 10,9 16,8 26,1 34 41,6 50,5 91,12 135,66 142,61 172,64 IV 7,3 11,7 18,1 26,8 35,2 43,6 51,6 95,33 147,35 153,63 182,07 V 7,1 11,2 17,8 27,8 37,6 45,5 53,4 96,21 143,45 160,35 187,37 CV% - - - - - - - - - - 9,8 LSD0,5 - - - - - - - - - - 8,7 3.3. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái ra lá trên thân chính cây của cây gai xanh (Boehmeria nivea (L.) Gaud) tại Thanh Hóa Bảng 4 cho thấy: Ở các kì theo dõi các công thức bón chất giữ ẩm AMS-1 đều có số lá lớn hơn so với công thức đối chứng. Giai đoạn sau trồng 7 ngày số lá trên thân chính của cây biến động trong khoảng t 5,4 lá (CTI đên 6,6 lá (CTV), trong đó số lá thấp nhất thu đƣợc ở CTI Đ/C đạt 5,4 lá. Tốc độ tăng trƣởng số lá cây tăng mạnh dần trong các tuần tiếp theo và đạt mạnh nhất trong giai đoạn 28 - 42 ngày sau trồng, trong giai đoạn này tốc độ tăng trƣởng của CT5 tăng cao nhất t 14,4 lá lên đến 21,5 lá tăng 7,1 lá), trong cùng thời điểm đó CTI ĐC tăng t 12,7 lá lên 19,6 lá (tăng 6,9 lá). Tốc độ tăng trƣởng lá biến động theo t ng thời ì tăng trƣởng, tuy nhiên xét về tổng quan ở CTV (bón 90 kg/ha) TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 65 luôn đạt tốc độ tăng trƣởng vƣợt trội hơn so các công thức còn lại. Số lá cuối cùng trên thân chính đạt 33,8 lá/thân cao hơn rõ rệt so với đối chứng (30,5 lá/thân). Bảng 4. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái ra lá trên thân chính cây của cây gai xanh (Boehmeria nivea (L.) Gaud) ĐVT: lá Công thức Ngà sau tr ng... (ngày) 7 14 21 28 35 42 49 56 63 70 Số lá cuối cùng I (ĐC 5,4 7,3 10,0 12,7 15,4 19,6 21,3 24,2 27,3 30,5 30,5 II 6,1 7,9 10,5 13,2 16,2 19,2 22,5 24,9 27,9 30,7 30,7 III 6,5 8,3 10,8 13,7 16,5 19,5 22,3 25,3 28,8 31,3 31,3 IV 6,4 8,6 11,2 14,1 17,4 20,1 23,0 25,9 29,2 31,9 31,9 6,6 8,5 11,4 14,4 17,6 21,5 23,7 26,2 29,7 32,5 33,8 CV% - - - - - - - - - - 4,8 LSD0,5 - - - - - - - - - - 2,2 3.4. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái tăng trƣởng đƣờng kính thân của cây gai xanh Bảng 5. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến động thái tăng trƣởng đƣờng kính thân cuả cây gai xanh ĐVT: cm Công thức Ngà sau tr ng... (ngày) 7 14 21 28 35 42 49 56 63 70 Đ ng kính thân cuối cùng I (ĐC 0,07 0,09 0,14 0,19 0,28 0,47 0,47 0,53 0,81 9,02 1,07 II 0,06 0,10 0,15 0,23 0,32 0,49 0,49 0,56 0,87 9,21 1,15 III 0.07 0,12 0,16 0,23 0,33 0,50 0,50 0,58 0,89 9,83 1,28 IV 0,07 0,13 0,14 0,23 0,35 0,53 0,54 0,59 0,91 1,01 1,31 V 0,06 0,13 0,15 0,24 0,35 0,55 0,61 0,63 0,95 1,12 1,35 CV% - - - - - - - - - - 5,3 LSD0,5 - - - - - - - - - - 0,21 Đƣờng ính thân là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất sợi gai. Qua bảng 5 cho thấy, đƣờng ính thân của cây gai xanh tăng dần qua các giai đoạn sinh trƣởng. Đặc biệt, đƣờng ính thân ở các công thức sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 thì tốc độ tăng về đƣờng ính thân cao hơn so với công thức đối chứng, thể hiện rõ nhất ở công thức V đƣờng ính thân mạnh t 0,06 cm thời điểm 7 ngày sau giâm tăng lên 1,35 cm ở thời điểm thu hoạch). T đó cho thấy, chất giữ ẩm AMS-1 cũng ảnh hƣởng hông nhỏ tới sự sinh trƣởng về thân cây gai xanh. TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 66 3.5. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây gai xanh (Boehemira nivea (L.) Gaud) tại Thanh Hóa Bảng 6. Ảnh hƣởng của lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 đến các yếu tố cấu thành năng suất của cây gai xanh Chỉ tiêu theo dõi I II III IV V CV% LSD0,05 Tổng số thân/ hóm 4,1 4,3 4,7 4,9 4,8 - - Khối lƣợng trung bình thân cây tƣơi g 193,5 197,1 199,6 203,2 204,2 7,20 1,67 Năng suất cây tƣơi tấn/ha 21,4 23,4 24,8 26,6 27,8 8,5 2,94 Năng suất vỏ hô g/ha 639,70 687,25 701,70 710,8 841,85 6,7 2,36 Qua bảng 6 cho thấy, tổng số thân ở công thức bón chất giữ ẩm với lƣợng 70 kg/ha (công thức IV) cho số thân/khóm cao nhất đạt 4,9 hóm/cây cao hơn công thức đối chứng I (không bón chất giữ ẩm) là 0,8 khóm/cây. Khối lƣợng cây trung bình của các công thức bón chất giữ ẩm hác nhau dao động t 193,5 đến 204,2 g. Các công thức có bón chất giữ ẩm có khối lƣợng cây trung bình cao hơn công thức đối chứng ở mức tin cậy 95%. Trong đó hối lƣợng cây lớn nhất thu đƣợc ở công thức V đạt 204,2g. Năng suất cây tƣơi, năng suất vỏ hô cũng tăng cao hơn so với công thức đối chứng ở mức có ý nghĩa. Năng suất cây tƣơi đạt cao nhất ở công thức V với 27,8 tấn/ha. Đây cũng là công thức cho năng suất vỏ khô cao nhất, đạt 841,64kg. Tỷ lệ thu hồi vỏ hô đạt 3,03%. 3.6. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 cho cây gai xanh tại tỉnh Thanh Hóa Kết quả bảng 7 cho thấy, khi bón chất giữ ẩm cho cây gai thì năng suất gai tăng đáng ể so với công thức đối chứng không bón. Giá trị sản phẩm thu đƣợc tăng cũng hơn so với đối chứng, dao dộng t 2.000.000đ đến 6.400.000đ. Tuy nhiên chi phí sản xuất cũng tăng thêm do giá thành chất giữ ẩm AMS-1 hiện nay khá cao nên chỉ số VCR chỉ đạt mức thấp, t 1,21 đến 1,35. Điều này cho thấy sử dụng chất giữ ẩm chƣa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vụ gai đầu. Bảng 7. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất giữ ẩm AMS-1 cho cây gai xanh tại tỉnh Thanh Hóa Chỉ tiêu Công thức I ĐC II III IV V Năng suất gai tấn/ha 21,4 23,4 24,8 26,6 27,8 Chênh lệch năng suất so với hông bón chất giữ ẩm AMS-1 tấn/ha - 2,0 3,4 5,2 6,4 Chênh lệch về chi phí tăng thêm do bón chất giữ ẩm AMS-1 đ/ha - 1.650.000 2.750.000 3.850.000 4.950.000 Giá bán sản phẩm đ/tấn - 1.000.000 1.000.000 1.000.000 1.000.000 Chênh lệch về giá trị sản phẩm tăng thêm do bón chất giữ ẩm đ/ha - 2.000.000 3.400.000 5.200.000 6.400.000 VCR của việc bón chất giữ ẩm - 1,21 1,24 1,35 1,29 Chú thích: 1 kg t ơi = 1.000 đ ng, 1 kg chất giữ ẩm = 55.000 đ ng TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 67 4. KẾT LUẬN Bón chất giữ ẩm có tác dụng tăng độ ẩm đất, độ ẩm đất tăng hi lƣợng bón chất giữ ẩm AMS-1 tăng. Bón chất giữ ẩm ở mức 90 kg/ha cho kết quả về độ ẩm đất cao nhất (23,21% tại thời điểm 5 ngày sau trồng và 27,64% tại thời điểm thu hoạch). Bón chất giữ ẩm AMS-1 có tác động tích cực đến các chỉ tiêu phát triển về thân, cành, lá của cây gai xanh. Các cây trong công thức bón 90 kg/ha chất giữ ẩm có các chỉ tiêu sinh trƣởng (số lá, chiều cao cây, đƣờng kính thân cao hơn các công thức bón chất giữ ẩm còn lại và cao hơn đối chứng không bón. Công thức bón chất giữ ẩm mức 90 g/ha cho năng suất cao nhất, đạt 27,8 tấn/ha. Chỉ số VCR ở các công thức đều đạt ở mức thấp, cho thấy bón chất giữ ẩm AMS-1 chƣa mang lại hiệu quả kinh tế cao trong vụ gai đầu. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2018), Quyết định số 3873/QĐ-BTNMT phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2017. [2] Hoàng Bích Thủy, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Minh Hiếu (2017), Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất giữ ẩm PMAS-1 đến độ ẩm, một số vi sinh vật đất và sinh trƣởng, phát triển của cây cao su kiến thiết cơ bản tại Quảng Bình, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thông, kỳ 2, trang 80-85. [3] Nguyễn Văn Khôi, Thân Văn Hiệp, Trịnh Đức Công, Trần Vũ Thắng, Phạm Thị Thu Hà (2011), Ảnh hƣởng của polyme siêu hấp thụ nƣớc đến sự sinh trƣởng, phát triển của các loài cây họ đậu trồng trên bãi thải khai thác than - mỏ than núi Hồng, tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 49 (3), trang 99-104. [4] Head K. H, MA, C.Eng, F/CE, FGS (2012), Manual of soil laboratory testin, Pentech press London. [5] Sabyasachi Mitra, Suprakash Saha, Biswajit Guha, Krishanu Chakrabarti, Pratik Satya, A. K. Sharma, S. P. Gawande, Mukesh Kumar and Monidipta Sah (2013), Ramie: The Strongest Bast Fibre of Nature. Central research Institut for jute and allied fiber, Technical Bulletin, Indian Council of Agricultural Research. STUDY ON EFFECTS OF SUPER ABSORBENT POLYMER AMS-1 ON GROWTH, DEVELOPMENT AND YIELD OF RAMIE (BOEHMERIA NIVEA (L.) GAUD) IN THANH HOA PROVINCE Le Thi Huong, Dam Huong Giang, Nguyen Thi Chinh ABSTRACT This study was carried out in 2019 to evaluate the effects of AMS-1 super absorbent polymer on a ramie variety AP1 in Thanh Hoa. The experiment included 5 treatments with different doses of AMS-1 (0, 30, 50, 70 and 90 kg ha-1), in which the TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 50.2020 68 treatment with 0kg AMS-1 was the control. Results showed that soil moisture content inceased with the increase of the amount of AMS-1. Soil moisture content was the highest with the treatment of 90kg ha-1 AMS-1 (23.21% at 5 days after planting and 27.64% at harvesting time). Aplication of AMS-1 increased the growth of rami plant. Application of AMS-1 at the dose of 90kg ha-1 gave the highest rami fresh yield of 27.8 tons ha-1. However, the value cost ratios of all the treatments were relatively low (<2), indicated that economic efficiency of using AMS-1 was low at the first harvesting. Keywords: AMS-1, Boehmeria nivea (L.) Gaud, super absorbent polymer, Thanh Hoa province. * Ngà nộp bài: 23/3/2020; Ngà gửi phản biện: 25/3/2020; Ngà du ệt đăng: 25/6/2020 * Bài báo này là kết quả nghiên cứu từ đề tài cấp cơ sở mã số ĐT-2018-28 của Tr ng Đại học ng Đức.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_chat_giu_am_ams_1_den_sinh_truong_p.pdf
Tài liệu liên quan