Kết luận
Kết quả nghiên cứu tại Khu di tích lịch sử Tân
Trào, tỉnh Tuyên Quang đã cho thấy: Thành phần loài
và cấu trúc của rừng tự nhiên trong khu vực ít bị tác
động, cấu trúc của rừng có 5 tầng, trong đó có 3 tầng
cây gỗ rõ rệt: Tầng vượt tán (A1), tầng tán rừng (A2),
tầng dưới tán (A3); tầng cây bụi (B); tầng thảm tươi
(C). Rừng tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình
thành từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở
địa hình thấp và núi thấp: Rừng thuần loài gặp nhiều ở
các xã Hùng Lợi, Trung Minh, Kim Quan, Trung Yên,
Tân Trào; Rừng hỗn giao với cây lá rộng có ở tất cả
các xã trong khu di tích.
Qua điều tra cho thấy những hoạt động khai thác
quá mức nguồn tài nguyên rừng ở đây đã làm suy giảm
mạnh tính đa dạng của các nhóm loài thực vật rừng.
Những hoạt động khai thác quá mức của con người
không những làm suy giảm thành phần loài cây gỗ lớn
và các loài cây có giá trị làm thuốc, làm cảnh, làm thức
ăn gia súc, mà còn làm cho cấu trúc của rừng bị phá
vỡ, do đó làm giảm khả năng phòng hộ bảo vệ môi
trường của rừng cũng như chức năng tạo nên cảnh quan
cho Khu di tích. Các ban ngành chức năng cần sớm có
các biện pháp để duy trì, bảo vệ và phát triển rừng.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của con người đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
No.15_Mar 2020|Số 15 – Tháng 3 năm 2020|p.21-28
21
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
Nghiên cứu ảnh hưởng của con người đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích
lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
Đỗ Công Baa*
a Trường Đại học Tân Trào
*Email: congbacdsp@gmail.com
Thông tin bài viết Tóm tắt
Ngày nhận bài:
10/01/2020
Ngày duyệt đăng:
10/3/2020
Kết quả nghiên cứu tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang đã cho
thấy những hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng ở đây đã làm
suy giảm mạnh tính đa dạng của các nhóm loài thực vật rừng. Nhóm cây làm
thuốc có 470 loài, trong đó 10 loài bị khai thác với tần suất lớn gồm Ba kích,
Củ dòm, Hà thủ ô đỏ, Lá khôi, Tắc kè đá; nhóm cây ăn được có 142 loài
cũng thường xuyên bị thu hái, tận diệt như Rau sắng, Rau dớn, các loại quả
Trám đen, Trám trắng, các loại măng như Vầu, Nứa, Giang; nhóm cây làm
cảnh có 99 loài gồm Lộc vừng, Đa, Sanh, Trúc vuông; nhóm cây cho tinh
dầu có 69 loài, chiếm 9,5% tổng số loài thực vật đã điều tra được ở khu vực
nghiên cứu. Một số loài thường gặp như: Hoa Giẻ Thơm (Desmos chinensis),
Ké đầu ngựa (Xanthiuminae quilaterum), Màng tang (Litsea cubeba), Bồ hòn
(Sapindus saponaria)..... Do việc khai thác quá mức trong thời gian dài trước
đây của con người đến thành phần loài, cấu trúc phân tầng của rừng tự nhiên
mà hiện nay ở Khu di tích có nhiều kiểu thảm thực vật khác nhau. Các kiểu
thảm thực vật này có sự khác nhau rõ rệt giữa rừng tự nhiên được bảo vệ và
rừng tái sinh bị khai thác kiệt.
Từ khóa:
Khu di tích; khai thác;
đa dạng; Tân Trào;
tỉnh Tuyên Quang.
1. Mở đầu
Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
cách thành phố Tuyên Quang khoảng 40 km, cách thủ
đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Bắc. Khu di tích
thuộc địa bàn 11 xã: Tân Trào, Minh Thanh, Trung
Yên, Bình Yên, Lương Thiện (huyện Sơn Dương); Kim
Quan, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh, Đạo Viện,
Công Đa (huyện Yên Sơn) với tổng diện tích tự nhiên
là 48.035,27 ha. Nơi đây được biết đến với những cánh
rừng già đại ngàn, đã che chở bảo vệ cho Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội,
Mặt trận, các bộ, ban, ngành trung ương trong thời kỳ
chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng
Tám năm 1945 và trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược [1]. Đến nay chưa có công trình nào
công bố về các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thảm
thực vật rừng ở đây. Vì vậy, nội dung bài báo này trình
bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng của
con người đến tính đa dạng của hệ thực vật và thảm
thực vật rừng tự nhiên ở Khu di tích lịch sử Tân Trào,
nhằm góp phần phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và
phát triển bền vững Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc
biệt này.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của con người
đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân
Trào, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian nghiên cứu từ tháng
6 năm 2016 đến tháng 3 năm 2018.
- Điều tra thực địa được tiến hành từ năm 2016 đến
năm 2017, cụ thể: Đợt 1: tháng 6/2016; Đợt 2: tháng
9/2016; Đợt 3: tháng 12/2016; Đợt 4: tháng 3/2017.
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
22
- Thực hiện điều tra phỏng vấn đợt 1: tháng 8/2016,
đợt 2: tháng 10/2016, đợt 3: tháng 12/2016.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu thực vật
Điều tra, thu thập mẫu thực vật theo tuyến và ô tiêu
chuẩn, xử lý mẫu theo các tài liệu của Hoàng Chung
(2008) [3], Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [4].
2.2.2. Phương pháp định loại mẫu thực vật
Sử dụng phương pháp so sánh hình thái và dựa vào
các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (2003-2005) [5],
Phạm Hoàng Hộ (1993) [6]. Lập danh lục thực vật theo
Brummitt (1992) [8]. Xác định dạng sống thực vật theo
Raunkiaer (1934) [9]. Đánh giá về giá trị sử dụng của
các loài thực vật theo các tài liệu của Võ Văn Chi
(2012) [10], Trần Đình Lý (1993) [11], Triệu Văn Hùng
(2007) [12].
2.2.3. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có
sự tham gia của người dân (PRA)
Thực hiện phỏng vấn thông qua phiếu phỏng vấn
với 100 hộ dân ở 11 xã thuộc khu di tích lịch sử Tân
Trào. Mỗi xã phỏng vấn một nhóm từ 8-10 người dân
đại diện cho các hộ gia đình có hoạt động khai thác và
sản xuất lâm nghiệp.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Ảnh hưởng của con người đến nhóm loài
thực vật
3.1.1. Hoạt động khai thác gỗ
Qua điều tra xác định được 188 loài cây lấy gỗ
(chiếm 25,9%), hiện nay các loài cây gỗ quý có đường
kính lớn như: Đinh, Lim, Sến, Táucòn lại rất ít, chủ
yếu còn tồn tại ở xung quanh các điểm di tích hoặc mọc
rải rác trong các khu rừng tự nhiên được bảo vệ nghiêm
ngặt. Số liệu ở Bảng 1, chúng tôi đã tiến hành phỏng
vấn 344 người thuộc 11 xã khu vực nghiên cứu, kết quả
ghi nhận giai đoạn từ năm 2000 - 2010 có 253 người
(chiếm 73,55%) có hoạt động khai thác gỗ. Giai đoạn từ
năm 2010 - 2018 có 175 người (chiếm 50,87%) có khai
thác gỗ, trung bình cả giai đoạn từ năm 2000 - 2018 có
62,2% tham gia hoạt động khai thác gỗ. Từ sau năm
2010 số người khai thác gỗ đã giảm (22,68%), nguyên
nhân là do các cơ quan chức năng đã bảo vệ rừng
nghiêm ngặt hơn, mặt khác trữ lượng gỗ của rừng tự
nhiên đã giảm đi rất nhiều, những cây gỗ quí đường
kính lớn từ 1,5 - 2m hầu như rất ít gặp, chỉ còn lại
những cây gỗ nhỏ.
Bảng 1. Thống kê các loài cây gỗ thường bị khai
thác tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Khi điều tra chúng tôi nhận thấy trước đây mục đích
của người dân khai thác gỗ chủ yếu để làm nhà, đóng
đồ dùng trong gia đình, làm chuồng trại cho gia cầm,
gia súc. Nhưng ngày nay mục đích khai thác gỗ còn để
bán tăng thêm thu nhập cho gia đình. Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu 11 xã tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
chọn mỗi xã chọn 10 người và phỏng vấn bằng phiếu
điều tra những người có liên quan đến hoạt động khai
thác gỗ, kết quả tổng hợp ở Bảng 2. Như vậy, số người
khai thác gỗ để bán theo các mốc thời gian khác nhau
đều cao hơn số người khai thác gỗ để sử dụng trong gia
đình.
Bảng 2. Thống kê mục đích khai thác gỗ từ năm
1990 - 2018 tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Do khai thác, buôn bán gỗ bất hợp pháp đem lại thu
nhập cao, nhiều người dân đã bỏ ruộng vườn để vào
rừng khai thác gỗ. Số liệu ở bảng 3 cho thấy, trong giai
đoạn từ năm 2013 - 2017 tại Khu di tích lịch sử Tân
Trào tổng số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng
bị cơ quan chức năng xử lý là 677 vụ, trong đó vi phạm
trực tiếp liên quan đến rừng là 179 vụ (chiếm 26,44%),
vi phạm gián tiếp là 498 vụ (chiếm 73,56%). Thống kê
cũng chỉ ra trong 5 năm các vụ vi phạm như phá rừng
trái phép, khai thác gỗ trái phép là 108 vụ (chiếm
60,33% số vụ vi phạm trực tiếp liên quan đến rừng).
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
23
Bảng 3. Thống kê các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển
rừng tại Khu di tích lịch sử Tân Trào từ năm 2013-2017
Bảng 4. Thống kê các vụ vi phạm bị kiểm lâm bắt
giữ tại 5 xã Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Hạt Kiểm lâm Khu di tích lịch sử Tân Trào)
Để làm rõ hơn tình hình khai thác gỗ trái phép hiện
nay, chúng tôi đã tiến hành thống kê các vụ vi phạm
Luật bảo vệ và phát triển rừng tại 5 xã điển hình của
Khu di tích lịch sử Tân Trào. Kết quả được thể hiện ở
Bảng 4, trong 5 năm đã có 149 vụ vi phạm bị kiểm lâm
bắt giữ, trong đó có 14 vụ vi phạm về phá rừng trái
phép và khai thác rừng trái phép. Ngoài ra còn có thể có
nhiều vụ vi phạm liên quan đến rừng nhưng không bị
kiểm lâm phát hiện.
Bảng 4 cho thấy, số vụ vi phạm luật Bảo vệ và
phát triển rừng ở 5 xã điển hình của Khu di tích lịch sử
Tân Trào có xu hướng giảm. Cụ thể: năm 2013 có số
vụ vi phạm nhiều nhất (50 vụ), số vụ vi phạm ít nhất
là năm 2015 và 2017 (20 vụ). Tổng số gỗ khai thác
trái phép bị tịch thu là 27,643m3, tổng số tiền phạt là
183,025 triệu đồng. Tuy số lượng gỗ và số tiền bị phạt
không lớn nhưng hoạt động khai thác gỗ trái phép, phá
rừng trái phép vẫn diễn ra, hậu quả là đã làm suy giảm
nguồn tài nguyên cây gỗ và ảnh hưởng đến sự tồn tại
của nhiều loài thực vật và sinh vật khác trong cùng
sinh cảnh sống. Vì vậy, các ban ngành chức năng của
địa phương cần thực hiện các biện pháp hữu hiệu để
giải quyết tình trạng này.
Hoạt động khai thác gỗ đã và đang là một vấn đề
hết sức phức tạp, làm suy giảm nguồn tài nguyên cây
gỗ và ảnh hưởng đến nhiều loài thực vật khác trong
cùng sinh cảnh sống. Khi nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ
sẽ tác động đến các loài khác do các nhân tố sinh thái
(ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ) thay đổi theo, ảnh
hưởng tiêu cực đến tính đa dạng của hệ thực vật ở Khu
di tích lịch sử Tân Trào.
3.1.2. Hoạt động khai thác cây làm thuốc
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy trong số 470
loài cây làm thuốc (chiếm 64,74%), có 10 loài người
dân thường xuyên khai thác, các loài này hầu hết
nằm trong danh mục các loài cây cần được bảo tồn.
Từ kết quả điều tra trong Bảng 5 cho thấy bộ phận
cây làm thuốc chủ yếu là thân cây, rễ cây, hoặc cả
cây, nên khả năng tái sinh, sinh trưởng và phát triển
của cây sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, thậm chí nhiều loài
có nguy cơ mất hẳn.
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
24
Bảng 5. Danh sách các loài cây người dân thường
khai thác làm thuốc tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Hiện nay, việc khai thác các loài cây thuốc tuy đã
giảm so với trước đây, do sự giám sát của chính quyền
các cấp, nhưng đây vẫn là hoạt động thường xuyên
của đa số người dân địa phương, là sinh kế góp phần
xóa đói giảm nghèo của người dân. Bảng 6 cho thấy
khối lượng (tươi) ước tính một số loài cây thuốc khai
thác tại khu vực nghiên cứu. Với việc khai thác như
hiện nay, trong tương lai không xa, thảm thực vật rừng
cũng sẽ bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích và
chất lượng rừng.
Bảng 6. Tình hình khai thác các loài cây làm thuốc
tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
3.1.3. Hoạt động khai thác cây cho tinh dầu
Điều tra khu vực nghiên cứu cho thấy có 69 loài cây
cho tinh dầu (chiếm 9,50%). Ở các địa phương thuộc
Khu di tích việc sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên
này chưa nhiều. Tuy nhiên, Ban quản lý Khu di tích cần
phải có kế hoạch bảo vệ vì những loài này có nguy cơ
bị khai thác cạn kiệt rất cao khi nhu cầu của thị trường
tăng cao trong tương lai. Bảng 7 là các loài cây có tinh
dầu thường gặp tại Khu di tích.
Bảng 7. Danh sách các loài cây cho tinh dầu
thường gặp tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
3.1.4. Hoạt động khai thác cây ăn được
Trong Khu di tích đã thống kê được 142 loài cây
(chiếm 19,56%) có giá trị sử dụng làm thức ăn (rau, củ,
quả) cho con người. Trong Bảng 8 chúng tôi chỉ trình
bày 29 loài mà người dân thường khai thác nhiều như:
Rau sắng (Meliantha suavis), Rau dớn (Callipteris
esculenta), Rau dệu (Alternanthera sessilis), Rau khúc
nếp (Gnaphalium polycaulon), Sấu (Dracontomelum
duperreanum), Tai chua (Garcinia cowa), Trám đen
(Canarium tramdenum), Trám trắng (C. album), Dọc
(Garcinia multiflora)...; Một số loại măng như Nứa
(Neohouzeana dullosa), Vầu (Bambusa nutans)
Nhóm cây này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, vì chúng là
nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày, được bà con khai
thác thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó
cũng là một trong những nguyên nhân làm suy giảm
nghiêm trọng đến đa dạng loài của thảm thực vật trong
Khu di tích.
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
25
Bảng 8. Các loài cây ăn được người dân thường
xuyên khai thác tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
3.1.5. Hoạt động khai thác cây làm thức ăn cho
gia súc
Hiện nay, chăn nuôi đại gia súc ở các xã thuộc Khu
di tích nói riêng và hai huyện Sơn Dương, Yên Sơn nói
chung đã và đang phát triển, mật độ gia súc chăn thả
cao và phương thức chăn thả rông đã gây ảnh hưởng
đến thảm thực vật rừng. Kết quả thống kê cho thấy,
tổng số đàn gia súc của hai huyện Sơn Dương và Yên
Sơn năm 2013 là 55.092 con, đến năm 2017 là 76.782
con, trong 5 năm đã tăng thêm 21.690 con [2]. Với quy
mô và số lượng gia súc tăng đã ảnh hưởng không nhỏ
đến thảm thực vật rừng.
Trong những năm gần đây, số lượng đàn gia súc
(trâu, bò, dê) của các hộ gia đình trong địa bàn Khu
di tích tăng nhanh đã góp phần nâng cao thu nhập và cải
thiện cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, nguồn thức
ăn tự nhiên không đáp ứng được nhu cầu do thiếu bãi
chăn thả. Vì vậy, người dân phải khai thác một số loài
cây mọc tự nhiên, nhất là trong các thảm thực vật rừng.
Các loài cây làm thức ăn cho gia súc trong Khu di tích
đã ghi nhận được 64 loài (chiếm 8,82%). Tuy nhiên,
các loài thường xuyên khai thác chủ yếu tập trung ở các
họ Hòa thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Rau dền
(Amaranthaceae) gồm: Cỏ lá tre (Centotheca
lappacea), Cỏ mần trầu (Eleusine indica), Cỏ mồm
timor (Ischaemum timorense), Cỏ lau (Saccharum
arundinaceum), Đậu dại (Dunbaria podocarpa), Dền
gai (Amaranthus spinosus); Từ thực trạng này chính
quyền địa phương cần có giải pháp quy hoạch các bãi
chăn thả để sử dụng lâu dài, đồng thời cần có kế hoạch
hướng dẫn người dân trồng thêm cây thức ăn gia súc
trong các vườn nhà, vườn rừng như Cỏ voi (Pennisetum
purpureum) để đảm bảo đủ nguồn thức ăn, tránh làm
suy giảm đa dạng loài thực vật. Các loài cụ thể được ghi
ở Bảng 9.
Bảng 9. Các loài cây thường làm thức ăn cho gia
súc tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
3.1.6. Hoạt động khai thác cây làm cảnh
Khu vực nghiên cứu ghi nhận được 99 loài (chiếm
9.20% tổng số loài thực vật). Bảng 9 là danh sách các
loài cây làm cảnh người dân thường khai thác. Một số
đại diện như: Đuôi chồn (Adiantum caudatum), Sơn tuế
(Cycas balansae), Si sanh (Ficus benjamina), Kim tán
(Calanthe angusta), Trúc vuông (Chimonobambusa
quadrangulais)
Bảng 10. Danh sách các loài cây khai thác làm
cảnh tại Khu di tích lịch sử Tân Trào
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
Trong những năm gần đây số lượng người chơi
cây cảnh nói chung và chơi hoa Lan ngày càng đông,
nhiều người săn tìm các loài lan quý hiếm như Tiên
hài (Paphiopedilum hirsutissimum), Hài tía (P.
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
26
purpuratum), chúng chỉ còn ở những địa hình hiểm
trở trên các núi đá hoặc các cây cao trong rừng sâu.
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy trước đây người dân
chỉ quan tâm đến các loài cây làm thuốc thì ngày nay
họ quan tâm hơn đến các loài cây làm cảnh, vì những
loài này mang lại lợi nhuận cao. Do đó, việc người
dân vào rừng tìm kiếm và khai thác các loài lan đã gây
ảnh hưởng rất lớn đến thảm thực vật rừng nói chung
và suy giảm các loài Lan nói riêng, một số loài có
nguy cơ cạn kiệt.
3.2. Ảnh hưởng của con người đến thành phần và
cấu trúc thảm thực vật
Do sự tác động trong thời gian dài trước đây của
con người đến thành phần loài, cấu trúc phân tầng của
rừng tự nhiên mà hiện nay ở khu di tích có nhiều kiểu
thảm thực vật khác nhau. Các kiểu thảm thực vật này có
sự khác nhau rõ rệt giữa rừng tự nhiên được bảo vệ và
rừng tái sinh bị khai thác kiệt.
3.2.1. Thành phần loài và cấu trúc của rừng tự
nhiên trong khu vực ít bị tác động
Đại diện đặc trưng là phân quần hệ Rừng kín lá rộng
thường xanh ở địa hình thấp và núi thấp bị tác động
nhẹ. Kiểu phụ rừng này gặp ở một số xã của khu di tích
như Tân Trào, Lương Thiện..., nơi xa khu dân cư, ở độ
cao từ 300-700m so với mực nước biển, phân bố chủ
yếu trên núi đất, một số ít ở núi đá vôi. Mặc dù đã bị
khai thác một số loài cây gỗ quý, nhưng cơ bản kiểu
rừng này vẫn giữ được tính chất nguyên sinh vốn đã
từng tồn tại ở khu vực trước đây. Cấu trúc của rừng có
5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ rõ rệt:
Tầng vượt tán (A1) có chiều cao trung bình 25 -
30m, đường kính trung bình 35-40cm, có tán không đều
và độ che phủ 20 - 25%. Tầng này gồm các loài như:
Hoàng linh bắc bộ (Peltophorum dasyrrhachis), Chò
nâu (Dipterocarpus retusus), Chò chỉ (Parashorea
chinensis), Đinh (Markhamia stipulata), Trám trắng
(Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum),
Táu muối (Vatica diospyroides), Mý (Lysidice
rhodostegia), Trai lý (Garcinia fragraeoides), Xoan
nhừ (Allospondias axilaris), các loài thuộc chi
Castanopsis, chi Lithocarpus của họ Dẻ (Fagaceae)...
Tầng tán rừng (A2) có rất nhiều loài tham gia tạo
thành một tầng tán khá liên tục, chiều cao trung bình 15
- 20m, đường kính đạt 20-30cm và độ che phủ 50 -
60%. Thành phần thực vật gồm các loài như: Gội
(Aglaia dasyclada), Dẻ gai (Castanopsis armata), Trám
trắng (Canarium album), Giổi lông (Michelia
balansae), Kháo vàng (Machilus bonii), Dẻ phú thọ
(Castanopsis phuthoensis), Chẹo tía (Engelhardtia
roburghiana)
Tầng dưới tán (A3) chủ yếu là các loài cây gỗ có
chiều cao 7 - 10m, đường kính đạt từ 15 - 20cm và độ
che phủ đạt 30%. Các đại diện của tầng này gồm: Cà ổi
(Castanopsis tesselata), Sấu (Dracontomelon
dupereanum), Chẹo tía (Engelhardtia roburghiana), Đu
đủ rừng (Trevesia palmata), Nhãn rừng (Nephelium
cuspidatum), Sảng (Sterculia lanceolata), Ràng ràng
(Ormosia balanse)
Tầng cây bụi (B) có thành phần thực vật chủ yếu là
các loài thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Mua
(Melastomataceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Na
(Anononaceae)...
Tầng thảm tươi (C) là các loài thuộc họ Hoà thảo
(Poaceae), họ Ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae),
họ Thông đất (Lycopodiaceae) Độ che phủ từ 20-
30%.
Thực vật ngoại tầng gồm các loài dây leo khá phong
phú như Gắm núi (Gnetum montanum), Hoa Giẻ
(Desmos chinensis), Dây hương (Erythropalum
scandens), Mây (Calamus tonkinensis)...Các loài thực
vật bì sinh tiêu biểu như Cốt toái bổ (Drynaria
fortunei), Tắc kè đá (Drynaria bonii), Quyết tổ diều
(Asplenium nidus), Đuôi phượng (Rhaphidophora
decursiva)...
3.2.2. Thành phần loài và cấu trúc của rừng tự
nhiên trong khu vực bị khai thác kiệt
Đại diện đặc trưng là phân quần hệ Rừng tre nứa
nhiệt đới ở địa hình thấp và núi thấp. Kết quả điều tra
cho thấy rừng tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình
thành từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa
hình thấp và núi thấp do khai thác quá mức hoặc chặt
đốt rừng làm nương rẫy. Trong loại rừng này tùy theo
mức độ tham gia của cây gỗ lá rộng mà hình thành nên
rừng thuần loài hay hỗn giao.
- Rừng thuần loài: Đặc trưng bởi loại hình rừng
Nứa (Neohouzeana dulloa) hình thành sau khai thác
kiệt hoặc đốt rừng làm nương rẫy, phân bố ở độ cao
dưới 400m. Kiểu này có diện tích khá lớn, tạo thành
tầng tán rừng với ưu thế là Nứa có chiều cao 6-8m,
đường kính trung bình 3 - 5cm, độ che phủ 80 - 90%.
Dưới tán rừng Nứa chỉ gặp một số ít loài thực vật như
Trung quân (Ancistrocladus scandens), Mây (Calamus
tonkinensis), Mía dò (Costus speciosus), Chặc chìu
(Tetracera scandens)..., gặp nhiều ở các xã Hùng Lợi,
Trung Minh, Kim Quan, Trung Yên, Tân Trào...
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
27
- Rừng hỗn giao với cây lá rộng: Trong loại rừng
này, ngoài tầng chính của rừng ưu thế bởi loài Nứa cao
6 - 8m, rừng có 1 tầng cây gỗ cao 15 - 20m, độ tàn che
0,2 - 0,3. Một số loài cây gỗ như Gội đỏ (Aglaia
dasyclada), Chẹo tía (Engelhardtia roburghiana), Kháo
(Machilus bonii), Kháo nhớt (Phoebe tavoyana), Ràng
ràng (Ormosia balansae), Mý (Lysidice rhodostegia),
Dẻ gai (Castanopsis indica), Côm (Elaeocarpus
angustifolius), Thôi ba (Alangium chinense), Nóng nâu
(Saurauja nepalensis)...; Tầng cây bụi và thảm tươi có
thành phần loài cây chịu bóng nhiều hơn so với rừng
Nứa thuần loài. Loại rừng hỗn giao có ở tất cả các xã
trong khu di tích.
Mặt khác, các hoạt động tích cực của con người như
khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh phục hồi tự nhiên, hay
trồng rừng, đã làm phong phú thêm thành phần loài
của hệ thực vật.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu tại Khu di tích lịch sử Tân
Trào, tỉnh Tuyên Quang đã cho thấy: Thành phần loài
và cấu trúc của rừng tự nhiên trong khu vực ít bị tác
động, cấu trúc của rừng có 5 tầng, trong đó có 3 tầng
cây gỗ rõ rệt: Tầng vượt tán (A1), tầng tán rừng (A2),
tầng dưới tán (A3); tầng cây bụi (B); tầng thảm tươi
(C). Rừng tre nứa đều có nguồn gốc phát sinh hình
thành từ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở
địa hình thấp và núi thấp: Rừng thuần loài gặp nhiều ở
các xã Hùng Lợi, Trung Minh, Kim Quan, Trung Yên,
Tân Trào; Rừng hỗn giao với cây lá rộng có ở tất cả
các xã trong khu di tích.
Qua điều tra cho thấy những hoạt động khai thác
quá mức nguồn tài nguyên rừng ở đây đã làm suy giảm
mạnh tính đa dạng của các nhóm loài thực vật rừng.
Những hoạt động khai thác quá mức của con người
không những làm suy giảm thành phần loài cây gỗ lớn
và các loài cây có giá trị làm thuốc, làm cảnh, làm thức
ăn gia súc, mà còn làm cho cấu trúc của rừng bị phá
vỡ, do đó làm giảm khả năng phòng hộ bảo vệ môi
trường của rừng cũng như chức năng tạo nên cảnh quan
cho Khu di tích. Các ban ngành chức năng cần sớm có
các biện pháp để duy trì, bảo vệ và phát triển rừng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Quản lý Khu di tích (2013), Hồ sơ quy
hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi, và phát huy
giá trị di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào tỉnh Tuyên
Quang gắn với phát triển du lịch đến năm 2025, tỉnh
Tuyên Quang.
2. Brummitt RK (1992), Vascular plant families and
genera, Royal Botanic Gardens, Kew.
3. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Quyết định số 2543/QĐ-TTg, ngày 20 tháng 12
năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi
và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân
Trào, tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch đến
năm 2025, Hà Nội, 2013.
4. Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang, Niên giám thống
kê tỉnh Tuyên Quang, năm 2016, 2017.
5. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên
cứu quần xã thực vật, Nxb Giáo dục, Hà Nội
6. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp
nghiên cứu thực vật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
7. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2003, 2005), Danh
lục các loài thực vật Việt Nam (tập 2, tập 3), Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
8. Phạm Hoàng Hộ (1999, 2003, 2000), Cây cỏ Việt
Nam (quyển I, II, III), Nxb Trẻ, Tp HCM.
9. Raunkiaer C., Plant life forms, Claredon, Oxford,
1934.
10. Trần Đình Lý (1993), 1900 loài cây có ích ở
Việt Nam, Nxb Thế giới.
11. Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), Lâm sản
ngoài gỗ ở Việt Nam, Nxb Bản đồ, Hà Nội.
12. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam
(tập 1, 2), Nxb. Y học, Hà Nội.
D.C.Ba/ No.15_Mar 2020|p.21-28
28
Studying about human influence of plant diversity at Tan Trao historical relic,
Tuyen Quang province
Do Cong Ba
Article info Abstract
Recieved:
10/01/2020
Accepted:
10/3/2020
Studying results at Tan Trao historical relic, Tuyen Quang province showed that
excessive exploitation of forest resources here reduced strongly the diversity for
plant species in forest. Group of medicinal plants has 470 species, in which 10
species are exploited with a high frequency including Morinda officinalis, Stephania
dielsiana, Multiflora Fallopia, Ardisia silvestris, Drynaria fortunei.; The group of
edible plants has 142 species that are also regularly collected and eradicated such as
Melientha suavis, Diplazium esculentum, Canarium tramdenum, Canarium album,
bamboo shoots such as Bambusa nutans, Neohouzeaua, Ampelocalamus; The group
of ornamental plants have 99 species including Barringtonia acutangula, Banyan,
Ficus benjamina and Chimonobambusa quadrangularis; The group of plants
extracted for oil which has 69 species, accounting for 9,5% of total number of
species surveyed in the studying area. Some common species are Desmos
pedunculosus, Xanthiuminae quilaterum, Litsea cubeba, Sapindus saponaria, etc.
Due to long-term impact caused by human on species, the stratified structure of
natural forest, there are many different types of vegetation in the relic which differ
significantly between protected natural forests and exhaustedly-exploited
regenerated forests.
Keywords:
Relics; exploitation;
Diversity; Tan Trao;
Tuyen Quang province.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_anh_huong_cua_con_nguoi_den_tinh_da_dang_thuc_vat.pdf