Hệ số nhân giống:
Hệ số nhân giống của cây Thạch đen ở các đoạn hom giống trong thí nghiệm dao động từ 30,67
đến 44,00 lần. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, hệ số nhân giống của hom đoạn gốc đạt 30,67 lần
tương đương với hệ số nhân giống của hom đoạn ngọn đạt 35,33 lần ở mức độ tin cậy 95% và
cao nhất là hệ số nhân giống của hom đoạn thân đạt 44 lần.
Các phương pháp nhân giống ở các đoạn hom
khác nhau trên cây Thạch đen tham gia thí
nghiệm thì có lãi thuần thu được cũng khác
nhau, dao động từ 39,35 - 91,35 triệu
đồng/ha. Trong đó, năng suất thu được từ
phương pháp nhân giống bằng đoạn thân đem
lại lãi thuần cao nhất đạt 91,35 triệu đồng/ha
và thấp nhất là phương pháp nhân giống bằng
đoạn gốc đạt 39,35 triệu đồng/ha.
4. Kết luận
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp
nhân giống vô tính đến khả năng sinh trưởng,
phát triển cây Thạch đen tại huyện Na Rì tỉnh
Bắc Kạn vụ xuân năm 2019 đã xác định được
kỹ thuật nhân giống vô tính bằng đoạn hom ở
thân cho tỷ lệ sống sau trồng 30 ngày đạt
97,33%, số cành đạt 6,0 cành, chiều dài thân
đạt 37,7cm, hệ số nhân giống đạt 44,0 lần là
tốt nhất và đây cũng là công thức có năng suất
cao nhất đạt 66,0 tấn/ha.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phương pháp nhân giống vô tính đến khả năng sinh trưởng, phát triển cây thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(08): 330 - 335
330 Email: jst@tnu.edu.vn
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG
VÔ TÍNH ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CÂY THẠCH ĐEN
TẠI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Nguyễn Văn Thuần1*, Nguyễn Viết Hưng1,
Nguyễn Thế Hùng1, Nguyễn Thị Trang2, Nguyễn Thùy Giang1
1Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên
2Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Cây Thạch đen là một cây có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên việc đầu tư nghiên cứu về các biện pháp
kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế, đặc biệt là kỹ thuật nhân giống. Do vậy, nhóm tác giả thực
hiện việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số phương pháp nhân giống vô tính đến khả năng sinh
trưởng, phát triển cây Thạch đen tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2019. Thí nghiệm gồm 3
công thức (phương pháp nhân giống bằng hom đoạn gốc, đoạn thân và đoạn ngọn) với 3 lần nhắc
lại. Kết quả cho thấy, kỹ thuật nhân giống bằng đoạn hom ở đoạn thân là tốt nhất: tỷ lệ sống sau
trồng 30 ngày đạt 97,33%, số cành đạt 6,0 cành, chiều dài cây đạt 37,7cm, đặc biệt khi nhân giống
bằng hom đoạn thân có hệ số nhân giống đạt 44,0 lần. Do vậy, đây cũng là công thức cho năng
suất cao nhất đạt 66,0 tấn/ha.
Từ khóa: Phương pháp nhân giống; chất lượng; khả năng sinh trưởng; năng suất; thạch đen.
Ngày nhận bài: 17/6/2020; Ngày hoàn thiện: 10/7/2020; Ngày đăng: 28/7/2020
STUDY ON SOME OF UNSEXUAL PROPAGATION METHODS
TO THE POSSIBILITY OF GROWTH AND DEVELOPMENT
OF MESONA CHINENSIS BENTH IN NA RI DISTRICT, BAC KAN PROVINCE
Nguyen Van Thuan1*, Nguyen Viet Hung1,
Nguyen The Hung1, Nguyen Thi Trang2, Nguyen Thuy Giang1
1TNU - University of Agriculture and Forestry
2TNU - University of Agriculture and Forestry – Institute of Forestry Research and Development
ABSTRACT
Mesona chinensis benth is a tree of high economic value; however, the investment in research on
technical measures in production is limited, especially breeding techniques. Therefore, authors
conducted the study of the influence of a number of unsexual propagation methods on the ability
to grow and develop Mesona Chinensis Benth in Na Ri district, Bac Kan province in 2019. The
experiment consists of 3 formulas ( method of propagation by root cuttings, stem segments and
tops) with 3 repetitions. It shows that the technique of propagating by cuttings in the stem section
has highest results: 30 days after planting, 97.33%, the number of branches reached 6.0 branches,
the length of the tree reached 37.7cm, especially when propagated by stem cuttings with
propagation coefficient reached 44.0 times. So this is also the formula for the highest yield of 66.0
tons/ha.
Keywords: Unsexual propagation method; quality; ability of growth; productivity; Mesona
chinensis benth.
Received: 17/6/2020; Revised: 10/7/2020; Published: 28/7/2020
* Corresponding author. Email: nguyenvanthuanhssv@tuaf.edu.vn
Nguyễn Văn Thuần và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 330 - 335
Email: jst@tnu.edu.vn 331
1. Đặt vấn đề
Thạch đen hay còn gọi là Xương sáo có tên
khoa học Mesona chinensis Benth. Là cây
thân thảo có chiều dài từ 40 - 60 cm, bò lan
trên mặt đất, là cây ưa sáng và ưa ẩm nhưng
không chịu được úng. Thạch đen còn được
coi là một tân dược với hàm lượng
polyphenol, tanin, pectin chiếm trên 50%.
Đây là những chất làm tăng đáng kể tính giãn
nở của mạch máu, chống oxy hóa, giảm
cholesterol trong máu [1].
Thạch đen có nguồn gốc từ miền Nam Trung
Quốc nhưng được nhập vào Việt Nam từ rất
lâu đời [2]. Thạch đen được trồng nhiều ở
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và được coi là cây
xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc
ở vùng này [3]. Trung bình năng suất cây
Thạch đen sẽ cho thu hoạch hơn 4,0 tấn thạch
khô/ha với giá bán dao động từ 25.000 -
30.000 đồng/1 kg như hiện nay thì người dân
thu được từ 100 đến 120 triệu đồng/ha, nếu
trồng thâm canh năng suất có thể đạt từ 10 -
15 tấn/ha hiệu quả kinh tế thu được từ 250 -
300 triệu đồng/ha.
Tác giả Zhao người Trung Quốc có một
nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp nhân
giống cây Thạch đen tại Trung Quốc năm
2011 [4], tác giả Wei cũng có bước đầu
nghiên cứu về biện pháp canh tác cũng như tổ
hợp phân bón ảnh hưởng đến trồng Thạch đen
năm 2012 [5]. Việc nghiên cứu về cây thạch
đen trong nước còn rất hạn chế. Một số bài
báo nghiên cứu về cách trồng cây thạch đen
bằng các đoạn thân khác nhau, thời vụ trồng
thạch đen [6], [7]. Nhưng chưa có các nghiên
cứu chuyên sâu về các biện pháp kỹ thuật
như: phương pháp nhân giống, mật độ trồng
và tổ hợp phân bón với cây thạch đen. Để
phát triển được cây thạch đen có hiệu quả,
bền vững đồng thời mang lại giá trị kinh tế
cao cho sản xuất, nhóm nghiên cứu thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
phương pháp nhân giống vô tính đến khả
năng sinh trưởng, phát triển cây Thạch đen
tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” từ tháng
3/2019 đến tháng 10/2019.
2. Vật liệu, nội dung và phương pháp
nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Cây thạch đen tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì,
tỉnh Bắc Kạn phục vụ cho việc nghiên cứu.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phương
pháp nhân giống vô tính đến khả năng sinh
trưởng và phát triển cây Thạch đen tại huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn vụ Xuân 2019.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 3 công thức (phương pháp
nhân giống bằng hom đoạn gốc, đoạn thân và
đoạn ngọn) với 3 lần nhắc lại, bố trí theo kiểu
khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh. Diện tích ô thí
nghiệm 15 m2 (3 x 5 m), tổng diện tích 135
m2, không tính dải bảo vệ.
Công thức 1: Hom đoạn gốc
Công thức 2: Hom đoạn thân
Công thức 3: Hom đoạn ngọn
Thời vụ trồng: Ngày 01 tháng 3 năm 2019,
thu hoạch tháng 7 năm 2019.
Mật độ trồng: 100.000 cây/ha (hàng cách
hàng 50 cm, cây cách cây 20 cm).
Phân bón:
+ Lượng phân bón cho 1 ha: 2 tấn phân hữu
cơ vi sinh + 35 kg N + 32 kg P2O5 + 60 kg
K2O (lượng phân bón được xây dựng dựa trên
quy trình tạm thời về kỹ thuật canh tác cây
Thạch đen của Sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn tỉnh Bắc Kạn).
+ Kỹ thuật bón phân:
Bón lót: Toàn bộ 2 tấn phân hữu cơ vi sinh và
phân lân.
Bón thúc lần 1: sau trồng 30 ngày, khi cây
Thạch đen bén rễ, hồi xanh và bắt đầu phân
cành; kết hợp xới xáo và làm cỏ cho cây
Thạch đen.
Lượng phân bón: 1/2 đạm urê + 1/2
kaliclorua. Toàn bộ số phân này được bón vào
rãnh giữa 2 hàng Thạch đen. Thường phân
được bón sau mưa để giảm công tưới nước.
2.3.2. Chỉ tiêu theo dõi và tính toán kết quả
*Theo dõi sự sinh trưởng của cây Thạch đen
+ Tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng chiều dài cây
(cm/ngày), tốc độ ra lá (lá/ngày).
Nguyễn Văn Thuần và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 330 - 335
Email: jst@tnu.edu.vn 332
Tỷ lệ sống (%) =
Số hom mọc mầm
x 100
Tổng số hom trồng
+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài cây (cm/ngày): Cố định bằng cọc 5 cây ngẫu nhiên theo đường chéo
góc/ô thí nghiệm, 10 ngày đo chiều dài cây 1 lần, lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng.
+ Tốc độ ra lá (lá/ngày): Tiến hành trên 5 cây đã đo chiều cao, 10 ngày đếm số lá mới ra 1 lần, dùng
phương pháp đánh dấu lá để biết số lá mới ra, lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng.
* Hệ số nhân giống
Là bội số nhân lên của các đoạn thân thạch đen, có nghĩa là từ một cá thể (hom đoạn thân, gốc
hoặc ngọn) có thể sinh ra bao nhiêu cá thể.
Hệ số nhân giống (lần) =
Năng suất thân lá
Khối lượng giống đem trồng
* Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Kết quả thí nghiệm được tổng hợp bằng phần mềm Excel và phần mềm thống kê SAS.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến tỷ lệ sống của các loại hom giống
Bảng 1. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến tỷ lệ sống của các loại hom giống khác nhau tham
gia thí nghiệm
Thời gian theo dõi sau trồng (ngày)
Tỷ lệ sống của các loại hom giống (%)
Hom đoạn gốc Hom đoạn thân Hom đoạn ngọn
5 97,11 100,00 100,00
10 96,67 98,89 97,78
15 95,33 98,00 97,11
20 94,89 97,56 97,11
25 93,78 97,33 96,00
30 93,33 97,33 96,00
Bảng 2. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến tốc độ tăng trưởng chiều dài cây của các loại hom giống
(Đơn vị tính: cm/ngày)
Vị trí cắt hom
Tháng sau trồng
1 tháng 2 tháng 3 tháng 4 tháng (thu hoạch)
Hom đoạn gốc 0,21 0,30 0,18 0,15
Hom đoạn thân 0,32 0,36 0,25 0,21
Hom đoạn ngọn 0,29 0,35 0,27 0,16
Trong công tác nhân giống cây trồng nói
chung và nhân giống thạch đen nói riêng đều
được tiến hành trên đồng ruộng ở trong một
điều kiện nhất định bằng cách đo đếm các tốc
độ sinh trưởng. Qua số liệu bảng 1 cho thấy,
kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại
hom giống (hom giống đoạn gốc, thân và
ngọn) khác nhau ở các thời điểm khác nhau
thì cho tỷ lệ sống khác nhau. Điển hình như:
Tỷ lệ sống của các loại hom giống sau 10
ngày theo dõi đạt từ 96,67 - 98,89%. Trong
đó, hom giống đoạn thân có tỷ lệ sống cao
nhất đạt 98,89%. Hom giống đoạn gốc có tỷ
lệ sống thấp nhất chỉ đạt 96,67%. Tỷ lệ sống
của các loại hom giảm dần cho đến 30 ngày,
trong đó tỷ lệ sống của hom đoạn thân cao nhất,
sau đó là hom đoạn ngọn và đoạn gốc. Từ kết
quả trên, ta có thể thấy trong cùng một điều kiện
tự nhiên, mật độ trồng và chế độ dinh dưỡng,
chăm sóc như nhau nhưng tỷ lệ sống của các
loại hom giống trồng là khác nhau.
3.2. Ảnh hưởng của phương pháp nhân
giống đến tốc độ tăng trưởng chiều dài cây
của các loại hom giống
Tốc độ tăng trưởng chiều dài cây của phương
pháp nhân giống được trình bày qua số liệu
bảng 2 cho thấy, phương pháp nhân giống
bằng hom đoạn thân qua các giai đoạn sinh
trưởng đạt cao nhất ở giai đoạn 2 tháng sau
trồng, sau đó tốc độ tăng trưởng chiều dài cây
giảm dần. Đồng thời giống được nhân ở đoạn
thân có tốc độ tăng trưởng chiều dài cây
nhanh nhất.
Nguyễn Văn Thuần và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 330 - 335
Email: jst@tnu.edu.vn 333
3.3. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến tốc độ ra lá của các loại hom giống
Bảng 3. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến tốc độ ra lá của các loại hom giống tham gia thí nghiệm
(Đơn vị tính: lá/ngày)
Vị trí cắt hom
Tháng sau trồng
1 tháng 2 tháng 3 tháng 4 tháng (thu hoạch)
Hom đoạn gốc 0,28 0,29 0,40 0,15
Hom đoạn thân 0,40 0,31 0,32 0,14
Hom đoạn ngọn 0,34 0,33 0,30 0,15
Bảng 4. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến chiều dài cây, tổng số lá trên thân chính và số cành
cây Thạch đen
Vị trí cắt hom Chiều dài cây cuối cùng (cm) Số cành (cành) Tổng số lá/thân chính (lá)
Hom đoạn gốc 27,3b 3,9c 38,9b
Hom đoạn thân 37,7a 6,0a 42,7a
Hom đoạn ngọn 34,9a 4,8b 40,9ab
P < 0,05 < 0,05 0,05
CV (%) 4,84 6,396 3,01
LSD05 3,66 0,71 2,79
Qua số liệu bảng 3 cho thấy: Tốc độ ra lá của
cây Thạch đen trồng bằng các đoạn hom
giống tăng nhanh dao động từ 0,28 - 0,40
lá/ngày ở giai đoạn 1 tháng sau trồng. Trong
đó phương pháp nhân giống bằng hom đoạn
thân có tốc độ ra lá nhanh nhất đạt 0,40
lá/ngày. Hom đoạn ngọn đạt giá trị cao nhất
tại tháng đầu tiên (0,34 lá/ngày) sau đó giảm
dần qua các tháng, hom được nhân giống từ
đoạn gốc của cây đạt tốc độ cao nhất tại
tháng thứ 3 là 0,40 lá/ngày.
3.4. Ảnh hưởng của phương pháp nhân
giống đến đặc điểm hình thái cây Thạch đen
Đối với cây Thạch đen thường sau trồng 4
tháng, khi cây Thạch đen vươn dài thân, bắt
đầu xuất hiện nụ hoa là thời điểm thu hoạch
thạch có chất lượng tốt nhất. Các chỉ tiêu
như chiều dài cây, số lá/thân chính, khả năng
phân cành của cây đều liên quan đến năng
suất. Kết quả theo dõi một số đặc điểm hình
thái của cây Thạch đen trồng tại các công
thức thí nghiệm thời kỳ thu hoạch được trình
bày ở bảng 4.
- Chiều dài cây cuối cùng:
Chiều dài cây cuối cùng của cây Thạch đen
tại các công thức tham gia thí nghiệm dao
động từ 27,3 - 37,7 cm. Kết quả xử lý thống
kê cho thấy, nhân giống bằng hom đoạn ngọn
và đoạn thân có chiều dài cây cuối cùng là
tương đương nhau (34,9 - 37,7 cm) song đều
cao hơn so với phương pháp nhân giống hom
đoạn gốc, chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%.
- Số cành:
Số cành của cây Thạch đen tại các công thức
tham gia thí nghiệm dao động từ 3,9 - 6,0
cành. Trong đó, kết quả xử lý thống kê cho
thấy đoạn nhân giống bằng hom đoạn thân
có số cành cao nhất, cao hơn nhân bằng đoạn
ngọn và gốc ở mức độ tin cậy 95%. Nhân
giống bằng đoạn ngọn có khả năng phân
cành cao hơn khả năng phân cành ở hom
đoạn gốc chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%.
- Tổng số lá trên thân chính:
Số lá của cây Thạch đen tại các công thức
tham gia thí nghiệm dao động từ 38,9 - 42,7
lá. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, nhân
giống bằng hom đoạn thân có khả năng ra lá
cao hơn phương pháp nhân giống bằng hom
đoạn gốc ở mức độ tin cậy 95%.
3.5. Ảnh hưởng của phương pháp nhân
giống đến năng suất thân lá và hệ số nhân
giống các loại hom giống
* Năng suất thân lá:
Kết quả nghiên cứu về năng suất thân lá của
các công thức thí nghiệm được thể hiện ở
bảng 5 ta thấy, năng suất thân lá của các công
thức tham gia nghiên cứu trên các phương
Nguyễn Văn Thuần và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 330 - 335
Email: jst@tnu.edu.vn 334
pháp nhân giống bằng hom khác nhau thì khác nhau: Năng suất đạt được dao động từ 46,00 -
66,00 tấn/ha. Trong đó điển hình là phương pháp nhân giống bằng đoạn thân có năng suất thân lá
cao nhất đạt 66 tấn/ha, cao hơn chắc chắn so với năng suất thân lá của phương pháp nhân giống
bằng đoạn gốc và năng suất thân lá của đoạn ngọn ở mức tin cậy 95%.
* Hệ số nhân giống:
Hệ số nhân giống của cây Thạch đen ở các đoạn hom giống trong thí nghiệm dao động từ 30,67
đến 44,00 lần. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, hệ số nhân giống của hom đoạn gốc đạt 30,67 lần
tương đương với hệ số nhân giống của hom đoạn ngọn đạt 35,33 lần ở mức độ tin cậy 95% và
cao nhất là hệ số nhân giống của hom đoạn thân đạt 44 lần.
Bảng 5. Ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến năng suất thân lá và hệ số nhân giống của các loại
hom giống tham gia thí nghiệm
Vị trí cắt hom
NSTL
(tấn/ha)
Hệ số nhân giống
(lần)
Hom đoạn gốc 46,00b 30,67b
Hom đoạn thân 66,00a 44,00a
Hom đoạn ngọn 53,00b 35,33b
P < 0,05 < 0,05
CV (%) 8,03 8,05
LSD05 10,01 6,69
3.6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của các phương pháp nhân giống
Bảng 6. Hạch toán hiệu quả kinh tế của cây Thạch đen đem trồng từ các phương pháp nhân giống tham
gia thí nghiệm
Vị trí cắt hom
Năng suất
thân lá (tấn/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha)
Tổng chi
(triệu đồng/ha)
Lãi thuần
(triệu đồng/ha)
Hom đoạn gốc 46,00 119,60 80,25 39,35
Hom đoạn thân 66,00 171,60 80,25 91,35
Hom đoạn ngọn 53,00 137,80 80,25 57,55
Các phương pháp nhân giống ở các đoạn hom
khác nhau trên cây Thạch đen tham gia thí
nghiệm thì có lãi thuần thu được cũng khác
nhau, dao động từ 39,35 - 91,35 triệu
đồng/ha. Trong đó, năng suất thu được từ
phương pháp nhân giống bằng đoạn thân đem
lại lãi thuần cao nhất đạt 91,35 triệu đồng/ha
và thấp nhất là phương pháp nhân giống bằng
đoạn gốc đạt 39,35 triệu đồng/ha.
4. Kết luận
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp
nhân giống vô tính đến khả năng sinh trưởng,
phát triển cây Thạch đen tại huyện Na Rì tỉnh
Bắc Kạn vụ xuân năm 2019 đã xác định được
kỹ thuật nhân giống vô tính bằng đoạn hom ở
thân cho tỷ lệ sống sau trồng 30 ngày đạt
97,33%, số cành đạt 6,0 cành, chiều dài thân
đạt 37,7cm, hệ số nhân giống đạt 44,0 lần là
tốt nhất và đây cũng là công thức có năng suất
cao nhất đạt 66,0 tấn/ha.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. Cao Bang Radio & TV station, “Bring good
Mesona chinensis benth product in Cao Bang
to custumers”, 17/07/2016. [Online].
Available:
n3849/thach-an-dua-thach-den-cao-bang-an-
toan-den-nguoi-tieu-dung.html. [Accessed
January 5th, 2019].
[2]. D. Quy, “Mesona chinensis benth in Na Ri”,
21/03/2013. [Online]. Available:
/cay-thach-den-o-na-ri-2270161/. [Accessed
January 5th, 2019].
[3]. S. Tran, “Mesona chinensis benth in Vu
Loan”, 19/03/2015. [Online]. Available:
01503/cay-thach-den-o-vu-loan-2376117/.
[Accessed January 5th, 2019].
[4]. Z. G. Zhao, Y. P. Shi, N. Z. Huang, C. M. Fu,
F. L. Tang, and Q. Y. Jiang, “The research
advances on Mesona chinensis Benth in
China”, Journal of Southern Agriculture, vol.
42, no. 6, pp. 657-660, 2011.
Nguyễn Văn Thuần và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 330 - 335
Email: jst@tnu.edu.vn 335
[5]. Y. L. Wei, “Preliminary report on different
cultivation measures for planting Mesona
chinensis Benth,” Fujian Agricultural Science
and Technology, vol. 12, pp. 126-133, 2012.
[6]. V. T. Bui, T. A. Ha, K. B, Ninh, and V. P.
Hua, “Study on planting Mesona chinensis
benth by cuttings in the different stem
section,” Collection of the 3rd Conference on
Ecology and Biological Resources, October
22nd, 2009, Institute of Ecology and
Biological Resources, Vietnam Academy of
Science and Technology.
[7]. D. N. A. Luu, A. T. Truong, V. T. Bui, T. A.
Ha, T. H. T. Nguyen, and D. C. Luu,
“Research on the content of solutes in Mesona
chinensis benth in Lang Son,” Collection of
the 3rd Conference on Ecology and Biological
Resources, October 22nd, 2009, Institute of
Ecology and Biological Resources, Vietnam
Academy of Science and Technology.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_anh_huong_cua_mot_so_phuong_phap_nhan_giong_vo_ti.pdf