Theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy: Cercaria thoát ra khỏi ốc, bơi lội tự do trong môi trường nước. Lúc đầu ấu trùng hoạt động mạnh, sau đó yếu dần và ngừng hoạt động (chết). Thời gian hoạt động ở môi trường nước khoảng 12 đến 48 giờ. Khi bị chết, chúng chìm xuống đáy và dần dần bị phân hủy (mầm bệnh không tạo thành dạng nang kén để tồn tại). Điều này cho thấy sau khi mầm bệnh phát triển trên ốc, cần tiếp tục phát triển trên một vật chủ trung gian nữa để đến giai đoạn ấu trùng gây nhiễm. Như vậy, kết quả trình bày trên đây cho thấy ốc B. siamensis là vật chủ trung gian thứ nhất của sán lá sinh sản ở vịt. Ốc B. siamensis khuếch đại mầm bệnh. Trong cơ thể ốc này, trứng chứa ấu trùng sán lá sinh sản phát triển từ dạng miracidium thành sporocyst, redia và cuối cùng là cercaria chui ra khỏi ốc. Quá trình phát triển của ấu trùng sán lá sinh sản gây bệnh ở vịt trên đây giống như ấu trùng sán lá gan nhỏ gây bệnh ở người và động vật, trong đó vật chủ trung gian thứ nhất của sán lá gan nhỏ là ốc nước ngọt, gồm các loài ốc: Bithynia striatulus, B. fuchsiana, B. siamensis, B. longicornis, Parafossarulus striatulus (Kaewkes S, 2003; Petney T và cs, 2012; Suwannatrai K và cs, 2016; Nakamura S, 2017), B. goniomphalos và B. funiculata (Dao H. T. T và cs, 2017). Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xét nghiệm ấu trùng trong 12 loài ốc đã xét nghiệm (bảng 3.2) và xác định chỉ có ốc B. siamensis mang ấu trùng sán lá sinh sản trên vịt. Hiện chúng tôi chưa thu thập được và chưa xác định nếu các loài Bithynia spp. khác cũng có thể nhiễm mầm bệnh.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu các giai đoạn phát triển của ấu trùng sán lá ký sinh ở vịt ở ngoài môi trường và trong vật chủ trung gian (ốc nước ngọt), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
74
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
NGHIEÂN CÖÙU CAÙC GIAI ÑOAÏN PHAÙT TRIEÅN CUÛA AÁU TRUØNG SAÙN LAÙ
KYÙ SINH ÔÛ VÒT ÔÛ NGOAØI MOÂI TRÖÔØNG
VAØ TRONG VAÄT CHUÛ TRUNG GIAN (OÁC NÖÔÙC NGOÏT)
Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Đức Tân,
Nguyễn Văn Thoại, Lê Hứa Ngọc Lực
Bộ môn nghiên cứu Ký Sinh Trùng, Phân viện Thú y miền Trung
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các giai đoạn phát triển của ấu trùng sán lá cho thấy trong môi
trường nước ngọt tự nhiên, trứng sán lá Prosthogonimus spp. phát triển thành ấu trùng miracidium
sau 10-16 ngày. Trong 12 loài ốc nước ngọt được gây nhiễm, chỉ phát hiện ốc Bithynia siamensis
là vật chủ trung gian thứ nhất của ấu trùng sán lá Prosthogonimus spp. Sau khi ốc B. siamensis ăn
phải trứng sán, miracidium thoát ra khỏi vỏ trứng, phát triển qua các giai đoạn sporocyst, redia và
cuối cùng là cercaria. Sporocyst có dạng hình trứng hoặc hình oval, sporocyst non chứa nhiều tế bào
mầm. Các tế bào này tiếp tục phân chia, phát triển và dần dần hình thành nên các vách ngăn, tạo nên
những hình túi độc lập (redia I). Redia I có dạng hình cành cây, chứa nhiều tế bào mầm. Redia II có
hình bầu dục, chứa nhiều cercaria. Cercaria thoát ra từ redia, sống trong ốc, sau đó di chuyển ra môi
trường, bơi lội tự do trong nước sau 25 ngày từ khi ốc nhiễm mầm bệnh. Cercaria chứa nhiều hạt sắc
tố màu xám, có giác miệng, giác bụng, ống tiêu hóa, chiều dài cơ thể từ 100-120 µm, chiều rộng từ
60-70 µm.
Từ khóa: trứng, ấu trùng, ốc nước ngọt, sán lá sinh sản, vật chủ trung gian.
Research on developing stages of oviduct fluke larvae in duck in the
environment and intermediate host (freshwater snail)
Huynh Vu Vy, Nguyen Duc Tan,
Nguyen Van Thoai, Le Hua Ngoc Luc
SUMMARY
The result of experimental study on the developing stages of the oviduct fluke larvae in duck in
the environment showed that in freshwater environment, eggs of Prosthogonimus spp. developed
into miracidium larvae after 10-16 days. Out of 12 freshwater snail species used for experimental
infection with fluke larvae, only the Bithynia siamensis was found to be the first intermediate
host. The oviduct fluke eggs were swallowed by B. siamensis then miracidium was released
out of egg and developed through several stages, such as: sporocyst, redia and cercaria. The
sprorocyst looked like egg or oval shape, the young sporocyst contained many germ cells. These
cells continued to divide, develop and form partitions, creating separate pockets (redia I). Redia
I looked like a tree branch and contained a lot of germ cells. The redia II looked like oval shape
and contained many cercaria. Cercaria was released from redia II, lived in the snail, then moved
out of the snail, swimmed freely in the freshwater environment. The cercaria contained a large
number of the gray pigmentes, appeared oral sucker, ventral sucker and digestive tract. The body
length of cercaria was 100-120 μm and the body width was 60-70 μm.
Keywords: egg, larvae, freshwater snail, oviduct fluke, intermediate host.
75
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sán lá sinh sản trên vịt do loài
Prosthogonimus spp. gây ra. Bệnh xuất hiện phổ
biến ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và
Châu Á (Macy, 1965; Saif, 2008; Naem, 2003;
Taylor 2007). Vòng đời của Prosthogonimus
spp. phải qua 2 vật chủ trung gian: Vật chủ trung
gian thứ nhất là ốc nước ngọt, vật chủ trung gian
thứ 2 là ấu trùng chuồn chuồn và chuồn chuồn.
Gia cầm nhiễm bệnh do ăn phải ấu trùng chuồn
chuồn hoặc chuồn chuồn chứa nang kén sán
(McDonald, 1969). Sán trưởng thành ký sinh ở
túi Fabricius, ống dẫn trứng và lỗ huyệt. Sán ký
sinh gây viêm ống dẫn trứng, viêm lỗ huyệt và
viêm phúc mạc (Soulsby, 1982; Arundel và cs,
1980). Trong túi Fabricius, sán làm viêm, thoái
hóa tế bào biểu mô và thâm nhiễm tế bào kẽ, bao
gồm lymphocytes, tương bào, bạch cầu a xít và
đại thực bào (Arundel và cs, 1980).
Ở nước ta, Houdemer lần đầu phát hiện loài
sán này gây bệnh trên vịt tại một số tỉnh phía Bắc.
Đến nay, bệnh phân bố khắp các vùng miền: Từ
miền núi đến trung du và đồng bằng, nhất là những
nơi có nhiều ao, hồ, đầm, phá, ruộng nước,... Cho
đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự
phát triển của mầm bệnh ở vật chủ trung gian (ốc
nước ngọt) trong điều kiện sinh thái ở Việt Nam.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề
này nhằm làm rõ hơn mối quan hệ sinh thái giữa
ký sinh trùng (Prosthogonimus spp.) và vật chủ.
II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên vật liệu nghiên cứu
Ốc nước ngọt, sán lá sinh sản ký sinh trên vịt và
một số dụng cụ, hóa chất cần thiết để nghiên cứu ký
sinh trùng.
Bể nuôi ốc với kích thước dài 1,5 m, rộng 70
cm, sâu 60 cm. Đáy bể có phủ lớp bùn dày khoảng
15-20 cm, mực nước trong bể duy trì từ 30-35 cm.
Trong bể có bèo, rong rêu, cây cỏ thủy sinh đảm bảo
các điều kiện giống như trong tự nhiên (không cần
bổ sung thức ăn).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thu trứng sán trong túi Fabricius hoặc thu thập
sán từ vịt nhiễm bệnh trong tự nhiên, đưa sán trong
nước sinh lý, sán thường sống được khoảng 3-4 giờ
sau khi tách khỏi cơ thể vịt và tiếp tục thải trứng.
Sau đó ly tâm, thu trứng cho vào môi trường nước
ngọt tự nhiên, để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm (22-
23oC) và theo dõi quá trình phát triển của trứng dưới
kính hiển vi (độ phóng đại 100 đến 400 lần). Đếm
toàn bộ số trứng có ấu trùng và trứng không có ấu
trùng ở trong đĩa petri.
Gây nhiễm ốc: Các loại ốc nước ngọt được thu
thập trong môi trường tự nhiên tại huyện An Lão,
Vân Canh, Phù Cát, An Nhơn, Phù Mỹ, Tuy Phước
(tỉnh Bình Định); huyện Đông Hòa, Phú Hòa, Tuy
An, Sông Hinh, Sông Cầu (tỉnh Phú Yên); huyện
Vạn Ninh, Ninh Hòa, Cam Ranh, Khánh Vĩnh,
Khánh Sơn (tỉnh Khánh Hòa). Sau khi thu thập,
tiến hành phân loại dựa theo tài liệu của Đặng Ngọc
Thanh và cs (1980) và tài liệu khóa phân loại ốc của
Burch (1982).
Sau khi định loại, ốc được nuôi trong điều kiện
phòng thí nghiệm để chúng đẻ ra thế hệ sau dùng
gây nhiễm (một số ốc nuôi khó sinh sản thì nuôi
khoảng 2-3 tháng để chúng thải hết mầm bệnh nếu
bị nhiễm trong tự nhiên). Trước khi gây nhiễm,
chúng được xét nghiệm ngẫu nhiên để đảm bảo
không nhiễm mầm bệnh sán lá sinh sản.
Tiến hành gây nhiễm: Cho ốc vào cốc thủy
tinh có chứa khoảng 1000 ml nước muối sinh
lý, sau đó cho trứng sán đã hình thành ấu trùng
miracidium vào cốc thủy tinh (Mỗi cốc có 100
ốc, gây nhiễm khoảng 1000-1200 trứng sán). Sau
gây nhiễm, đưa cốc thủy tinh vào chỗ bóng tối
(khoảng 8-12 giờ), tạo điều kiện ốc ăn hết trứng.
Sau đó thả ốc xuống bể thí nghiệm, định kỳ 2
ngày/lần xét nghiệm ốc, theo dõi quá trình phát
triển của mầm bệnh. Mỗi thí nghiệm bố trí 3 lô và
1 lô đối chứng (lặp lại 3 lần).
Phương pháp xét nghiệm ốc: Xét nghiệm được
tiến hành từng cá thể ốc, ép giữa 2 tấm kính và kiểm
tra dưới kính hiển vi để tìm ấu trùng sán lá sinh sản.
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
2010.
76
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Quá trình phát triển của trứng sán lá sinh
sản của vịt ở môi trường nước ngọt
Trứng sán lá sinh sản thu thập từ vịt
nhiễm bệnh trong tự nhiên, cho vào môi
trường nước ngọt tự nhiên, theo dõi quá trình
phát triển của mầm bệnh ở nhiệt độ phòng thí
nghiệm (22-230C). Kết quả thể hiện ở bảng
1 và hình 1.
Bảng 1. Quá trình phát triển của trứng ở môi trường nước ngọt tự nhiên
Thời gian
(ngày) Những thay đổi của trứng
Tỷ lệ trứng thay đổi
(%, n=16915 trứng)
1-2 Tế bào phôi phủ kín trứng. 100,00
3-9 Tế bào phôi phân chia thành nhiều tế bào, sau đó tạo thành 1 khối thống nhất. 89,18
10-16 Các tế bào phôi thành một khối thống nhất. Ấu trùng hình thành nằm trong vỏ trứng. 72,94
Hình 1. Các giai đoạn trứng sán lá sinh sản ở môi trường nước ngọt tự nhiên (100X)
Trứng sán mới đẻ tế bào phôi phủ kín (a); Trứng 3-9 ngày: phôi bào phân chia thành nhiều tế bào
(b), sau đó hình thành 1 khối thống nhất (c); Trứng 10-16 ngày, ấu trùng miracidium nằm trong vỏ
(d); trứng bị chết ấu trùng (e)
Kết quả ở bảng 1 và hình 1 cho thấy, trứng
sán mới đẻ có hình bầu dục, 2 lớp vỏ, đầu nhỏ
có nắp, tế bào phôi phủ kín trứng, chiều dài 24-
33 μm, chiều rộng 12-16 µm. Sau ngày thứ 3, tế
bào phôi phân chia thành nhiều tế bào, sau đó
xuất hiện dạng phôi dâu, phôi nang (một khối
tế bào đặc). Từ ngày thứ 10 đến ngày 16, tế
bào phôi hình thành ấu trùng (miracidium) nằm
trong vỏ trứng, với tỷ lệ 72,94 %.
Theo dõi quá trình phát triển của mầm bệnh
cho thấy, miracidium hình thành và nằm trong
vỏ trứng, không thoát ra ngoài môi trường. Ấu
trùng tiếp tục sống trong trứng khoảng 9-11
ngày, sau đó bị chết nếu không bắt gặp vật chủ
trung gian thích hợp, các tế bào co cụm từng
đám hoặc bị phân hủy (hình 1-e).
3.2. Xác định thành phần vật chủ trung gian của
sán lá sinh sản trên vịt
77
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Bảng 2. Kết quả gây nhiễm trứng sán lá sinh sản cho ốc nước ngọt
Họ Loài ốc Số ốc gây nhiễm Số ốc nhiễm (%)
Bithyniidae Bithynia siamensis 600 431 (71,83)
Thiaridae
Melanoides tuberculata 600 0
Sermyla tornatella 600 0
Tarebia granifera 600 0
Ancylidae Polypylis hemisphaerula 600 0
Lymnaeidae
Lymnaea swinhoei 600 0
Lymnaea viridis 600 0
Littoridinidae Pachydrobia sp. 600 0
Planorbidae Indoplanorbis exustus 600 0
Ampullariidae Pomacea canaliculata 600 0
Viviparidae
Mekongia sp. 600 0
Eyriesia sp. 600 0
Bảng 3. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng sán lá sinh sản trên ốc Bithynia siamensis
Thời gian
sau gây nhiễm Dạng ấu trùng Hình dạng ấu trùng
Kích thước (µm, n=250)
Dài Rộng
Đến 4 giờ Miracidium Hình oval, lông bao phủ cơ thể 30-35 (32 ± 1,7)
17-20
(18 ± 1,2)
Ngày thứ 2 Sporocyst non Hình oval hoặc hình trứng, bên trong có các tế bào mầm
36-41
(38 ± 1,9)
18-23
(20 ± 2,0)
Ngày thứ 9
Sporocyst già Hình bầu dục, bên trong là các Redia I
330-360
(347 ± 24)
220-250
(234 ± 13,3)
Redia I Dạng hình cành cây, bên trong có các tế bào hình tròn
150-600
(360 ± 174)
50-100
(74 ± 18,5)
Redia II Hình bầu dục, bên trong có Cercaria
450-600
(510 ± 59)
100-160
(130 ± 22,4)
Ngày thứ 13
Sporocyst
Redia I, II Nt Nt Nt
Cercaria Ấu trùng có phần thân và đuôi, sống trong cơ thể ốc 100-120
(110 ± 7,9)
50-70
(60 ± 6,5)
Ngày thứ 25 Cercaria thoát ra khỏi ốc
Ấu trùng có phần thân và đuôi,
thoát khỏi ốc, bơi trong nước.
Nt: giống như cách mô tả trên
Tổng số 12 loài ốc nước ngọt thu thập được
trong tự nhiên tại 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên
và Khánh Hòa. Tiến hành gây nhiễm trứng
sán lá sinh sản chứa ấu trùng miracidium cho
ốc nước ngọt để xác định thành phần vật chủ
trung gian.
Kết quả ở bảng 2 chỉ phát hiện ốc Bithynia
siamensis là thích hợp để mầm bệnh sán lá sinh sản
tồn tại và phát triển. Trong ốc này, ấu trùng sán lá
sinh sản phát triển qua các giai đoạn miracidium,
sporocyst, redia và cercaria. Các giai đoạn phát triển
của ấu trùng trên ốc được thể hiện ở bảng 3.
78
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Qua bảng 3 cho thấy, ốc Bithynia siamensis
ăn phải trứng sán chứa ấu trùng miracidium.
Trong vòng 4 giờ, miracidium thoát khỏi vỏ
trứng sán, có hình oval, lông bao phủ, chiều
rộng 18 ± 1,2 µm, chiều dài 32 ± 1,7 µm.
Đến ngày thứ 2, miracidium hình thành
sporocyst non, có dạng hình oval hoặc hình
trứng, bên trong có nhiều tế bào mầm. Kích
thước: chiều rộng 20 ± 2,0 µm, chiều dài 38 ±
1,9 µm. Các tế bào này tiếp tục phân chia, phát
triển và dần dần hình thành nên các vách ngăn,
tạo nên những hình túi độc lập.
Ngày thứ 9, sporocyst già có hình bầu dục,
bên trong có các redia I. Kích thước chiều rộng
234 ± 13,3 µm, chiều dài 347 ± 24 µm. Redia I
sinh ra từ sporocyst già, có dạng hình cành cây,
bên trong có các tế bào hình tròn. Kích thước:
chiều rộng 74 ± 18,5 µm, chiều dài 360 ± 174
µm. Redia II sinh ra từ redia I, có dạng hình bầu
dục, bên trong có 5-9 ceraria. Kích thước chiều
rộng 130 ± 22,4 µm, chiều dài 510 ± 59µm.
Sau ngày 13, một số cercaria thoát ra khỏi redia
II và sống trong cơ thể ốc.
Đến ngày thứ 25. Cercaria thoát ra từ redia
II, ra khỏi ốc, bơi tự do trong nước. Cấu tạo cơ
thể chia thành 2 phần (phần thân và phần đuôi):
Phần thân hình bầu dục, có giác miệng, giác
bụng, hầu, thực quản, ruột. Phần đuôi mảnh, dài
gần bằng phần thân, đuôi là cơ quan giúp cho ấu
trùng bơi lội tự do trong nước.
Theo dõi thí nghiệm chúng tôi thấy: Cercaria
thoát ra khỏi ốc, bơi lội tự do trong môi trường
nước. Lúc đầu ấu trùng hoạt động mạnh, sau đó yếu
dần và ngừng hoạt động (chết). Thời gian hoạt động
ở môi trường nước khoảng 12 đến 48 giờ. Khi bị
chết, chúng chìm xuống đáy và dần dần bị phân hủy
(mầm bệnh không tạo thành dạng nang kén để tồn
tại). Điều này cho thấy sau khi mầm bệnh phát triển
trên ốc, cần tiếp tục phát triển trên một vật chủ trung
gian nữa để đến giai đoạn ấu trùng gây nhiễm.
Như vậy, kết quả trình bày trên đây cho
Hình 2. Các giai đoạn ấu trùng sán lá sinh sản phát triển trong ốc Bithynia siamensis (100X)
a: Miracidium; b và c: Sporocyst non (chứa nhiều sporocyst con); d: Sporocyst già (chứa nhiều
redia); e và f: Redia I (chứa nhiều redia con); g: Redia II (chứa nhiều cercaria); h: Cercaria; i: ốc
Bithynia siamensis (vật chủ trung gian thứ nhất)
79
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
thấy ốc B. siamensis là vật chủ trung gian thứ
nhất của sán lá sinh sản ở vịt. Ốc B. siamensis
khuếch đại mầm bệnh. Trong cơ thể ốc này,
trứng chứa ấu trùng sán lá sinh sản phát triển từ
dạng miracidium thành sporocyst, redia và cuối
cùng là cercaria chui ra khỏi ốc.
Quá trình phát triển của ấu trùng sán lá sinh
sản gây bệnh ở vịt trên đây giống như ấu trùng
sán lá gan nhỏ gây bệnh ở người và động vật,
trong đó vật chủ trung gian thứ nhất của sán
lá gan nhỏ là ốc nước ngọt, gồm các loài ốc:
Bithynia striatulus, B. fuchsiana, B. siamensis, B.
longicornis, Parafossarulus striatulus (Kaewkes
S, 2003; Petney T và cs, 2012; Suwannatrai K và
cs, 2016; Nakamura S, 2017), B. goniomphalos
và B. funiculata (Dao H. T. T và cs, 2017). Trong
nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xét nghiệm ấu
trùng trong 12 loài ốc đã xét nghiệm (bảng 3.2)
và xác định chỉ có ốc B. siamensis mang ấu trùng
sán lá sinh sản trên vịt. Hiện chúng tôi chưa thu
thập được và chưa xác định nếu các loài Bithynia
spp. khác cũng có thể nhiễm mầm bệnh.
IV. KẾT LUẬN
Trong môi trường nước ngọt tự nhiên,
ở nhiệt độ 22-230C, trứng sán lá sinh sản
Prosthogonimus spp. phát triển thành ấu trùng
miracidium sau 10-16 ngày.
Trong 12 loài ốc nước ngọt được gây nhiễm,
chỉ phát hiện ốc Bithynia siamensis là vật chủ
trung gian thứ nhất của sán lá sinh sản trên vịt.
Trong ốc, ấu trùng phát triển qua các giai đoạn
miracidium, sporocyst, redia và cuối cùng là
cercaria thoát ra khỏi ốc, bơi tự do trong nước
sau 25 ngày.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn
Miên (1980), Định loại động vật không xương
sống nước ngọt bắc Việt Nam, Nhà xuất bản
Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
2. Arundel, J., Kingston, J., Kerr, P., 1980.
Prosthogonimus pellucidus in domestic
poultry. Aust. Vet J 56, 460-461.
3. Burch, J., 1982. North American freshwater
snails, identification keys, generic synonnymy,
supplemental notes, glossary, references,
index. Walkerana 1: 217–365. Ann Abor,
Michigan.
4. Dao, H. T. T., Dermauw, V., Gabriel, S.,
Suwannatrai, A., Tesana, S., Nguyen, G. T.
T., & Dorny, P. 2017. Opisthorchis viverrini
infection in the snail and fish intermediate
hosts in Central Vietnam. Acta Trop., 170:
120-125
5. Kaewkes, S. 2003. Taxonomy and biology of
liver flukes. Acta Trop., 88(3): 177-186
6. Macy, R. W., 1965. On the life cycle of
the trematode Prosthogonimus cuneatus
(Rudolphi, 1809) (Plagiorchidae) in Egypt.
Trans Am Microsc Soc. 84:577–80.
7. McDonald, M., 1969. Catalogue of helminths
of waterfowl (Anatidae). Spec. scient. Rep. US
Fish Wildl. Serv., Wildlife.
8. Naem, S., Golpayegani, M. H., 2003.
Prosthogonimus macrorchis in the albumin of
the egg from Sari Iran. Iran J of Vet Res, Uni
of Shiraz 4, 160-2.
9. Nakamura, S. 2017. Present Situation of
Opisthorchiasis in Vientiane Capital, Lao
Peoples’ Democratic Republic. Nihon
Eiseigaku Zasshi, 72(2): 101-105.
10. Saif, Y. M., 2008. Diseases of poultry. 12th Ed.
Balckwell publishing.
11. Petney, T., Sithithaworn, P., Andrews, R.,
Kiatsopit, N., Tesana, S., Grundy-Warr, C., &
Ziegler, A. 2012. The ecology of the Bithynia
first intermediate hosts of Opisthorchis
viverrini. Parasitol.Int, 61(1): 38-45.
12. Soulsby, E. J. L. 1982. Helminths, Arthrofoods
and Protozoa of domesticaled Animals.
London: Bailliere Tindall, 7th edition: 1-809.
13. Suwannatrai, K., Suwannatrai, A., Tabsripair,
P., Welbat, J. U., Tangkawattana, S.,
Cantacessi, C., Mulvenna, J., Tesana, S.,
Loukas, A., & Sotillo, J. 2016. Differential
Protein Expression in the Hemolymph of
Bithynia siamensis goniomphalos Infected
with Opisthorchis viverrini. PLoS Negl.Trop.
Dis, 10(11): e0005104.
14. Taylor, M., Coop, R., Wall, R., 2007.
Parasites of poultry and gamebirds. Veterinary
Parasitology, Third ed. Blackwell Publishing,
459-534.
Ngày nhận 14-3-2018
Ngày phản biện 25-5-2018
Ngày đăng 1-3-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_cac_giai_doan_phat_trien_cua_au_trung_san_la_ky_s.pdf