Kết luận
Hệ ba điện cực sử dụng PRE Ag/AgCl đã
được thiết kế, chế tạo và ghép nối với một bình
phản ứng mini, giúp thu nhỏ hệ thống phân tích
và giảm lượng mẫu tiêu thụ. Kháng thể IgY
kháng virus Newcastle chiết xuất trực tiếp từ
trứng gà (do Biotech-Vet cung cấp) được cố định
làm phần tử dò cho cảm biến miễn dịch thay vì
sử dụng kháng thể IgG tinh chế với qui trình tách
chiết phức tạp đòi hỏi chi phí cao và thời gian
dài. Cảm biến miễn dịch tích hợp bình phản ứng
mini được ứng dụng trong phát hiện virus
Newcastle sử dụng phương pháp CV. Khi nồng
độ kháng thể được cố định là 60 µg/mL, thời gian
bắt cặp kháng thể - virus là 1 giờ, tín hiệu đầu ra
của cảm biến đạt giá trị cực đại (∆Ipeak = 0,1602).
Giới hạn phát hiện của cảm biến là 102
EID50/mL tại 25 oC. Cảm biến đạt tuyến tính tốt
trong khoảng hàm lượng virus Newcastle từ 102
đến 106 EID50/mL với phương trình liên hệ:
∆Ipeak= 0,0280logN – 0,00368 và R2 = 0,9972.
Nghiên cứu có tính mới và mở ra khả năng ứng
dụng nhằm đáp ứng một nhu cầu cấp thiết hiện
nay là nhu cầu phát hiện nhanh gia cầm bị bệnh
để nhanh chóng ngăn ngừa bùng phát dịch, giảm
thiểu thiệt hại trong chăn nuôi.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu ra của cảm biến miễn dịch điện hóa phát hiện virus Newcastle trên cơ sở kháng thể IgY chiết xuất trực tiếp từ trứng gà, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41
34
Original Article
Factors Affecting the Output Signal of the Electrochemical
Immunosensor Based on Chicken Egg Yolk Antibody for
Detecting Newcastle Disease Virus
Tran Thi Luyen1,, Huynh Dang Chinh1, Tran Quang Thinh2, Mai Anh Tuan2
1Hanoi University of Science and Technology, 1 Dai Co Viet, Hanoi, Vietnam
2National Centre for Technological Progress, 25 Le Thanh Tong, Hanoi, Vietnam
Received 26 February 2020
Revised 03 November 2020; Accepted 09 November 2020
Abstract: In this study, the electrochemical immunosensor for detecting Newcastle disease virus
using the chicken egg yolk antibodies (IgY) was developed. The developed immunosensor was built
into a three-electrode system consisting of two gold electrodes (a working electrode and a counter
electrode) and a quasi-reference Ag/AgCl electrode. The IgY antibodies against Newcastle disease
virus were immobilized on the working electrode (immunosensor) and the effect of the antibody
concentration and virus incubation time on the output signal of the immunosensors was investigated.
The investigation results show that when the antibody concentration was 60 µg/mL and the virus
incubation time was 1 hour, the output signal of the immunosensors reached its maximum value
(∆Ipeak = 0.1602). The detection limit of the sensors was 102 EID50/mL (EID50: 50% Empryo
Infective Dose) at 25 oC. There was a good linear relationship between the ∆Ipeak and the logarithm
of the virus Newcastle concentration in the range from 102 to 106 EID50/mL. The linear equation is
∆Ipeak = 0.0280logN – 0.00368 with the correlation coefficient of R2 = 0.9972.
Keywords: Electrochemical immunosensor, IgY antibody, Newcastle Disease virus (NDV),
microchamber
________
Corresponding author.
Email address: luyen.tranthi@hust.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5005
T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41 35
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu ra của cảm biến
miễn dịch điện hóa phát hiện virus Newcastle trên cơ sở
kháng thể IgY chiết xuất trực tiếp từ trứng gà
Trần Thị Luyến1,, Huỳnh Đăng Chính1, Trần Quang Thịnh2, Mai Anh Tuấn2,
1Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, 1 Đại Cồ Việt, Hà Nội, Việt Nam
2Viện Ứng dụng Công nghệ, 25 Lê Thánh Tông, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 26 tháng 02 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 11 năm 2020
Tóm tắt: Cảm biến miễn dịch điện hóa phát hiện virus Newcastle được phát triển trên cơ sở kháng
thể IgY chiết xuất trực tiếp từ trứng gà thay vì sử dụng kháng thể IgG tinh chế với qui trình tách
chiết phức tạp đòi hỏi chi phí cao và thời gian dài. Hệ ba điện cực bao gồm hai điện cực vàng (điện
cực làm việc, điện cực đối) và điện cực so sánh thay thế Ag/AgCl được thiết kế, chế tạo và tích hợp
với một bình phản ứng mini. Kháng thể IgY kháng virus Newcastle được cố định lên trên bề mặt
điện cực làm việc (cảm biến miễn dịch). Các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu ra của cảm biến miễn
dịch điện hóa tích hợp bình phản ứng mini đã chế tạo được tập trung nghiên cứu sử dụng phương
pháp CV (Cyclic Voltammetry). Kết quả cho thấy, khi nồng độ kháng thể được cố định là 60 µg/mL,
thời gian bắt cặp kháng thể - virus là 1 giờ, tín hiệu đầu ra của cảm biến đạt giá trị cực đại (∆Ipeak =
0,1602). Giới hạn phát hiện của cảm biến là 102 EID50/mL (EID50: 50% Empryo Infective Dose -
Liều nhiễm trùng trên phôi) tại 25 oC. Cảm biến đạt tuyến tính tốt trong khoảng hàm lượng virus
Newcastle từ 102 đến 106 EID50/mL với phương trình liên hệ: ∆Ipeak = 0,0280logN – 0,00368 và R2
= 0,9972.
Từ khóa: cảm biến miễn dịch điện hóa, kháng thể IgY, virus Newcastle, bình phản ứng mini.
1. Mở đầu
Cảm biến sinh học đã và đang chứng minh
được khả năng ứng dụng phong phú trong rất
nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong phát hiện virus
gây bệnh, chẩn đoán lâm sàng, giám sát môi
trường, kiểm soát an toàn thực phẩm, [1]. Cảm
biến sinh học là thiết bị tích hợp có khả năng
cung cấp thông tin phân tích định lượng hoặc bán
định lượng đặc trưng, bao gồm một phần tử nhận
biết sinh học (bioreceptor) kết hợp trực tiếp với
một phần tử chuyển đổi (transducer). Chất được
gắn trên bộ phận chuyển đổi được gọi là “phần
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: luyen.tranthi@hust.edu.vn
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5005
tử dò/phần tử nhận biết sinh học”, chất cần phân
tích trong mẫu được gọi là “phần tử đích”.
Nguyên lý hoạt động của cảm biến sinh học
là dựa trên các phản ứng đặc hiệu: kháng nguyên
- kháng thể (cảm biến miễn dịch), lai hóa DNA
(cảm biến DNA) hoặc enzym - cơ chất (cảm biến
enzyme). Trên cơ sở các phản ứng đặc hiệu này,
phần tử nhận biết sinh học giữ vai trò dò tìm đối
tượng đích trong mẫu phân tích và phần tử
chuyển đổi giữ vai trò chuyển đổi tương tác sinh
học thành tín hiệu điện hóa, quang, nhiệt, sau
đó đưa qua bộ phận xử lý tín hiệu và hiển thị kết
quả đo.
36 T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41
Cảm biến miễn dịch, một loại cảm biến sinh
học, hoạt động trên cơ sở phản ứng đặc hiệu
kháng nguyên - kháng thể, là một trong những
thiết bị có khả năng ứng dụng hiệu quả trong phát
hiện các bệnh truyền nhiễm do virus nói chung
với những ưu điểm: thời gian phát hiện nhanh,
độ nhạy và độ chọn lọc cao, thao tác mẫu dễ dàng
[2,3]. Trong nghiên cứu trước của chúng tôi, cảm
biến miễn dịch điện hóa tích hợp bình phản ứng
mini đã được chế tạo và thử nghiệm trong phát
hiện virus Newcastle. Kháng thể IgY kháng
virus Newcastle chiết xuất trực tiếp từ trứng gà
đã được cố định thành công lên trên bề mặt điện
cực vàng (cảm biến miễn dịch) thay vì sử dụng
kháng thể IgG tinh chế với qui trình tách chiết
phức tạp đòi hỏi chi phí cao và thời gian dài. Kết
quả thử nghiệm bước đầu cho thấy cảm biến có
phản ứng tương đối tốt và đặc hiệu với virus
Newcastle [4]. Trong nghiên cứu này, các yếu tố
ảnh hưởng đến tín hiệu đầu ra của cảm biến phát
hiện virus Newcastle trên cơ sở kháng thể IgY
chiết xuất trực tiếp từ trứng gà tiếp tục được khảo
sát nhằm tìm ra những điều kiện tối ưu giúp nâng
cao độ nhạy của cảm biến. Đồng thời, giới hạn
phát hiện và khoảng tuyến tính của cảm biến
miễn dịch điện hóa đã chế tạo cũng là những
thông số được tập trung nghiên cứu.
2. Thực nghiệm
2.1. Hóa chất
Protein A, BSA (Bovine Serum Albumin) và
đệm phốt phát PBS (pH = 7,4) được cung cấp bởi
Sigma (Hoa Kỳ). GA (Glutaraldehyde) do
Prolabo (Pháp) sản xuất. Các hóa chất phụ trợ
như KCl, N2: 99,9 %, K3Fe(CN)6 và K4Fe(CN)6
đều đạt chuẩn phân tích.
Kháng thể IgY kháng kháng nguyên virus
Newcastle chủng M được cung cấp bởi công ty
cổ phần công nghệ sinh học thú y BTV (Biotech-
Vet), nhà máy sản xuất thuốc thú y tại Biên
Giang, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam. Vacxin
Newcastle (virus vô hoạt) hệ 1, chủng M được
cung cấp bởi công ty cổ phần dược và vật tư thú
y Hanviet, Việt Nam, lưu giữ ở -15 ᵒC trước khi
sử dụng.
2.2. Thiết kế và chế tạo hệ điện cực tích hợp bình
phản ứng mini
Hệ điện cực được thiết kế và chế tạo bao gồm
ba điện cực: điện cực làm việc (WE)/cảm biến
miễn dịch (cố định kháng nguyên, kháng thể);
điện cực đối (CE); và điện cực tham chiếu (so
sánh) (RE). Hai điện cực vàng WE và CE được
tích hợp lên trên cùng một chip, Hình 1a. Kích
thước của chíp là 12 x 3,6 mm, đường kính của
WE là 1 mm, diện tích của WE là: πR2 = π0,52 =
0,785 mm2. Trong thiết kế này, diện tích CE lớn
hơn của WE khoảng 5 lần.
Hình 1. (a): Hai điện cực vàng tích hợp (WE và CE);
(b): Bình phản ứng mini: (1)- Điện cực so sánh
Ag/AgCl, (2)-Điện cực vàng, (3)-PDMS
(Polydimethylsiloxane), (4)-đế thủy tinh.
Điện cực so sánh thay thế Ag/AgCl được
chế tạo bằng cách nhúng dây Ag vào dung dịch
FeCl3 0,1 M trong 3 phút nhằm tạo ra một lớp
muối AgCl phủ trên dây Ag. Sau đó, điện cực
được rửa sạch nhiều lần bằng nước khử ion và
được làm khô bằng dòng khí N2. Điện cực so
sánh thay thế Ag/AgCl được chế tạo với kích
thước rất nhỏ gọn (đường kính 1 mm, chiều dài
10 mm). Thiết kế này cho phép ghép nối với
một bình phản ứng mini có thể tích nhỏ dao
động từ 100 µL tới 1 mL, cho phép thực hiện
các phép đo với lượng mẫu rất nhỏ, đồng thời
đảm bảo độ chính xác cao, Hình 1b.
2.3. Cố định kháng thể trên bề mặt cảm biến
Bề mặt điện cực vàng trước tiên được làm
sạch bằng dung dịch K2Cr2O7/H2SO4 (bão hòa),
được hoạt hóa điện hóa trong dung dịch H2SO4
0,5 M bằng kỹ thuật điện hóa quét thế tuần hoàn
với điện áp từ -0,5 V đến 1 V, tốc độ quét 50
mV/s cho đến khi CV đặc trưng ổn định. Sau đó,
điện cực vàng được ủ với 20 µL dung dịch PrA
(1 mg/mL) ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ, tiếp tục
được ủ với 20µL dung dịch GA 5% (30 phút,
T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41 37
nhiệt độ phòng), cuối cùng, điện cực được ủ với
20 µL kháng thể (60 µg/mL) ở 4 ᵒC trong 3 giờ.
Sau khi kháng thể được cố định lên bề mặt điện
cực, 20 µL BSA 1% được sử dụng để khóa phủ
các vị trí không đặc hiệu (30 phút, nhiệt độ
phòng). Sau mỗi bước cố định, điện cực đều
được rửa sạch bằng nước khử ion và được sấy
khô bằng khí N2 nhằm loại bỏ những phần tử
không tương tác hoặc tương tác yếu.
2.4. Phát hiện virus (bất hoạt) sử dụng cảm biến
miễn dịch điện hóa
Mẫu virus chuẩn được sử dụng và pha loãng
trong dung dịch đệm PBS (nồng độ 0,01 M và
giá trị pH = 7,4). 20 µL virus bất hoạt Newcastle
được nhỏ lên trên điện cực ở nhiệt độ phòng
trong 1 giờ. Sau đó, điện cực được rửa với nước
khử ion để loại bỏ những phần tử đích không
tương tác hoặc tương tác yếu. Quá trình đo CV
(Cyclic Voltammetry) được thực hiện trên hệ
điện hóa EC301 từ Stanford Research Systems.
Bình điện hóa sử dụng ba điện cực: điện cực làm
việc (WE) là điện cực cảm biến miễn dịch/virus,
điện cực đối (CE) là điện cực Au tích hợp và điện
cực so sánh (RE) là điện cực so sánh thay thế
Ag/AgCl, Hình 1b. Dung dịch điện li gồm
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03, KCl 0,1 M, khoảng
quét thế từ -0,2 đến 0,5 V và tốc độ quét 25 mV/s.
Từ các đường CV thực nghiệm có thể xác định
được giá trị dòng cực đại Ipeak và ∆Ipeak theo các
công thức sau [5]:
𝐼𝑝𝑒𝑎𝑘 = 𝐼𝑝,𝑎 − 𝐼𝑝,𝑐 (1)
∆𝐼𝑝𝑒𝑎𝑘 =
𝐼𝑝𝑒𝑎𝑘(0) − 𝐼𝑝𝑒𝑎𝑘(𝑖)
𝐼𝑝𝑒𝑎𝑘(0)
(2)
Trong đó: Ipeak(0) là dòng cực đại của điện
cực Au/PrA/GA/Ab/BSA (cảm biến miễn dịch);
Ipeak(i) là dòng cực đại của điện cực
Au/PrA/GA/Ab/BSA/Ag (cảm biến miễn
dịch/virus Newcastle).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của nồng độ kháng thể
Hình 2. Đường CV của điện cực: (a): cảm biến miễn dịch và (b): cảm biến miễn dịch/virus Newcastle trong dung
dịch K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M khi thay đổi nồng độ kháng thể được cố định trên bề mặt cảm
biến: (A): 20 µg/mL, (B): 30 µg/mL, (C): 40 µg/mL, (D): 50 µg/mL và (E): 60 µg/mL.
38 T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41
Ảnh hưởng của nồng độ kháng thể đến tín
hiệu đầu ra của cảm biến miễn dịch được khảo
sát bằng cách thay đổi nồng độ kháng thể được
cố định trên bề mặt cảm biến. Sau đó, thực hiện
các phép đo CV trong dung dịch điện li
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M, tốc
độ quét 25 mV/s, khoảng thế quét từ -0,2 V đến
0,5 V đối với các cảm biến trước và sau khi cảm
biến được ngâm trong dung dịch virus 106
EID50/mL (PBS, pH = 7,4), thời gian 1 giờ.
Hình 2 biểu diễn các đường CV của điện cực:
(a): cảm biến miễn dịch và (b): cảm biến miễn
dịch/virus Newcastle trong dung dịch
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M khi
thay đổi nồng độ kháng thể được cố định trên bề
mặt cảm biến: (A): 20 µg/mL, (B): 30 µg/mL,
(C): 40 µg/mL, (D): 50 µg/mL và (E): 60 µg/mL.
Từ các đường CV thực nghiệm, có thể tính
toán để thu được các giá trị Ipeak và ∆Ipeak theo các
công thức (1) và (2), Bảng 1.
Bảng 1. Các giá trị Ip,a, Ip,c, Ipeak và ∆Ipeak thu được từ kết quả đo CV đối với các điện cực cảm biến miễn dịch và
cảm biến miễn dịch/virus Newcastle khi thay đổi nồng độ kháng thể được cố định trên bề mặt cảm biến
Điện cực Ckhángthể (µg/mL) Ip,a (µA) Ip,c (µA) Ipeak (µA) ∆Ipeak
Cảm biến 20 58,58 -53,63 112,21
Cảm biến/Virus 20 50,68 -48,03 98,71 0,1203
Cảm biến 30 56,60 -56,92 113,52
Cảm biến/Virus 30 50,02 -48,71 98,73 0,1303
Cảm biến 40 55,96 -56,60 112,56
Cảm biến/Virus 40 47,71 -48,70 96,41 0,1435
Cảm biến 50 57,28 -56,60 113,88
Cảm biến/Virus 50 49,69 -46,68 96,37 0,1538
Cảm biến 60 56,91 -55,96 112,87
Cảm biến/Virus 60 47,39 -47,39 94,78 0,1602
Hình 3. Ảnh hưởng của nồng độ kháng thể (được cố
định trên bề mặt cảm biến) đến giá trị ∆Ipeak của cảm
biến miễn dịch
Hình 3 biểu diễn ảnh hưởng của nồng độ
kháng thể đến tín hiệu đầu ra của cảm biến miễn
dịch (∆Ipeak). Nhận thấy, khi nồng độ kháng thể
tăng từ 20 µg/mL đến 60 µg/mL, tín hiệu đầu ra
của cảm biến miễn dịch (∆Ipeak) tăng lên. Kết quả
này được giải thích là do khi nồng độ kháng thể
tăng, số lượng kháng thể được cố định hiệu quả
trên bề mặt cảm biến sẽ tăng lên, nhờ đó, làm
tăng xác suất bắt cặp với virus đặc hiệu trong
dung dịch.
Trong nghiên cứu này, kháng thể được sử
dụng làm phần tử dò cho cảm biến miễn dịch là
kháng thể kháng virus Newcastle được chiết xuất
trực tiếp từ trứng gà và nồng độ 60 µg/mL là giá
trị nồng độ kháng thể cao nhất (dung dịch kháng
thể được cung cấp bởi nhà sản xuất, khi chưa pha
loãng). Do đó, giá trị nồng độ kháng thể 60
µg/mL sẽ được lựa chọn cho những thí nghiệm
tiếp sau.
3.2. Ảnh hưởng của thời gian bắt cặp kháng thể
- virus
Ảnh hưởng của thời gian bắt cặp kháng thể -
virus đến tín hiệu đầu ra của cảm biến miễn dịch
được khảo sát sử dụng các cảm biến đã được cố
định kháng thể nồng độ 60 µg/mL và thay đổi
thời gian ngâm cảm biến trong dung dịch virus
T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41 39
106 EID50/mL (PBS, pH = 7,4). Sau đó, thực
hiện các phép đo CV trong dung dịch điện li
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M, tốc
độ quét 25 mV/s, khoảng thế quét từ -0,2 V đến
0,5 V đối với các cảm biến trước và sau khi cảm
biến được ngâm trong dung dịch virus. Hình 4A
biểu diễn các đường CV của điện cực: (a): cảm
biến miễn dịch và (b-f): cảm biến miễn
dịch/virus Newcastle trong dung dịch
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M khi
thay đổi thời gian bắt cặp kháng thể - virus: (b):
15 phút, (c): 30 phút, (d): 45 phút, (e): 90 phút
và (f): 60 phút.
Hình 4. (A): Đường CV của điện cực: (a): cảm biến miễn dịch và (b-f): cảm biến miễn dịch/virus Newcastle
trong dung dịch K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M khi thay đổi thời gian bắt cặp kháng thể - virus: (b):
15 phút, (c): 30 phút, (d): 45 phút, (e): 90 phút và (f): 60 phút; (B): Ảnh hưởng của thời gian bắt cặp kháng thể -
virus đến giá trị ∆Ipeak của cảm biến miễn dịch
Từ các đường CV thực nghiệm, có thể tính
toán để thu được các giá trị Ipeak và ∆Ipeak theo các
công thức (1) và (2), Bảng 2. Hình 4B biễu diễn
ảnh hưởng của thời gian bắt cặp kháng thể - virus
đến giá trị ∆Ipeak của cảm biến miễn dịch. Nhận
thấy, khi thời gian bắt cặp kháng thể - virus là từ
5 đến 15 phút, tín hiệu đầu ra của cảm biến miễn
dịch (∆Ipeak) thấp và gần như không thay đổi. Khi
tăng thời gian bắt cặp kháng thể - virus từ 15 đến
60 phút, tín hiệu đầu ra của cảm biến tăng lên và
đạt giá trị cực đại (∆Ipeak = 0,1602) tương ứng với
thời gian bắt cặp kháng thể - virus là 60 phút.
Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng thời gian bắt cặp
kháng thể - virus lên 90 phút thì tín hiệu đầu ra
của cảm biến miễn dịch cũng không tăng lên nữa.
Như vậy, khoảng thời gian 60 phút là đủ để các
liên kết đặc hiệu giữa virus và kháng thể được
thiết lập. Do đó, thời gian bắt cặp kháng thể -
virus là 60 phút sẽ được lựa chọn cho các thí
nghiệm tiếp sau.
Bảng 2. Các giá trị Ip,a, Ip,c, Ipeak và ∆Ipeak thu được từ kết quả đo CV đối với các điện cực cảm biến miễn dịch và
cảm biến miễn dịch/virus Newcastle khi thay đổi thời gian bắt cặp kháng thể - virus
Điện cực Ip,a (µA) Ip,c (µA) Ipeak (µA) ∆Ipeak
Cảm biến 56,71 -55,51 112,22
Cảm biến/virus Newcastle
15 phút 55,52 -54,10 109,62 0,0232
30 phút 51,27 -52,50 103,77 0,0753
45 phút 50,18 -48,25 98,43 0,1229
60 phút 46,45 -47,79 94,24 0,1602
90 phút 49,69 -48,19 97,88 0,1278
40 T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41
3.3. Đặc trưng tín hiệu tương tác virus-kháng thể
Hình 5A biểu diễn các đường CV của điện
cực: (a): cảm biến miễn dịch và (b-f): cảm biến
miễn dịch/virus Newcastle trong dung dịch
K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 M, tốc
độ quét 25 mV/s khi thay đổi hàm lượng virus
Newcastle: (b):102 EID50/mL, (c): 103
EID50/mL, (d): 104 EID50/mL, (e): 105
EID50/mL và (f): 106 EID50/mL.
Hình 5. (A): Đường CV của điện cực: (a): cảm biến miễn dịch và (b-f): cảm biến miễn dịch/virus Newcastle
trong dung dịch K3Fe(CN)6/K4Fe(CN)6 0,03 M, KCl 0,1 Mkhi thay đổi hàm lượng virus Newcastle; (B):Sự thay
đổi tín hiệu đầu ra của cảm biến miễn dịch (∆Ipeak) phụ thuộc vào hàm lượng virus Newcastle (log EID50/mL)
Bảng 3. Các giá trị Ip,a, Ip,c, Ipeak và ∆Ipeak thu được từ
kết quả đo CV đối với các điện cực cảm biến miễn
dịch và cảm biến miễn dịch/virus Newcastle khi thay
đổi hàm lượng virus Newcastle
Điện cực Ip,a (µA) Ip,c (µA) Ipeak (µA) ∆Ipeak
Cảm biến 56,39 -57,01 113,40
Cảm biến/virus Newcastle
102 EID50/mL 55,20 -52,49 107,69 0,0504
103 EID50/mL 51,88 -52,20 104,08 0,0822
104 EID50/mL 51,56 -49,35 100,91 0,1101
105 EID50/mL 49,77 -47,98 97,75 0,1380
106 EID50/mL 46,75 -48,28 95,03 0,1620
Từ các đường CV thực nghiệm có thể tính
được các giá trị Ipeak và ∆Ipeak theo các công thức
(1) và (2) tương ứng với các hàm lượng virus
Newcastle khác nhau, Bảng 3. Hình 5B là đường
chuẩn biểu diễn mối quan hệ giữa tín hiệu đầu ra
của cảm biến miễn dịch (∆Ipeak) và hàm lượng
virus Newcastle (logEID50/mL). Hình 5B cho
thấy giới hạn phát hiện của cảm biến miễn dịch
là 102EID50/mL virus Newcastle. Cảm biến
miễn dịch điện hóa đạt tuyến tính tốt trong
khoảng hàm lượng virus Newcastle từ 102 đến
106 EID50/mL với phương trình liên hệ là: ∆Ipeak
= 0,0280logN – 0,00368 và bình phương hệ số
tương quan (R2) đạt 0,9972.
4. Kết luận
Hệ ba điện cực sử dụng PRE Ag/AgCl đã
được thiết kế, chế tạo và ghép nối với một bình
phản ứng mini, giúp thu nhỏ hệ thống phân tích
và giảm lượng mẫu tiêu thụ. Kháng thể IgY
kháng virus Newcastle chiết xuất trực tiếp từ
trứng gà (do Biotech-Vet cung cấp) được cố định
làm phần tử dò cho cảm biến miễn dịch thay vì
sử dụng kháng thể IgG tinh chế với qui trình tách
chiết phức tạp đòi hỏi chi phí cao và thời gian
dài. Cảm biến miễn dịch tích hợp bình phản ứng
mini được ứng dụng trong phát hiện virus
Newcastle sử dụng phương pháp CV. Khi nồng
độ kháng thể được cố định là 60 µg/mL, thời gian
T.T. Luyen et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 34-41 41
bắt cặp kháng thể - virus là 1 giờ, tín hiệu đầu ra
của cảm biến đạt giá trị cực đại (∆Ipeak = 0,1602).
Giới hạn phát hiện của cảm biến là 102
EID50/mL tại 25 oC. Cảm biến đạt tuyến tính tốt
trong khoảng hàm lượng virus Newcastle từ 102
đến 106 EID50/mL với phương trình liên hệ:
∆Ipeak= 0,0280logN – 0,00368 và R2 = 0,9972.
Nghiên cứu có tính mới và mở ra khả năng ứng
dụng nhằm đáp ứng một nhu cầu cấp thiết hiện
nay là nhu cầu phát hiện nhanh gia cầm bị bệnh
để nhanh chóng ngăn ngừa bùng phát dịch, giảm
thiểu thiệt hại trong chăn nuôi.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát
triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 104.03-2019.
19.
Tài liệu tham khảo
[1] S. Chen, Y.F. Cheng, G. Voordouw, Three-
dimensional graphene nanosheet doped with gold
nanoparticles as electrochemical DNA biosensor
for bacterial detection, Sensors Actuators B 262
(2018) 860-868. https://doi.org/10.1016/j.snb.2018.
02.093.
[2] J.R. North, Immunosensors: Antibody-based
biosensors, Trends in Biotechnology 3 (1985) 180-
186. https://doi.org/10.1016/0167-7799(85)90119 -2.
[3] B. C. Heinze, Lab-on-a-Chip Optical Immunosensor
for Pathogen Detection, The University of
Arizona, United States, 2010.
[4] T.T. Luyen, T.Q. Thinh, T.V. Hoang, N.T.T. Mai,
M.A. Tuan, The Development of an
Electrochemical Immunosensor Using Chicken
Egg Yolk Antibody as a Biological Recognition
Element for Detecting Newcastle Disease Virus (in
Vietnamese), VNU Journal of Science: Natural
Sciences and Technology 34(2) (2018) 62-68.
https://doi.org/10 .25073/2588-1140/vnunst.4742.
[5] J. Zhou, L. Du, L. Zou, Y. Zou, N. Hu, P. Wang,
An ultrasensitive electrochemical immunosensor
for carcinoembryonic antigen detection based on
staphylococcal protein A-Au nanoparticle
modified gold electrode, Sensors and Actuators B:
Chemical 197 (2014) 220-227. https://doi.org/10.
1016/j.snb.2014.02.009.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_tin_hieu_ra_cua_cam_bien.pdf