Kết quả ở Bảng 4 cho thấy tỷ lệ nhiễm H. pylori
khi chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp PCR
đặc hiệu gene ureA và RUT là 53,7%. Tỷ lệ nhiễm H.
pylori này nằm trong phạm vi tỷ lệ nhiễm chung ở
các bệnh nhân dạ dày – tá tràng ở Việt Nam, 55,5–
74,6% [3]. Một nghiên cứu cắt ngang trên 270 bệnh
nhân được nội soi dạ dày – tá tràng tại các bệnh viện
thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 2010 có tỷ lệ
nhiễm H. pylori là 65,6% [14].
Một khảo sát năm 2014 – 2015 tại miền Trung
trên 412 bệnh nhân viêm dạ dày mạn có tỷ lệ nhiễm
H. pylori là 59,5%, tương đương tỷ lệ nhiễm hiện
nay. Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm H. pylori ở các bệnh
nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng tại Việt Nam hầu như
trên 50%. Thực trạng này đặt ra một gánh nặng về
y tế cũng như kinh tế trong việc điều trị tiệt trừ vi
khuẩn H. pylori. Do phác đồ điều trị H. pylori khá
phức tạp, phối hợp nhiều thuốc vừa kháng sinh vừa
ức chế bơm proton, đồng thời phác đồ này có nhiều
tác dụng phụ cho bệnh nhân như mệt mỏi, mất ngủ,
buồn nôn. nên tỷ lệ không tuân thủ phác đồ điều trị
khá cao. Ngoài ra, do tình hình sử dụng kháng sinh ở
Việt Nam khá tùy tiện làm gia tăng tỷ lệ đề kháng của
H. pylori với các kháng sinh thuộc các phác đồ điều
trị như clarithromycin, levofloxacine, tetracycline và
metronidazole [15], [16]. Đó là những lý do làm cho
tỷ lệ nhiễm H. pylori hầu như không hề giảm, mặc dù
điều kiện kinh tế của đa số bệnh nhân đủ để áp dụng
các phác đồ điều trị tiêu chuẩn.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 39 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
43
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
Địa chỉ liên hệ: Hà Thị Minh Thi, email: htmthi@huemed-univ.edu.vn
Ngày nhận bài: 16/3/2020; Ngày đồng ý đăng: 22/4/2020
Nghiên cứu chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR
đặc hiệu gene ureA từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân
bệnh lý dạ dày - tá tràng
Hà Thị Minh Thi, Nguyễn Thị Mai Ngân, Nguyễn Duy
Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế
Mục tiêu: (1) So sánh phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và xét nghiệm nhanh urease (RUT) trong chẩn
đoán nhiễm H. pylori từ mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày; (2) Xác định tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân
bệnh lý dạ dày – tá tràng bằng hai phương pháp PCR và RUT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 106
bệnh nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng được lấy mẫu mô sinh thiết qua nội soi dạ dày để thực hiện RUT, rồi tách
chiết DNA và thực hiện PCR với mồi đặc hiệu gene ureA của H. pylori. Kết quả: PCR đặc hiệu gene ureA và
RUT tương đồng cao trong chẩn đoán nhiễm H. pylori (κ = 0,885; 95%CI: 0,796 – 0,974). Tuy nhiên, PCR phát
hiện thêm 5 (10,4%) ca nhiễm H. pylori trong số RUT âm tính; và chỉ 1 (1,7%) ca RUT dương tính có kết quả
PCR âm tính. Tỷ lệ nhiễm H. pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp là 53,7%. Tỷ lệ này cao
nhất ở nhóm loét dạ dày – tá tràng, 75% (p = 0,015) và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều trị, 63,5%
(p = 0,029). Kết luận: Phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA có thể giúp phát hiện nhiều trường hợp nhiễm H.
pylori bị bỏ sót khi chẩn đoán bằng RUT. Tỷ lệ nhiễm H. pylori còn khá cao, đặc biệt ở nhóm loét dạ dày – tá
tràng, và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều trị H. pylori của bản thân.
Từ khoá: Gene ureA, H.pylori, bệnh lý dạ dày - tá tràng
Abstract
Diagnosis of Helicobacter pylori in gastric biopsy specimens of
patients with gastroduodenal diseases by polymerase chain reaction
using ureA gene-specific primers
Ha Thi Minh Thi, Nguyen Thi Mai Ngan, Nguyen Duy
Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University
Objectives: (1) To compare PCR method using ureA gene-specific primers and rapid urease test (RUT)
for the diagnosis of H. pylori infection in gastric biopsy specimens; and (2) to determine the prevalence
of H. pylori infection among patients with gastroduodenal diseases by the combination of both methods.
Materials and method: Gastric biopsy specimens were collected from by endoscopy from 106 patients with
gastroduodenal diseases. H. pylori infection was determined by the rapid urease test (RUT), followed by the
PCR using ureA gene-specific primers. Results: This study reveals a high-level concordance (κ = 0.885; 95%CI:
0.796 – 0.974) between PCR and RUT for the diagnosis of H. pylori infection. However, PCR detected H.
pylori in 5 (10.4%) of RUT-negative patients; and only 1 (1.7%) of RUT-positive cases were PCR-negative. The
prevalence of H. pylori infection diagnosed by both PCR and RUT methods was 53.7%. The H. pylori infection
was prevalent in gastroduodenal ulcers and patients with unknown medical history, 75% (p = 0.015) and
63.5% (p = 0.029), respectively. Conclusion: PCR using ureA gene-specific primers can detect several cases
with H. pylori infection overlooked by RUT. The prevalence of H. pylori infection was still high, particularly in
gastroduodenal ulcers and patients with an unknown medical history.
Key words: rapid urease test (RUT), H. pylori, ureA gene-specific primers
DOI: 10.34071/jmp.2020.2.7
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Helicobacter pylori (H. pylori) là một loại xoắn
khuẩn, vi hiếu khí gây bệnh ở người. Khoảng 80%
loét dạ dày và 95% loét hành tá tràng là do nhiễm
H. pylori [1]. Từ năm 1994, Cơ quan nghiên cứu ung
thư quốc tế (IARC) đã xác nhận H. pylori là tác nhân
gây ung thư dạ dày nhóm I [2]. Vi khuẩn này có thể
nhiễm ở mọi lứa tuổi, với tỷ lệ ở các khu vực thay
đổi từ 20–80% [1], tỷ lệ nhiễm ở Việt Nam khoảng
55,5–74,6% [3]. Việc chẩn đoán nhiễm H. pylori để
44
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
điều trị tiệt trừ là hết sức cần thiết, đóng vai trò
quan trọng trong dự phòng ung thư dạ dày.
Ngày nay, các kỹ thuật chẩn đoán nhiễm H. pylori
đang được sử dụng chủ yếu dựa trên mẫu sinh thiết
niêm mạc dạ dày như nuôi cấy, mô bệnh học, xét
nghiệm nhanh urease (RUT: Rapid urease test) và kỹ
thuật PCR (Polymerase chain reaction); hoặc chẩn
đoán bằng kỹ thuật không xâm nhập như test thở,
phát hiện kháng thể trong huyết thanh, phát hiện
kháng nguyên trong phân... [1].
Việc nuôi cấy H. pylori đòi hỏi môi trường đặc
hiệu, mất nhiều thời gian, tỷ lệ thành công phụ
thuộc nhiều vào từng phòng xét nghiệm, vì vậy ít
được sử dụng trong thực hành lâm sàng để chẩn
đoán nhiễm H. pylori, mà thường chỉ được sử dụng
khi cần chẩn đoán đề kháng kháng sinh [4]. Mô bệnh
học được xem có độ nhạy và đặc hiệu cao, tuy nhiên
nhiều nhà khoa học tỏ ra hoài nghi việc chỉ khảo sát
hình thái vi khuẩn mà có thể khẳng định đó là H.
pylori [1]. Test thở tuy có điểm thuận tiện cho bệnh
nhân là không xâm nhập nhưng chi phí quá cao (giá
thành đắt hơn cả nội soi chẩn đoán bệnh lý dạ dày –
tá tràng) vì vậy thường ưu tiên sử dụng để theo dõi
hiệu quả điều trị sau một liệu trình tiệt trừ H. pylori.
Xét nghiệm nhanh urease (RUT) nhằm phát hiện
enzyme urease của vi khuẩn H. pylori là loại enzyme
giúp vi khuẩn này sống được trong môi trường acid
dạ dày do phân hủy urea thành carbon dioxide và
ammonia. RUT được thực hiện đơn giản và nhanh
chóng tại phòng nội soi, tuy nhiên độ nhạy có thể
giảm khi mật độ vi khuẩn thấp, ở bệnh nhân bị
xuất huyết, hoặc có sử dụng các thuốc ức chế bơm
proton, bismuth, kháng sinh [5]
Với sự ra đời và phát triển không ngừng của các
kỹ thuật sinh học phân tử, việc chẩn đoán nhiễm
H. pylori có thể được thực hiện bằng kỹ thuật PCR
khuếch đại gene đặc hiệu của vi khuẩn này như
ureA, ureC, 16S rRNA, hpaA [6]. Kỹ thuật PCR được
thực hiện dựa trên DNA được chiết tách từ mẫu sinh
thiết niêm mạc dạ dày, thậm chí là mẫu sinh thiết
đã được thực hiện RUT. Chẩn đoán nhiễm H. pylori
bằng kỹ thuật PCR có thể khắc phục được một số
nhược điểm nói trên của RUT [7].
Mỗi kỹ thuật chẩn đoán đều có ưu nhược điểm
nhất định và không có kỹ thuật đơn độc nào được
xem là tiêu chuẩn vàng cho việc chẩn đoán xác định
nhiễm H. pylori. Vì vậy việc phối hợp ít nhất hai
phương pháp là biện pháp được khuyến cáo trong
thực hành lâm sàng [1].
Tại Trung tâm Nội soi tiêu hóa, Bệnh viện trường
Đại học Y Dược Huế, chẩn đoán nhiễm H. pylori đã
được thực hiện thường quy bằng phương pháp RUT.
Năm 2017, chúng tôi đã khảo sát giá trị của việc
chẩn đoán nhiễm H. pylori bằng kỹ thuật PCR với
cặp mồi đặc hiệu gene ureC và bước đầu cho kết
quả đáng tin cậy [8]. Một số tác giả cho rằng bất kỳ
một mẫu mô sinh thiết nào có kết quả dương tính
với hai phản ứng PCR khuếch đại hai đoạn gene đích
có trình tự bảo thủ khác nhau đều có thể cho phép
chẩn đoán có nhiễm H. pylori [9]. Vì vậy, việc tối ưu
hóa thêm một quy trình PCR chẩn đoán nhiễm H.
pylori từ mẫu sinh thiết là điều cần thiết. Để nâng
cao chất lượng chẩn đoán phục vụ điều trị bệnh,
chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau:
(1) So sánh phương pháp PCR đặc hiệu gene
ureA và xét nghiệm nhanh urease trong chẩn đoán
nhiễm Helicobacter pylori từ mẫu mô sinh thiết niêm
mạc dạ dày.
(2) Xác định tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori ở
bệnh nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng bằng phương
pháp PCR đặc hiệu gene ureA kết hợp xét nghiệm
nhanh urease.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được nội soi dạ dày – tá tràng tại
Trung tâm Nội soi Tiêu hóa, Bệnh viện Trường Đại
học Y Dược Huế vì các dấu hiệu lâm sàng gợi ý bệnh
lý dạ dày tá tràng (như đầy bụng, khó tiêu, đau, nóng
rát vùng thượng vị, buồn nôn, nôn), với kết quả nội
soi có thương tổn niêm mạc dạ dày–tá tràng và có
chỉ định sinh thiết niêm mạc dạ dày để chẩn đoán
nhiễm H. pylori bằng RUT. Thời gian từ tháng 6 đến
tháng 10 năm 2019.
Tiêu chuẩn loại trừ: Có điều trị kháng sinh và/
hoặc bismuth trong vòng 4 tuần trước khi nội soi,
điều trị kháng thụ thể H
2
histamin và/hoặc ức chế
bơm proton trong vòng 2 tuần trước khi nội soi.
Cỡ mẫu: N = 106
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bước 1: Chọn mẫu tại Trung tâm Nội soi Tiêu hóa
- Ghi nhận thông tin chung của bệnh nhân, thăm
khám lâm sàng, kết quả nội soi.
- Thu thập mẫu mô sinh thiết niêm mạc dạ dày.
Bước 2: Xét nghiệm nhanh urease (RUT)
- Thực hiện RUT trên các mẫu sinh thiết niêm
mạc dạ dày của bệnh nhân bằng bộ kit Urease N.S
VA.A01–001A (Việt Á).
- Kết quả dương tính được xác định nếu chất thử
chuyển từ màu vàng sang đỏ trong vòng 30 phút sau
khi đặt mẫu mô sinh thiết vào ống thử; kết quả âm
tính nếu chất thử không đổi màu.
- Những mẫu mô sinh thiết sau khi đọc kết quả
RUT được chuyển vào ống đựng dung dịch TE, rồi
chuyển lên Bộ môn Di truyền Y học, Trường Đại học
Y Dược Huế để lưu trữ ở -20oC và phân tích DNA.
45
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
Bước 3: Tách chiết DNA từ mẫu mô sinh thiết đã
được thực hiện RUT
- Mẫu mô sinh thiết được nghiền nhỏ trong
dung dịch TE, sau đó tách DNA bằng bộ sinh phẩm
Wizard Genomic DNA Purification (Promega), theo
protocol chuẩn.
- Dung dịch DNA sau khi tách chiết được đo nồng
độ và đánh giá độ tinh sạch bằng máy NanoDrop, rồi
lưu trữ ở -20oC cho đến khi phân tích.
Bước 4: Chẩn đoán nhiễm H. pylori bằng kỹ thuật
PCR đặc hiệu gene ureA
- Hóa chất thực hiện PCR: GoTaq Green Master-
Mix (Promega)
- Cặp mồi đặc hiệu gene ureA của H. pylori được
thiết kế bởi Vinette [10] với trình tự mồi như sau:
HpF1: 5’- GATAAGTTGATGCTCCACTACGCTG -3’
HpB25: 5’- CTCAATAGGGGTATGCACGGTTAC -3’
- Thành phần phản ứng: 12,5 µl GoTaq Green
MasterMix (Promega), 10 pmol mỗi mồi, 100 ng
DNA khuôn mẫu và nước cất cho đủ 25 µl.
- Điều kiện nhiệt độ: Biến tính ban đầu 95oC, 5
phút; 30 chu kỳ 95oC 1 phút, 62oC 1 phút, 72oC 1
phút; kéo dài cuối cùng 72oC 8 phút (Máy Applied
Biosystems 2720).
- Đọc kết quả: Sản phẩm PCR được điện di trên
gel agarose 1% có bổ sung Red view (thuốc nhuộm
DNA), hiệu điện thế 80V, 30 phút, kèm thang chuẩn
100 bp. Xem hình ảnh điện di dưới đèn cực tím.
Kích thước sản phẩm là 279 bp. Đọc kết quả chỉ
khi sản phẩm PCR xuất hiện ở mẫu chứng dương
và không có ở mẫu chứng âm. Có sản phẩm PCR:
nhiễm H. pylori, không có sản phẩm PCR: không
nhiễm H. pylori.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Đặc điểm Số Tỷ lệ %
Tuổi ( ± SD = 41,2 ± 14,1)
< 40
≥ 40
51
55
48,1
51,9
Giới
Nam
Nữ
54
52
50,9
49,1
BMI (*)
Gầy
Bình thường
Tiền béo phì
Béo phì
9
69
23
5
8,5
65,1
21,7
4,7
TỔNG 106 100
(*): BMI được phân nhóm theo tiêu chuẩn dành riêng cho người châu Á (IDI&WPRO).
Tỷ lệ các nhóm tuổi, giới tính tương đương nhau. Phần lớn các bệnh nhân có BMI bình thường.
Bảng 2. Đặc điểm bệnh lý dạ dày – tá tràng
Đặc điểm lâm sàng Số Tỷ lệ %
Bệnh lý dạ dày – tá tràng
Viêm dạ dày (n = 75)
Viêm hang-thân vị
Viêm hang vị
Viêm thân vị
Loét dạ dày – tá tràng (n = 28)
Loét dạ dày-tá tràng
Loét thân vị
Loét hang vị
Loét bờ cong nhỏ
Loét tá tràng
Khó tiêu chức năng (FD) (n = 3)
36
35
4
4
1
7
1
15
3
70,8
48,0
46,7
5,3
26,4
14,3
3,6
25,0
3,6
53,6
2,8
46
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
Tiền sử nhiễm và điều trị H. pylori
H. pylori (+), có điều trị thành công
H. pylori (-)
Không biết
38
5
63
35,8
4,7
59,4
TỔNG 106 100
Đa số các bệnh nhân thuộc nhóm viêm dạ dày. Khoảng một phần ba số bệnh nhân có tiền sử điều trị H.
pylori thành công. Hơn một nửa số bệnh nhân không biết tiền sử bệnh lý.
3.2. Kết quả chẩn đoán nhiễm H. pylori
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR chẩn đoán nhiễm H. pylori
M: thang chuẩn 100 bp; làn 17 chứng dương; làn 18 chứng âm.
Làn 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 11, 12, 13, 14: kết quả PCR âm tính.
Làn 6, 8, 10, 15, 16: kết quả PCR dương tính.
Bảng 3. So sánh độ tương đồng giữa hai phương pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori
Phương pháp chẩn đoán
RUT (%)
Dương tính Âm tính Tổng
PCR
Dương tính 57 (98,3) 5 (10,4) 62 (58,5)
Âm tính 1 (1,7) 43 (89,6) 44 (41,5)
Tổng 58 (54,7) 48 (45,3) 106 (100)
Hệ số Cohen’s Kappa: κ = 0,885 (95%CI: 0,796 – 0,974); p (McNemar test) = 0,219
Hai phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT tương đồng trong chẩn đoán nhiễm H. pylori. 10,4% ca
RUT (-) có kết quả PCR (+); và chỉ 1,7% ca RUT (+) có PCR (-).
Tỷ lệ nhiễm H. pylori được chẩn đoán bằng PCR cao hơn RUT 3,8%, tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa
thống kê (kiểm định McNemar).
3.3. Tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân dạ dày–tá tràng được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương
pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT
Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm H. pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp
Đặc điểm nhóm nghiên cứu Số ca (+) Tỷ lệ % p
Tuổi
< 40 (n = 51)
≥ 40 (n = 55)
29
28
56,9
50,9
0,538 (*)
Giới
Nam (n = 54)
Nữ (n = 52)
33
24
61,1
46,2
0,123 (*)
BMI
Gầy (n = 9)
Bình thường (n = 69)
Tiền béo phì (n = 23)
Béo phì (n = 5)
5
36
13
3
55.6
52,2
56,5
60,0
0,983 (**)
TỔNG (n = 106) 57 53,7
(*): Kiểm định Chi bình phương; (**): Kiểm định Fisher’s exact
47
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
Tỷ lệ nhiễm H. pylori được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp là 53,7%. Không có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm giữa các nhóm khi xét theo theo tuổi, giới và BMI.
Bảng 5. Mối liên quan giữa nhiễm H. pylori và bệnh lý dạ dày – tá tràng
Đặc điểm lâm sàng Số ca (+) Tỷ lệ % p (Fisher’s exact)
Bệnh lý dạ dày – tá tràng
Viêm (n = 75)
Loét (n = 28)
Khó tiêu chức năng (n =3)
35
21
1
46,7
75,0
33,3
0,015
Tiền sử nhiễm và điều trị H. pylori
H. pylori (+), có điều trị (n = 38)
H. pylori (-) (n = 5)
Không biết (n = 63)
16
1
40
42,1
20,0
63,5
0,029
TỔNG (n = 106) 57 53,7
Tỷ lệ nhiễm H. pylori cao nhất ở nhóm loét dạ dày – tá tràng và nhóm không biết về tiền sử nhiễm và điều
trị, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trên 106 bệnh
nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng được nội soi chẩn
đoán tại Trung tâm Nội soi tiêu hóa, Bệnh viện
Trường Đại học Y Dược Huế. Tuổi trung bình của
nhóm nghiên cứu là 41,2 ± 14,1, trong đó nhóm
dưới 40 tuổi chiếm 48,1%, nhóm từ 40 tuổi trở lên
chiếm 51,9%. Tỷ lệ nam và nữ trong nhóm nghiên
cứu không có sự khác biệt, lần lượt là 50,9% và
49,1%. Phần lớn các bệnh nhân có BMI ở mức bình
thường, 65,1% (Bảng 1).
Về các bệnh lý dạ dày – tá tràng, đa số trong
nhóm nghiên cứu là viêm dạ dày, với phần lớn là
viêm hang vị có hoặc không có kèm viêm thân vị,
chiếm 70,8%. Bệnh loét dạ dày – tá tràng chiếm
26,4%, trong đó hơn một nửa là loét tá tràng. Chỉ có
3 trường hợp, chiếm 2,8% là bệnh lý khó tiêu chức
năng (FD). Trong số các bệnh nhân thuộc nhóm
nghiên cứu, 35,8% có tiền sử nhiễm H. pylori và đã
được điều trị, có 4,7% đã từng nội soi chẩn đoán
bệnh dạ dày–tá tràng và xác định không nhiễm H.
pylori. Đặc biệt, có đến 59,4% bệnh nhân không biết
rõ tiền sử bệnh lý và tình trạng nhiễm H. pylori cũng
như các phác đồ điều trị (Bảng 2).
4.2. Kết quả chẩn đoán nhiễm H. pylori bằng
PCR và RUT
Kết quả điện di sản phẩm PCR đặc hiệu gene
ureA ở Hình 1 cho thấy các băng phù hợp kích thước
279 bp, không có băng sản phẩm không đặc hiệu.
Chứng dương và chứng âm đạt tiêu chuẩn.
Kết quả so sánh độ tương đồng giữa hai phương
pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori cho thấy hệ số
Cohen’s Kappa: κ = 0,885 (95%CI: 0,796–0,974).
Như vậy, hai phương pháp của nghiên cứu này có độ
tương đồng cao trong chẩn đoán nhiễm H. pylori.
Tuy nhiên, phương pháp PCR tỏ ra ưu thế hơn khi
phát hiện thêm 5 (10,4%) trường hợp nhiễm H.
pylori nhưng kết quả RUT âm tính, trong khi đó PCR
chỉ âm tính ở 1 (1,7%) trường hợp có RUT dương
tính (Bảng 3). Do đó, tỷ lệ nhiễm H. pylori được phát
hiện bằng phương pháp PCR là 58,5%, cao hơn 3,8%
so với phương pháp RUT (chỉ 54,7%). Tuy nhiên,
kiểm định McNemar cho thấy sự khác biệt này chưa
có ý nghĩa thống kê, có lẽ do cỡ mẫu khảo sát còn
nhỏ (n = 106).
Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy
sự khác biệt trong phát hiện nhiễm H. pylori giữa
hai phương pháp PCR và RUT, với ưu thế thuộc về
phương pháp PCR, như nghiên cứu của Oktem-
Okullu trên 109 bệnh nhân cho thấy PCR phát hiện
được 28 trường hợp nhiễm H. pylori âm tính với
RUT, trong khi PCR chỉ âm tính ở 6 trường hợp có
RUT dương tính, hệ số Kappa trong nghiên cứu của
tác giả là 0,34 (tương đồng yếu) [11]. Nghiên cứu
của Lage trên 104 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nhiễm
H. pylori được phát hiện bằng PCR và RUT lần lượt
là 38,5% và 34,6%, chênh lệch 3,9% tương tự như
nghiên cứu của chúng tôi [12]. Nghiên cứu của
Nevoa trên 85 mẫu cho thấy tỷ lệ phát hiện nhiễm
H. pylori của RUT chỉ 17,6%, trong khi của PCR là
83,4% [13].
Trong chẩn đoán nhiễm H. pylori bằng phương
pháp RUT, khả năng âm tính giả có thể cao vì sự sử
dụng kháng sinh, bismuth hoặc ức chế bơm proton
trước đó, đây cũng là lý do dẫn đến sự chênh lệch
cao về tỷ lệ dương tính giữa hai phương pháp chẩn
đoán trong nghiên cứu của Nevoa, tác giả đã không
loại trừ các bệnh nhân sử dụng thuốc trước đó 2-4
tuần. Ngược lại, nghiên cứu của chúng tôi đã loại
trừ những bệnh nhân dùng kháng sinh hoặc bismuth
trong vòng 4 tuần, ức chế bơm proton trong vòng 2
48
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
tuần trước khi xét nghiệm, nên những trường hợp
âm tính với RUT nhưng dương tính với PCR là do yếu
tố khác. Những nguyên nhân lý giải trong trường
hợp này là độ nhạy của RUT có thể bị ảnh hưởng
bởi số lượng và khả năng sống của vi khuẩn trong
mẫu mô sinh thiết [13]. Vì vậy, việc chẩn đoán nhiễm
H. pylori bằng phương pháp PCR có thể khắc phục
được hạn chế này của RUT.
4.3. Tỷ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân dạ dày
– tá tràng được chẩn đoán bằng kết hợp cả hai
phương pháp PCR đặc hiệu gene ureA và RUT
Kết quả ở Bảng 4 cho thấy tỷ lệ nhiễm H. pylori
khi chẩn đoán bằng kết hợp cả hai phương pháp PCR
đặc hiệu gene ureA và RUT là 53,7%. Tỷ lệ nhiễm H.
pylori này nằm trong phạm vi tỷ lệ nhiễm chung ở
các bệnh nhân dạ dày – tá tràng ở Việt Nam, 55,5–
74,6% [3]. Một nghiên cứu cắt ngang trên 270 bệnh
nhân được nội soi dạ dày – tá tràng tại các bệnh viện
thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội năm 2010 có tỷ lệ
nhiễm H. pylori là 65,6% [14].
Một khảo sát năm 2014 – 2015 tại miền Trung
trên 412 bệnh nhân viêm dạ dày mạn có tỷ lệ nhiễm
H. pylori là 59,5%, tương đương tỷ lệ nhiễm hiện
nay. Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm H. pylori ở các bệnh
nhân bệnh lý dạ dày – tá tràng tại Việt Nam hầu như
trên 50%. Thực trạng này đặt ra một gánh nặng về
y tế cũng như kinh tế trong việc điều trị tiệt trừ vi
khuẩn H. pylori. Do phác đồ điều trị H. pylori khá
phức tạp, phối hợp nhiều thuốc vừa kháng sinh vừa
ức chế bơm proton, đồng thời phác đồ này có nhiều
tác dụng phụ cho bệnh nhân như mệt mỏi, mất ngủ,
buồn nôn... nên tỷ lệ không tuân thủ phác đồ điều trị
khá cao. Ngoài ra, do tình hình sử dụng kháng sinh ở
Việt Nam khá tùy tiện làm gia tăng tỷ lệ đề kháng của
H. pylori với các kháng sinh thuộc các phác đồ điều
trị như clarithromycin, levofloxacine, tetracycline và
metronidazole [15], [16]. Đó là những lý do làm cho
tỷ lệ nhiễm H. pylori hầu như không hề giảm, mặc dù
điều kiện kinh tế của đa số bệnh nhân đủ để áp dụng
các phác đồ điều trị tiêu chuẩn.
Kết quả ở Bảng 4 còn cho thấy sự khác biệt về
tỷ lệ nhiễm H. pylori theo tuổi, giới và BMI trong
nghiên cứu này không có ý nghĩa thống kê. Hầu hết
các nghiên cứu về nhiễm H. pylori ở các vùng khác
nhau của Việt Nam đều cho thấy không có sự khác
biệt về tuổi giới trong tỷ lệ nhiễm [8]. Nghiên cứu
của Aftab tại Bangladesh trên 133 bệnh nhân dạ dày
– tá tràng cũng cho thấy không có sự khác biệt về tỷ
lệ nhiễm H. pylori giữa các nhóm tuổi và giới [17].
Trong khi đó, một nghiên cứu của Siddiqui ở Pakistan
trên 698 bệnh nhân dạ dày – tá tràng cho thấy tỷ lệ
nhiễm H. pylori nổi trội ở nhóm tuổi 31 – 50 tuổi
[18]. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Siddiqui còn
cho thấy nhóm BMI > 23,1 có tỷ lệ nhiễm H. pylori
cao hơn nhóm còn lại, với OR = 2,91 (95% CI: 2,01 –
4,20) [18]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ
nhiễm H. pylori ở nhóm gầy và bình thường là 55,6%
và 52,2%, trong khi ở nhóm tiền béo phì và béo phì
là 56,5% và 60,0%; tuy nhiên sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi còn khảo sát
mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm H. pylori và các nhóm
bệnh lý dạ dày – tá tràng, cũng như các nhóm có
và không có tiền sử điều trị H. pylori. Kết quả ở
Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ nhiễm H. pylori cao nhất ở
nhóm loét dạ dày – tá tràng, lên đến 75%; trong
khi ở nhóm viêm dạ dày tỷ lệ nhiễm là 46,7%; và
đặc biệt ở nhóm khó tiêu chức năng chỉ 33,3%; sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p = 0,015. Theo
y văn, khoảng 80% loét dạ dày và 95% loét hành tá
tràng là do nhiễm H. pylori [1], trong khi đó viêm dạ
dày và khó tiêu chức năng có thể do nhiều nguyên
nhân tiềm tàng khác ngoài yếu tố H. pylori nên tỷ lệ
nhiễm H. pylori trong nhóm loét cao hơn nhóm viêm
và khó tiêu chức năng là hoàn toàn hợp lý. Khó tiêu
chức năng là một rối loạn của dạ dày mà có thể do
nhiều nguyên nhân khác nhau, phần lớn là do yếu tố
tâm thần như stress, trầm cảm, trạng thái lo lắng;
hoặc lối sống, chế độ ăn...[19]. Vì vậy, khá nhiều
bệnh nhân rối loạn khó tiêu chức năng bị bỏ sót xét
nghiệm chẩn đoán nhiễm H. pylori. Tuy nhiên theo
Suzuki, điều trị tiệt trừ H. pylori cho bệnh nhân khó
tiêu chức năng có nhiễm vi khuẩn này đã cải thiện
triệu chứng kể, đặc biệt là ở các nước châu Á, nơi
mà tỷ lệ nhiễm vi khuẩn này khá cao, thì hiệu quả
điều trị càng gia tăng đáng kể [20].
Đối với các bệnh nhân dạ dày – tá tràng có nhiễm
H. pylori thì ý thức tuân thủ liệu trình điều trị là hết
sức quan trọng, ngoài ra cần phải có kế hoạch theo
dõi lâu dài cho bệnh nhân, đề phòng tái nhiễm cũng
như kháng trị. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
tỷ lệ tái nhiễm trong nhóm đã có tuân thủ phác đồ
điều trị là 42,1%. Điều này cho thấy yếu tố sinh hoạt
gia đình và cộng đồng đóng vai trò khá quan trọng.
Những thói quen không tốt trong ăn uống của người
Việt Nam như dùng đũa, muỗng lấy thức ăn chung,
dùng chung nước chấm thức ăn... là những yếu tố
nguy cơ cần tránh. Ngoài ra, trong nghiên cứu này
có đến 63 bệnh nhân (chiếm 59,4%) không hề biết
bản thân đã có nhiễm H. pylori và điều trị hay chưa.
Trong số này, có thể có nhiều người bị nhiễm và đã
điều trị mà không biết. Việc không có ý thức về bệnh
tình của bản thân cho thấy nhóm này có thể có tỷ lệ
khá cao không tuân thủ phác đồ điều trị. Đây cũng
là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tỷ lệ đề
kháng kháng sinh của H. pylori. Vì vậy, tỷ lệ nhiễm H.
49
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 10, số 2, tháng 4/2020
pylori hiện nay tăng cao ở nhóm bệnh nhân không
biết tiền sử nhiễm và điều trị H. pylori là điều hợp lý.
Tỷ lệ nhiễm ở nhóm này lên đến 63,5%, cao hơn so
với nhóm có điều trị mà tái nhiễm (42,1%) và nhóm
tiền sử âm tính nhưng nay dương tính (20%), với sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê, p = 0,029.
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu trên 106 bệnh nhân bệnh lý dạ
dày – tá tràng được chẩn đoán bằng nội soi, chúng
tôi rút ra một số kết luận như sau:
5.1. Chẩn đoán nhiễm H. pylori bằng phương
pháp PCR đặc hiệu gene ureA thực hiện từ mẫu mô
sinh thiết có tỷ lệ tương đồng cao với xét nghiệm
nhanh urease (RUT), tuy nhiên phương pháp chẩn
đoán bằng PCR có thể giúp phát hiện nhiều trường
hợp bị bỏ sót khi chẩn đoán đơn thuần bằng RUT.
5.2. Tỷ lệ nhiễm H. pylori ở các bệnh nhân dạ dày
– tá tràng còn khá cao, đặc biệt ở nhóm bệnh loét dạ
dày – tá tràng, và nhóm không biết về tiền sử nhiễm
và điều trị H. pylori của bản thân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Patel SK, Pratap CB, Jain AK, Gulati AK, Nath G,
(2014), Diagnosis of Helicobacter pylori: What should be
the gold standard?. World J Gastroenterol, 20(36), 12847–
12859.
2. IARC Helicobacter pylori Working Group, (2014),
Helicobacter pylori eradication as a strategy for preventing
gastric cancer. International Agency for Research on
Cancer 150 cours Albert Thomas Lyon Cedex 08, France.
Lyon, France, 1–59.
3. Ha TMT, Le TNU, Nguyen VN, Tran VH, (2019),
Association of TP53 gene codon 72 polymorphism with
Helicobacter pylori-positive non-cardia gastric cancer in
Vietnam. J Infect Dev Ctries, 13(11), 984–991.
4. Megraud F, (1997), How should Helicobacter pylori
infection be diagnosed?. Gastroenterology, 113(6 SUPPL.).
5. Lerang F, Moum B, Mowinckel P, Haug JB,
Ragnhildstveit E, Berge T, Bjørneklett A, (1998), Accuracy
of seven different tests for the diagnosis of Helicobacter
pylori infection and the impact of H2-receptor antagonists
on test results. Scand J Gastroenterol, 33(4), 364–369.
6. Khalifehgholi M, Shamsipour F, Ajhdarkosh H,
Daryani NE, Reza Pourmand M, Hosseini M, Ghasemi A,
Hasan Shirazi M, (2013), Comparison of five diagnostic
methods for Helicobacter pylori. Iran J Microbiol, 5(4),
396–401.
7. Wahab H, Khan T, Ahmad I, Jan A, (2015), Detection
of H . pylori by PCR method using ureA and ureC gene
in gastric biopsy sample Detection of H . pylori By PCR
Method using UreA and UreC Gene in Gastric Biopsy
Sample. J Pure Appl Microbiol ·, 9(January), 50–55.
8. Hà TMT, Trần VH, (2017), Chẩn đoán nhiễm
Helicobacter pylori bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain
reaction) ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn. Tạp Chí Nội Khoa,
4, 274–282.
9. Cirak MY, Yilmaz D, Turet S, Ozdek A, Bayiz U,
Samim E, (2003), Detection of Helicobacter pylori and Its
CagA Gene in Tonsil and Adenoid Tissues by PCR. Arch
Otolaryngol - Head Neck Surg, 129(11), 1225–1229.
10. Vinette KMB, Gibney KM, Proujansky R, Fawcett
PT, (2004), Comparison of PCR and clinical laboratory tests
for diagnosing H. pylori infection in pediatric patients.
BMC Microbiol, 4, 1–7.
11. Oktem-Okullu S, Tiftikçi A, Saruc M, Cicek B,
Vardareli E, Tozun N, Kocagöz T, Sezerman U, Yavuz A-S,
Sayi-Yazgan A, (2017), A Multiplex - UreasePCR Assay
for Detection of Helicobacter pylori Infection Directly
from Gastric Biopsy Specimens and Comparison of
Multiplex - Urease PCR Results with Rapid Urease Test and
Histopathology. Clin Microbiol, 6(2), 3–6.
12. Lage AP, Godfroid E, Fauconnier A, Burette A,
Butzler JP, Bollen A, Glupczynski Y, (1995), Diagnosis of
Helicobacter pylori infection by PCR: Comparison with
other invasive techniques and detection of cagA gene in
gastric biopsy specimens. J Clin Microbiol, 33(10), 2752–
2756.
13. Nevoa R, Menezes G, Lopes A, Hemelly F, Morelli
M, Barbosa M, (2017), Molecular technique for detection
and identification of Helicobacter pylori in clinical
specimens : a comparison with the classical diagnostic
method. J Bras Patol e Med Lab, 53(February), 13–19.
14. Nguyen T., Uchida T, Tsukamoto Y, Trinh DT, Ta L,
Mai BH, Le SH, Thai KD, Ho DD, Hoang HH, Matsuhisa T,
Okimoto T, Kodama M, Murakami K, Fujioka T, Yamaoka
Y, Moriyama M, (2010), Helicobacter pylori infection and
gastroduodenal diseases in Vietnam: A cross-sectional,
hospital-based study. BMC Gastroenterol, 10, no
pagination.
15. Phan TN, Santona A, Tran VH, Tran TNH, Le VA,
Cappuccinelli P, Rubino S, Paglietti B, (2015), High rate of
levofloxacin resistance in a background of clarithromycin-
and metronidazole-resistant Helicobacter pylori in
Vietnam. Int J Antimicrob Agents, 45(3), 244–248.
16. Tran VH, Ha TMT, Le PTQ, Phan TN, Tran TNH,
(2019), Characterisation of point mutations in domain
V of the 23S rRNA gene of clinical Helicobacter pylori
strains and clarithromycin-resistant phenotype in central
Vietnam. J Glob Antimicrob Resist, 16, 87–91.
17. Aftab H, Yamaoka Y, Ahmed F, Khan AKA,
Subsomwong P, Miftahussurur M, Uchida T, Malaty HM,
(2018), Validation of diagnostic tests and epidemiology of
Helicobacter pylori infection in Bangladesh. J Infect Dev
Ctries, 12(5), 305–312.
18. Siddiqui B, Yakoob J, Abbas Z, Azmat R, Fatima
SS, Awan S, (2018), Distribution of Helicobacter pylori
infection and abnormal body-mass index (BMI) in a
developing country. J Infect Dev Ctries, 12(5), 342–346.
19. Madisch A, Andresen V, Enck P, Labenz J, Frieling
T, Schemann M, (2018), The diagnosis and treatment of
functional dyspepsia. Dtsch Arztebl Int, 115(13), 222–232.
20. Suzuki H, Moayyedi P, (2013), Helicobacter pylori
infection in functional dyspepsia. Nat Rev Gastroenterol
Hepatol, 10(3), 168–174.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_chan_doan_nhiem_helicobacter_pylori_bang_ky_thuat.pdf