Xác định hàm lượng este của các axit béo
không no chủ yếu trong dầu cá
Mục tiêu của việc xác định hàm lượng các
axit béo không no trong mỡ cá là để đánh giá tính
khả thi của việc tách các este của các axit béo
này làm thực phẩm chức năng, tạo giá trị gia tăng
cao cho mỡ cá. Việc xác định hàm lượng của các
axit béo không no trong mỡ cá tra dựa vào đường
chuẩn của các chất este chuẩn tương ứng. Quy
trình xác định được mô tả chi tiết trong phần thực
nghiệm mục 2.6. Kết quả xác định được mô tả
trên Bảng 3.Kết quả trên Bảng 3 cho thấy, hàm lượng các
axit Omega-3 trong dầu cá là quá ít; tỷ lệ khối
lượng giữa Omega-3/Omega-6,-9 quá bé, không
đáp ứng tỷ lệ quy định để làm thực phẩm chức
năng. Tuy nhiên, trong mỡ cá axit béo no chủ yếu
là axit stearic (~36%), có nhiệt độ nóng chảy cao,
có thể tách loại để thu phần mỡ còn lại làm làm
dầu ăn.
4. Kết luận
1) Đã chế tạo được etyl biodiesel từ mỡ cá
tra bằng phương pháp mới sử dụng FAEE làm
đồng dung môi. Nhờ khả năng hòa tan cả mỡ cá
và etanol của FAEE, phản ứng chuyển đổi este
xảy ra trong môi trường đồng thể, thời gian phản
ứng ngắn, độ chuyển hóa cao (99%), ít chất thải;
Các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của etyl
biodiesel đáp ứng tiêu chuẩn nhiên liệu ASTM
D6751.
2) Đã xác định điểm sương (CP) và điểm
đông đặc (PP) của etyl biodiesel, tương ứng là
240C và 140C. Để sử dụng làm nhiên liệu động
cơ trong thời tiết lạnh, có thể tách loại bớt este
của các axit béo no, như axit palmitic, stearic.
(~39%) bằng phương pháp kết tinh phân đoạn.
3) Đã xác định hàm lượng etyl este của các
axit béo không no. Kết quả cho thấy hàm lượng
este của axit oleic rất cao (~36%), còn hàm lượng
este của các axit Omega-3,-6,-9 rất ít, không đảm
bảo tỷ lệ giữa Omega-3/Omega-6,-9 để làm thực
phẩm chức năng.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu chế tạo etyl biodiesel từ mỡ cá tra bằng phương pháp mới, sử dụng đồng dung môi etyl biodiesel, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98
90
Original Article
Production of Ethyl Biodiesel from Catfish Oil by New
Method Using Ethyl Biodiesel as Co-Solvent
Nguyen Thị Son, Hoang Luong Nghia, Pham Van Quang, Luu Van Boi
VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Received 07 October 2020
Revised 04 November 2020; Accepted 04 November 2020
Abstract: In this study, ethyl biodiesel (FAEE) from catfish oil was produced by a new method
using FAEE as co-solvent. The study results show that due to the short reaction time with very high
conversion (> 99%) and there was no need to remove the FAEE co-solvent, the cost of the product
was reduced by about 30%. FAEE, a multipurpose product, can be used as an engine fuel itself and
its ester-rich fraction of omega-3, -6, -9 acids can also be extracted to produce high added value
supplements.
Keywords: Catfish oil, Ethanol, Ethyl carboxylate, ethyl biodiesel, Omega-3,-6,-9 acid esters, co-
solvent, co-solvent method.
________
Corresponding author.
Email address: sonhuco@yahoo.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5137
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 91
Nghiên cứu chế tạo etyl biodiesel từ mỡ cá tra bằng phương
pháp mới, sử dụng đồng dung môi etyl biodiesel
Nguyễn Thị Sơn, Hoàng Lường Nghĩa, Phạm Văn Quang, Lưu Văn Bôi
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 07 tháng 10 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 04 tháng 11 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 11 năm 2020
Tóm tắt: Hàng năm, từ phế thải của quá trình chế biến cá tra ở đồng bằng sông Mekong (ĐBSMK)
chiết xuất ra khoảng 150.000 tấn dầu cá, trong đó 50% được tinh luyện thành dầu ăn, phần còn lại
dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hoặc dầu diesel sinh học. Thức ăn chăn nuôi giá
rất rẻ, hiệu quả kinh tế thấp. Dầu diesel sinh học đang được sản xuất theo phương pháp truyền thống,
tiêu tốn nhiều thời gian và năng lượng, dẫn đến giá thành cao. Hơn nữa, nếu chỉ sản xuất một sản
phẩm từ dầu cá thì trong tình hình giá dầu đang giảm mạnh như hiện nay, biodiesel không thể cạnh
tranh được với diesel dầu mỏ. Trong nghiên cứu này, dầu diesel sinh học chứa gốc etyl (FAEE) từ
mỡ cá tra được sản xuất theo phương pháp mới, sử dụng FAEE làm đồng dung môi. Kết quả cho
thấy do thời gian phản ứng ngắn với độ chuyển hóa rất cao (> 99%) và không cần cất loại đồng dung
môi FAEE nên giá thành sản phẩm giảm khoảng 30%. FAEE là sản phẩm đa ứng dụng, có thể dùng
làm nhiên liệu động cơ và phân đoạn giàu este của các axit omega-3, -6, -9 có thể được tách ra để
sản xuất thực phẩm chức năng có giá trị gia tăng cao.
Từ khóa: Mỡ cá tra, Etanol, Etyl cacboxylate, Etyl biodiesel, Este axit omega-3,-6,-9, Đồng dung
môi, Phương pháp đồng dung môi.
1. Mở đầu
1.2. Phương pháp
Mỗi năm, các doanh nghiệp và nông dân
ĐBSMK sản xuất được khoảng 1,5 triệu tấn cá
tra. Quá trình chế biến cá phát sinh khoảng
800.000 tấn phụ phẩm, gồm đầu, da, xương,
mỡ,... Từ số phụ phẩm này đã trích ly được
khoảng 150.000 tấn dầu cá. Khoảng 50% số mỡ
cá này được tinh luyện làm dầu ăn, số còn lại
được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn
gia súc hoặc biodiesel [1]. Thức ăn gia súc có giá
thành rẻ, hiệu quả kinh tế thấp. Sản xuất
biodiesel để thay thế một phần nhiên liệu hóa
thạch, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường
là hướng phát triển tốt. Tuy nhiên, hiện tại
biodiesel đang đối mặt với hai thử thách. Một là,
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: sonhuco@yahoo.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5137
sản xuất bằng công nghệ truyền thống [2,3] tốn
nhiều thời gian và năng lượng dẫn đến chi phí
cao. Hai là, trong tình hình giá dầu mỏ giảm sâu,
nếu chỉ sản xuất 1 loại sản phẩm, thì biodiesel rất
khó cạnh tranh. Trong khi đó dầu cá tra là loại
nguyên liệu quý, thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều nhà khoa học, nhằm sản xuất các sản
phẩm có giá trị gia tăng cao [4]. Theo kết quả
phân tích của các tác giả [5] trong dầu cá tra,
ngoài các axit béo no, chủ yếu là axit palmitic và
stearic chiếm khoảng 39%; còn có nhiều axit béo
không no một nối đôi (omega-9) ~ 37%; axit
không no 2 nối đôi (omega-6) ~ 19% và các axit
chứa 3 nối đôi (omega-3) trở lên ~ 4-5%.
Trong công trình này đã nghiên cứu chế tạo
este etyl cacboxylat (còn gọi là etyl biodiesel
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 92
hoặc FAEE) từ mỡ cá tra và rượu etanol bằng
phương pháp mới, sử dụng chính sản phẩm phản
ứng là FAEE làm đồng dung môi, nhằm 2 mục
tiêu. Một là, nâng cao hiệu suất etyl biodiesel.
Hai là, xác định hàm lượng các este của các axit
béo không no, để đánh giá khả năng tách các axit
omega-3,-6,-9 làm thực phẩm chức năng trong
tương lai.
2. Thực nghiệm
2.1. Hóa chất:
- Etyl oleate; Etyl linoleate; Etyl linolenate;
Etyl cis-5,8,11,14,17-Eicosapentaenoate và Etyl
cis-4,7,10,13,16,19-Docosahexaenoate
- Chất nội chuẩn n-hexadecane ( IS) của hãng
Sigma.
- Axeton, metanol, etanol, diclometan,
axetonitril: hóa chất tinh khiết của hãng Merck;
Mỡ cá tra được mua từ An Giang.
- Metanol, etanol, axeton, axetonitril kỹ
thuật, khan (99,5%) của Hàn Quốc, và Malaysia
2.2. Thiết bị:
- Máy đo hàm lượng nước Karl-Fishe MKC-
501 của hãng KEM, Nhật Bản.
- Dung dịch chuẩn độ NaOH 0,01N, Việt
Nam, được kiểm tra lại trước khi dùng bằng
chuẩn độ với dung dịch chuẩn axit oxalic.
Phenolphtalein: Chất chuẩn của Sigma.
- Cân phân tích độ chính xác 0,0001 (Presica,
Thụy Sỹ), cân kỹ thuật độ chính xác 0,01g
(Presica, Thụy Sỹ).
a) Xác định hàm lượng nước:
Hàm lượng nước trong mỡ cá được xác định
trên máy Karl Fisher, dựa trên sự mất màu của
iod trong phản ứng với SO2 theo phản ứng:
I2 + SO2 + 2H2O ↔ 2HI + H2SO4
Cách tiến hành: Bật công tắc khởi động máy
Karl Fisher và chờ đến khi máy hoạt động ổn
định. Dùng micropipet hút 20l mẫu, cân và ghi
lại khối lượng m1. Bơm mẫu vào máy, cân và ghi
lại khối lượng micropipet m2. Sau khi phản ứng
kết thúc, nhập khối lượng m1 và m2 vào máy, kết
quả hàm lượng nước được hiển thị trên màn hình.
Kết quả cho thấy, hàm lượng nước trong mẫu
là 241ppm, tốt hơn giới hạn cho phép để tổng
hợp etyl cacboxylat (etyl biodiesel) theo phương
pháp chuyển đổi este.
b) Xác định hàm lượng axit béo tự do:
Hàm lượng axit béo tự do (FFA) của mỡ cá
được xác định bằng phương pháp chuẩn độ axit-
bazơ.
Cách tiến hành: cân 1g mỡ cá cho vào bình
nón 250ml. Hòa tan mẫu bằng 50ml axeton khan
đã được đun nóng và chuẩn độ bằng dung dịch
NaOH 0,01N với chỉ thị phenolphtalein đến khi
dung dịch chuyển từ không màu sang màu hồng
nhạt bền trong 30 giây
Hàm lượng FFA được tính theo công thức:
FFA(%) =
𝐶(𝑁𝑎𝑂𝐻).𝑉(𝑁𝑎𝑂𝐻).𝑀(𝐹𝐹𝐴).100
1000
Trong đó: M (FFA) là trung bình cộng khối
lượng phân tử của các axit béo tự do có trong dầu
mỡ động thực vật, với dầu cá tra thì M = 285. V
(NaOH) là thể tích dung dịch NaOH tiêu tốn để
chuẩn độ. C (NaOH) là nồng độ dung dịch NaOH
(0,01N).
Kết quả tính toán hàm lượng axit béo tự do
trong mỡ cá tra được thể hiện ở Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả xác định hàm lượng FFA trong mỡ
cá tra
TT
Khối lượng
mẫu (gam)
Thể tích NaOH
(ml)
Hàm lượng
FFA (%)
1 1,0138 9,53 2,68
2 1,0015 9,35 2,66
3 0,9991 9,36 2,67
Từ kết quả trên cho thấy, mỡ cá tra chứa
2,67% FFA, đạt yêu cầu để tổng hợp este
cacboxylat (etyl biodiesel) bằng phương pháp
một giai đoạn - chuyển đổi este với xúc tác KOH.
2.4. Chế tạo etyl biodiesel từ mỡ cá tra bằng
phương pháp đồng dung môi
a) Quy trình chung chế tạo FAEE từ mỡ cá tra:
Cho hỗn hợp 50g mỡ cá đã được hòa tan
trong đồng dung môi FAEE vào bình cầu 3 cổ
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 93
250ml có lắp sinh hàn hồi lưu. Sau đó cho tiếp
vào bình phản ứng lượng xúc tác KOH đã hòa
tan trong etanol. Khuấy và đun hồi lưu cách thủy
hỗn hợp phản ứng trong thời gian nhất định trên
bếp khuấy từ. Trong thời gian phản ứng, 5 phút
1 lần, dùng xilanh có kim tiêm lấy mẫu qua nút
teflon cho vào ống nghiệm đựng dung dịch axit
photphoric 2%. Lắc đều, hút lớp dầu ở trên, làm
khô bằng natri sunphat khan. Kiểm tra độ chuyển
hóa este trên máy UFLC với chất nội chuẩn là n-
hexadecane. Khi kết thúc phản ứng, cất loại
etanol dư. Để nguội, rót hỗn hợp phản ứng vào
phễu chiết, tách lớp glycerin ở dưới; rửa phần
biodiesel thô còn lại 3 lần bằng dung dịch axit
photphoric 2% hâm nóng 40-500C, mỗi lần 50
ml. Rửa lại 2 lần bằng nước sạch. Làm khô
FAEE bằng natri sunphat khan, lọc lấy sản
phẩm. Hiệu suất đạt 82%.
Chất lượng (hàm lượng nước và FFA được
kiểm tra bằng các phương pháp mô tả trong mục
2.3a,b. Độ chuyển hóa etyl biodiesel được kiểm
tra trên máy UFLC (xem Hình 1 phần kết quả và
thảo luận).
b) Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên hiệu
suất của FAEE:
Phản ứng chuyển đổi este được thực hiện
như quy trình chung (a). Những yếu tố được
khảo sát gồm: Tỷ lệ mol của mỡ/etanol; hàm
lượng % của xúc tác KOH (so với khối lượng
(KL) mỡ cá); hàm lượng % đồng dung môi
FAEE (so với KL mỡ cá); nhiệt độ và thời gian
phản ứng. Kết quả khảo sát được đưa ra trong
Bảng 2 (xem phần kết quả và thảo luận).
2.5. Xác định điểm sương và điểm đông đặc của
FAEE
Điểm sương (CP) và điểm đông đặc (PP) của
etyl biodiesel được xác định theo phương pháp
tiêu chuẩn ASTM D97: Mẫu 30 g FAEE được
cho vào bình nón, lắc đều và đun nóng đến 400C,
để nguội đến 30oC, rót vào ống nghiệm đặc
chủng. Điểm sương và điểm đông đặc của FAEE
được xác định trên máy KLA-3 của hãng Kohler,
Hoa kỳ.
Kết quả đo điểm sương của FAEE là 24oC và
điểm đông đặc là 14oC.
2.6. Xác định hàm lượng các axit béo không no
chủ yếu trong mỡ cá
Các este không no trong mỡ cá cần xác định:
Etyl oleate (omega-9); Etyl linoleate (omega-6);
Etyl linolenate (Omega-3); Etyl cis-
5,8,11,14,17-Eicosapentaenoate (EPA) và Etyl
cis-4,7,10,13,16,19-Docosahexaenoate (DHA).
2.6.1. Xây dựng đường chuẩn các mẫu
FAEE cần xác định
Đường chuẩn được xây dựng trên cơ sở các
chất chuẩn Etyl oleate; Etyl linoleate; Etyl linolenate;
Etyl cis-5,8,11,14,17-Eicosapentaenoate và Etyl
cis-4,7,10,13,16,19-Docosahexaenoate
a) Điều kiện chạy sắc ký GC:
- Dung môi: CH2Cl2;
- Buồng bơm: Nhiệt độ đầu bơm 260oC;
- Tỉ lệ chia dòng: 10:1;
- Khí mang: Ni-tơ (N2 ), tốc độ dòng khí
20cm3/giây;
- Thể tích bơm mẫu:1µl;
- Mẫu: hỗn hợp 37 FAME trong dung môi
CH2Cl2;
- Cột: cột mao quản SP-2560 (100m
×0,25mm×0,25µm);
- Lò: Nhiệt độ ban đầu là 60oC, giữ 3 phút,
tăng 150C/phút lên 150oC, giữ 1 phút, tăng
2,5oC/phút lên 200oC, giữ 2 phút, tăng 5oC/phút
lên 240oC, giữ 15 phút. Tổng là 55 phút.
- Detector: FID, nhiệt độ 260oC, tốc độ khí
H2: 40mL/phút, tốc độ không khí là 400mL/phút.
b) Nồng độ các chất chuẩn FAEE dùng để
xây dựng đường chuẩn
- Nồng độ 200-400-600 ppm
- Nồng độ 100-200-300 ppm
- Nồng độ 40-80-120ppm
- Nồng độ 10-20-30 ppm
2.6.2. Xác định hàm lượng 5 FAEE không no
chủ yếu trong mỡ cá:
Cân một lượng 250mg cho vào bình định
mức 10ml, thêm dung môi diclometan cho tới
vạch. Lấy 20μl bơm vào cột GC.
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 94
Đối với các FAEE có hàm lượng lớn thì pha
loãng dung dịch ban đầu 10 lần rồi tiến hành
chạy sắc kí.
Sau khi thu được sắc kí đồ, dựa vào thời gian
lưu để định danh FAEE cụ thể. Căn cứ đường
chuẩn nồng độ, hàm lượng các FAEE trong dung
dịch (Ci) được tính toán bằng công thức:
%FAEEi =
𝐶𝑖×10×𝐹𝑝𝑙×100
𝑀
Trong đó:
- % FAEEi là hàm lượng tính theo phần trăm
của etyl este thứ i.
- Ci là nồng độ của este thứ i trong dung dịch
mẫu.
- Fpl là 10 đối với các FAEE có hàm lượng
lớn (C18:1; C18:2) với các FAEE còn lại thì
Fpl=1.
- M là khối lượng biodiesel dùng pha mẫu.
Kết quả xác định hàm lượng 5 FAEE chế tạo
từ mỡ cá tra được đưa ra trong Bảng 3 (xem phần
kết quả và thảo luận).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Nghiên cứu chế tạo etyl biodiesel (FAEE)
Biodiesel (BDF) là hỗn hợp các este của các
axit béo được tạo thành từ phản ứng chuyển đổi
este giữa triglycerid (TG) trong dầu mỡ động
thực vật với các rượu khối lượng phân tử thấp.
Cho đến nay, metanol là rượu được dùng nhiều
nhất để sản xuất biodiesel. Một mặt, do giá thành
metanol tương đối thấp. Mặt khác, do metanol có
một số ưu điểm về kỹ thuật, như mạch cabon
ngắn, độ phân cực lớn, nên khả năng phản ứng
cao; tạo nhũ tương với glycerin và biodiesel
không bền, nên dễ tách và làm sạch [7]. Tuy
nhiên, metanol có những nhược điểm quan trọng.
Trước hết là độc tính cao; tiếp theo, gọi metyl
biodiesel là nhiên liệu tái tạo đang gây tranh cãi,
vì hiện nay metanol được sản xuất chủ yếu từ khí
dầu mỏ.
Trong khi đó etanol được sản xuất từ các
nguyên liệu nguồn gốc thực vật, do đó etyl
biodiesel đúng nghĩa là nhiên liệu tái tạo. So với
metanol, etanol ít độc hơn, nhiệt năng cao hơn,
nhiệt độ kết tinh thấp hơn, tính chất lưu biến tốt
hơn; tính ổn định oxy hóa, tính bôi trơn, khả năng
phân hủy sinh học và đặc tính khí thải đều tốt
hơn [8-11]. Tuy nhiên, sản xuất biodiesel từ
etanol với xúc tác KOH có 2 nhược điểm đáng
chú ý. Thứ nhất, mạch cacbon dài hơn metanol,
nên khả năng phản ứng kém hơn. Thứ hai, so với
metanol, etanol tạo nhũ tương bền hơn với
glycerin và biodiesel, nên việc tách và làm sạch
sản phẩm khó khăn hơn [9,10]. Gần đây, vì tầm
quan trọng của sự phát triển bền vững nhiên liệu
tái tạo, rất nhiều nhà khoa học thuộc lĩnh vực đã
rất quan tâm đến etyl biodiesel. Rất nhiều giải
pháp công nghệ đã được đề xuất nhằm cải thiện
quá trình tách etyl biodiesel sau phản ứng [12-
16]. Do đó, nghiên cứu phương pháp mới chế tạo
etyl biodiesel sử dụng FAEE làm đồng dung môi
của các tác giả công trình này, nhằm nâng cao
hiệu suất, hướng đến đa dạng hóa sản phẩm từ
etyl biodiesel có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
cần thiết.
Như đã biết, hiện nay, biodiesel được sản
xuất chủ yếu theo phương pháp truyền thống,
trên cơ sở phản ứng giữa triglycerid trong dầu
mỡ động thực vật với các ancol phân tử lượng
thấp, có mặt xúc tác. Vì dầu mỡ nguyên liệu ít
tan trong ancol, nên phản ứng chỉ xảy ra trên bề
mặt pha, do đó phải đun khuấy mạnh; thời gian
phản ứng dài; tiêu tốn nhiều năng lượng; độ
chuyển hóa thấp; chất thải nhiều, tách sản phẩm
khó khăn, dẫn đến giá thành sản phẩm cao.
Phương pháp đồng dung môi là sử dụng một chất
lỏng hữu cơ, trong nghiên cứu này là FAEE (sản
phẩm etyl biodiesel của phản ứng) có khả năng
hòa tan tốt cả mỡ cá và etanol, làm cho phản ứng
được xảy ra trong môi trường đồng thể, tốc độ
phản ứng cao, thời gian phản ứng ngắn, độ
chuyển hóa rất cao, chất thải ít, tách sản phẩm
nhanh. Để tìm được điều kiện thích hợp cho phản
ứng chuyển đổi este của mỡ cá tra bằng etanol
với xúc tác KOH, đã tiến hành nghiên cứu ảnh
hưởng của tỷ lệ mol mỡ/etanol, hàm lượng xúc
tác (% khối lượng mỡ cá), hàm lượng đồng dung
môi FAEE (% khối lượng mỡ cá), thời gian và
nhiệt độ, lên hiệu suất etyl biodiesel.
Quá trình khảo sát được thực hiện như mục
2.4a và 2.4b của phần thực nghiệm. Kết quả được
đưa ra trong Bảng 2.
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 95
Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ mol mỡ/EtOH, %
KOH, % đồng dung môi FAEE, nhiệt độ
và thời gian phản ứng lên hiệu suất FAEE
TT
Mỡ cá/
EtOH,
mol/
mol
KOH,
% KL
mỡ cá
Dung
môi
FAEE,
% KL
mỡ cá
Thời
gian,
phút
Nhiệt
độ,
oC
η
FAEE,
%
1 1/3 1,2 25 90 70 56
2 ¼ 1,2 25 90 70 60
3 1/6 1.2 25 90 70 64
4 1/8 1.2 25 90 70 82
5 1/10 1.2 25 90 70 83
6 1/8 0.5 25 90 70 45
7 1/8 1.0 25 90 70 70
8 1/8 1.2 25 90 70 82
9 1/8 1.5 25 90 70 80
10 1/8 1.2 10 90 70 60
11 1/8 1.2 15 90 70 70
12 1/8 1.2 20 90 70 83
13 1/8 1.2 30 90 70 80
14 1/8 1.2 20 80 70 81
15 1/8 1.2 20 70 70 80
16 1/8 1.2 20 60 70 78
17 1/8 1.2 20 90 78 82
18 1/8 1.2 20 90 60 72
19 1/8 1.2 20 90 50 64
Dựa vào kết quả thu được trên Bảng 2, có thể
thấy điều kiện thích hợp nhất để phản ứng giữa
mỡ cá tra với etanol có mặt xúc tác KOH là: tỷ
lệ mol mỡ cá/etanol -1/8; hàm lượng KOH -
1,2% (KL mỡ cá); hàm lượng đồng dung môi
FAEE - 20% (KL mỡ cá); nhiệt độ - 70oC và thời
gian - 90 phút. Ở những điều kiện ấy, hiệu suất
FAEE đạt 83% (sau khi trừ lượng FAEE đồng
dung môi).
Chất lượng sản phẩm etyl biodiesel của phản
ứng đã được kiểm tra bằng các phương pháp mô
tả trong phần thực nghiệm. Độ chuyển hóa este
được xác định bằng sắc ký lỏng siêu nhanh
(UFLC) với chất nội chuẩn là n-hexadecane. Kết
quả thể hiện trên sắc ký đồ Hình 1b. Để so sánh,
đã ghi sắc ký đồ của dầu cá nguyên liệu, thể hiện
trên Hình 1a. Trên sắc ký đồ 1a, pic nội chuẩn
xuất hiện với thời gian lưu ở 16,796 phút. Phía
trái pic nội chuẩn là tín hiệu của axit béo tự do
còn bên phải là tín hiệu của triglyceritd trong mỡ
cá. Trên Hình 1b, Pic nội chuẩn xuất hiện với
thời gian lưu ở 16,781 phút và có diện tích là
181133. Các etyl este ra trước pic nội chuẩn
(phía trái) có tổng diện tích là 4.096.428. Các
thành phần chưa chuyển hóa mono-, di-,
triglycerid, ra sau (phía phải) chất nội chuẩn có
tín hiệu rất nhỏ, không tính toán được.
(a)
(b)
Hình 1. Sắc ký đồ UFLC của mỡ cá nguyên liệu (a)
và etyl biodiesel sau phản ứng (b).
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 96
Kết quả phân tích bằng UFLC cho thấy mức
độ chuyển đổi este là rất cao (99%); hàm lượng
mono, di-, triglyxerit chỉ là dạng vết.
Bằng phương pháp Karl –Fisher mô tả ở mục
2.3a (phần thực nghiệm) đã xác định được hàm
lượng nước trong FAEE là 560 ppm. Trong điều
kiện độ ẩm cao, thì hàm lượng nước như vậy là
đáp ứng được yêu cầu làm nhiên liệu. Bằng
phương pháp chuẩn độ, như mô tả trong mục
2.3b (phần thực nghiệm) đã xác định được hàm
lượng FFA trong FAEE < 0,05%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, phản ứng
chuyển đổi este mỡ cá bằng etanol với xúc tác
KOH rất nhạy cảm với vết nước. Khi sử dụng
rượu etanol công nghiệp (96%), hầu như không
thu được sản phẩm. Thay rượu 96% bằng rượu
98% cũng không tách được etyl biodiesel do hỗn
hợp tạo huyền phù bền. Khi dùng rượu etanol
tuyệt đối (99.5%), việc tách sản phẩm trở nên
bình thường.
Cũng cần nhận thấy rằng, phương pháp chế
tạo etyl biodiesel sử dụng FAEE làm đồng dung
môi có độ chuyển hóa este rất cao (99%), nhưng
hiệu suất lại cho đạt > 80%. Lý do là vì độ nhớt
của etyl biodiesel cao, bị dính bình lọ và chất làm
khô trong quá trình xử lý.
3.2. Xác định điểm sương và điểm đông đặc của
FAEE
Điểm sương (Cloud Point -CP) và điểm đông
đặc (Pour Point -PP) là hai chỉ số liên quan đến
độ nhớt, và do đó là độ lưu biến của etyl biodiesel
khi thời tiết lạnh. Hai chỉ số này quan trong đối
với khả năng đáp ứng tiêu chuẩn EN 14214 của
nhiên liệu. Xác định điểm CP và PP để nếu
chúng quá cao thì phải tím cách tách bớt phân
đoạn giàu este của các axit béo no (palmitic,
stearic..) trước khi sử dụng.
Điểm sương (CP) là nhiệt độ mà ở đó bắt đầu
xuất hiện kết tủa các tinh thể biodiesel. Điểm
đông đặc (PP) là nhiệt độ mà ở đó biodiesel kết
tinh hoàn toàn thành dạng rắn. Điểm sương và
điểm đông đặc là một trong những tiêu chí để
đánh giá chất lượng của biodiesel. Những loại
biodiesel có điểm sương và điểm đông đặc thấp
thì sẽ có chất lượng cao, phù hợp để sử dụng làm
nhiên liệu cho động cơ, nhất là ở những nước có
khí hậu lạnh. Ngược lại, những loại biodiesel có
điểm sương và điểm đông đặc cao, sẽ dễ dàng bị
kết tinh ở nhiệt độ thường, gây khó khăn cho việc
phun nhiên liệu vào động cơ và làm tắc ống dẫn
nhiên liệu. Những loại biodiesel như thế sẽ
không phù hợp làm nhiên liệu, hoặc phải pha
trộn với các loại biodiesel có CP và PP thấp hơn,
hoặc phải tách bớt este của các axit béo no (axit
palmitic, stearic...) để giảm độ nhớt, nhờ đó hạ
thấp điểm sương và điểm đông đặc.
Điểm sương và điểm đông đặc của biodiesel
được xác định theo phương pháp được mô tả ở
mục 2.5 (phần thực nghiệm). Kết quả cho thấy,
điểm sương của FAEE là 24oC và điểm đông đặc
là 14oC.
3.3. Xác định hàm lượng este của các axit béo
không no chủ yếu trong dầu cá
Mục tiêu của việc xác định hàm lượng các
axit béo không no trong mỡ cá là để đánh giá tính
khả thi của việc tách các este của các axit béo
này làm thực phẩm chức năng, tạo giá trị gia tăng
cao cho mỡ cá. Việc xác định hàm lượng của các
axit béo không no trong mỡ cá tra dựa vào đường
chuẩn của các chất este chuẩn tương ứng. Quy
trình xác định được mô tả chi tiết trong phần thực
nghiệm mục 2.6. Kết quả xác định được mô tả
trên Bảng 3.
Bảng 3. Hàm lượng các este của các axit béo
không no chủ yếu trong mỡ cá
STT CTPT
Tên este cần xác
định hàm lượng
Hàm
lượng
%
Omega-3
1 C18:3n3 Etyl linolenate 1,57
2 C20:5n3
Etyl cis-5,8,11,14,17
-Eicosapentaenoate 1,00
3 C22:6n3
Etyl cis-4,7,10,13,16,
19-Docosahexaenoate 0,65
Omega-6
4 C18:2n6c Etyl Linoleate 17,48
Omega-9
25 C18:1n9c Etyl Cis-9-oleate 36,06
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 97
Kết quả trên Bảng 3 cho thấy, hàm lượng các
axit Omega-3 trong dầu cá là quá ít; tỷ lệ khối
lượng giữa Omega-3/Omega-6,-9 quá bé, không
đáp ứng tỷ lệ quy định để làm thực phẩm chức
năng. Tuy nhiên, trong mỡ cá axit béo no chủ yếu
là axit stearic (~36%), có nhiệt độ nóng chảy cao,
có thể tách loại để thu phần mỡ còn lại làm làm
dầu ăn.
4. Kết luận
1) Đã chế tạo được etyl biodiesel từ mỡ cá
tra bằng phương pháp mới sử dụng FAEE làm
đồng dung môi. Nhờ khả năng hòa tan cả mỡ cá
và etanol của FAEE, phản ứng chuyển đổi este
xảy ra trong môi trường đồng thể, thời gian phản
ứng ngắn, độ chuyển hóa cao (99%), ít chất thải;
Các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của etyl
biodiesel đáp ứng tiêu chuẩn nhiên liệu ASTM
D6751.
2) Đã xác định điểm sương (CP) và điểm
đông đặc (PP) của etyl biodiesel, tương ứng là
240C và 140C. Để sử dụng làm nhiên liệu động
cơ trong thời tiết lạnh, có thể tách loại bớt este
của các axit béo no, như axit palmitic, stearic...
(~39%) bằng phương pháp kết tinh phân đoạn.
3) Đã xác định hàm lượng etyl este của các
axit béo không no. Kết quả cho thấy hàm lượng
este của axit oleic rất cao (~36%), còn hàm lượng
este của các axit Omega-3,-6,-9 rất ít, không đảm
bảo tỷ lệ giữa Omega-3/Omega-6,-9 để làm thực
phẩm chức năng.
Lời cảm ơn
Công trình này là sản phẩm của đề tài
10/2017/HĐ-KHCN-TNB.ĐT/14-19/C22, thuộc
Chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền
vững vùng Tây Nam Bộ, được tài trợ bởi Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tập thể tác
giả chân thành cảm ơn.
Tài liệu tham khảo
[1] N.H. Thanh, NT.T. Nguyen, N.T.P. Thoa,
Sonochemicals synthesis of biodiesel from catfist
oil, Journal of Science and Technology
Development 12 (3)(2009) 51-61 (in Vietnamese).
[2] R. Yahyaee, B. Ghobadian, G. Najafi, Waste fish
oil biodiesel as a source of renewable fuel in Iran,
Renewable and Sustainable Energy, Reviews 17
(2013) 312-319. https://doi.org/- 10.1016/j.rser.
2012.09.025.
[3] Y. Mulugetta, Evaluating the economics of
biodiesel in Africa, Renewable and Sustainable
Energy Reviews 13 (2009) 1592–1598. https://
doi.org/10.1016/j.rser.2008.09.011.
[4] S. Sathivel, W. Prinyawiwatkul, J.M. King, C.C.
Grimm, and S. Steven Lloyd, Oil Production from
Catfish Viscera, AOCS 80 (4) (2003) 337-338.
https://doi.org/-10.1007/s- 11746-003-0707-z.
[5] V.T.V. Dung, N.X. Trung, L.D. Phuong, L.V. Boi,
Analysis of FFA in catfish oil used in biodiesel
production, Journal of Chemistry 48 (4C) (2010)
522-528 (in Vietnamese).
[6] B. Abderrahim, M. Mercedes, A. Jose, A
comparative study of the production of ethyl esters
from vegetable oils as a biodiesel fuel
optimization by factorial design, Chemical
Engineering Journal 134 (2007) 93–99. https://
doi.org/10.1016/j.cej.2007.03.077.
[7] F. Sundus, M.A. Fazel, H.H. Masjuki, Tribology
with biodiesel: a study on enhancing biodiesel
stability and its fuel properties, Renew and
Sustain. Energy Rev. 70 (2017) 399–412. https://
doi.org/10.1016/j.rser.2016.11.217.
[8] W. Chen, Y. Wang, M. Ding, S. Shi, Z. Yang,
Crystallization behaviors and rheological
properties of biodiesel derived from methanol and
ethanol, Fuel 207 (2017) 503–50. https://doi.org/
10.1016/j.fuel.2017.06.121.
[9] P. Verma, M.P. Sharma, G. Dwivedi, Impact of
alcohol on biodiesel production and properties,
Renew and Sustain. Energy Rev. 56 (2016) 319–
333. https://doi.org/10.1016/j.rser.2015.11.048.
[10] M. Cernoch, F. Skopal, M. Hajek, Separation of
reaction mixture after ethanolysis of rapeseed oil,
Eur. J. Lipid Sci. Technol. 111 (2009) 663–668.
https://doi.org/-10.1002/ejlt.- 200800255.
[11] S.S. Ragit, S.K. Mohapatra, K. Kundu, R.
Karmakan, Methanolysis and ethanolysis of raw
hemp oil: biodiesel production and fuel
characterization, Int. J. Eng. Res. Technol. 2
(2013) 1–10. Corpus ID: 137693125.
[12] A. Bouaid, M. Martinez, J.A. Aracil, Comparative
study of the production of ethyl esters from
vegetable oils as a biodiesel fuel optimization by
N.T. Son et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 90-98 98
factorial design, Chem. Eng. J. 134 (2007) 93–99.
https://doi.org/10.1016/j.cej.2007.03.077.
[13] R. Nikhom, C. Tongurai, Production development
of ethyl ester biodiesel from palm oil using a
continuous deglycerolisation process, Fuel 117
(2014) 926–931. https://doi.org/10.1016/j.fuel.
2013.10.018.
[14] G.M. Hincapie, S. Valange, J. Barrault, J.A.
Moreno, D.P. Lopez, Effect of microwave-
assisted system on transesterification of castor oil
with ethanol, Univ. Sci. 19 (2014) 193–200. http://
dx.doi.org/10.11144/Javeriana.SC19-3.emas
[15] R.R. Nasaruddin, M.Z. Alam, M.S. Jami, A.
Salihu, Statistical optimization of ethanol-based
biodiesel production from sludge palm oil using
locally produced candida cylindracea lipase,
Waste Biomass Valor. 7 (2016) 87–95. https://doi.
org/10.1007/s-12649-015-9424-x.
[16] M. Cernoch, M. Hajek, F. Skopal, Study of effects
of some reaction conditions on ethanolysis of
rapeseed oil with dispergation, Bioresour.
Technol. 101 (2010) 1213–1219. https://doi.org/
10.1016/j.biortech.2009.09.033.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_che_tao_etyl_biodiesel_tu_mo_ca_tra_bang_phuong_p.pdf