Đánh giá khả năng tận dụng để chế biến trà từ
các bộ phận của cây măng tây
Từ những kết quả phân tích ở trên cho thấy:
- Ngọn non của cây măng tây chứa hàm lượng
cao các chất chiết trong nước (32,19%), polyphenol
(0,9%), và chứa hàm lượng thấp chất xơ (11,53%).
Hơn nữa trà làm từ ngọn cây măng tây có chất lượng
cảm quan rất tốt với tổng điểm thử nếm lên đến 18,2.
- Gốc của cây măng non cho trà có hàm lượng
chất hoà tan cao (27,13%) và hàm lượng polyphenol
tương đối cao (0,6 g/100 g Dw), hàm lượng chất xơ
thô thấp (24,4%), chất lượng cảm quan tương đối
tốt (tổng điểm thử nếm là 18,4). Hơn nữa đây là bộ
phận bị loại bỏ mỗi khi thu hoạch măng tây, có thể
cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến
trà. Do vậy đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho
sản xuất trà măng tây.
- Cành lá của cây măng tây cũng có thể tận dụng
để sản xuất trà vì nó có chứa hàm lượng polyphenol
cao (0,9 g/100 g Dw), chất lượng cảm quan tốt (16
điểm). Tuy nhiên hàm lượng chất hoà tan thấp
(16,4%). Do vậy nếu sử dụng cành lá của cây măng
tây làm trà cần phối trộn với các nguyên liệu khác
như cỏ ngọt, nấm linh chi. để nâng cao giá trị dinh
dưỡng của trà.
- Thân già và rễ của cây măng tây không thích
hợp để sản xuất trà vì có hàm lượng chất xơ thô
cao (41,82 % và 38,05%), chất lượng cảm quan kém
(11 điểm và 6,8 điểm).
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu chọn lựa nguyên liệu thích hợp cho chế biến trà túi lọc măng tây, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
78
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019
NGHIÊN CỨU CHỌN LỰA NGUYÊN LIỆU THÍCH HỢP
CHO CHẾ BIẾN TRÀ TÚI LỌC MĂNG TÂY
Trần Thị Thắm Hà1, Phùng Quang Vinh2, Phan Thanh Bình1,
Phạm Văn Thao1, Võ Thị Thuỳ Dung1, Trương Minh Hằng1
TÓM TẮT
Măng tây (Asparagus officinalis L.) được trồng chủ yếu để lấy ngọn sử dụng như một loại rau giàu giá trị dinh
dưỡng. Những bộ phận khác của cây măng tây như rễ, thân, cành lá và gốc măng thường bị loại bỏ. Trong nghiên
cứu này, năm bộ phận khác nhau của cây măng tây gồm: ngọn, gốc, cành lá, thân già và rễ, được phân tích về mặt hoá
học và cảm quan nhằm đánh giá khả năng tận dụng chúng trong việc chế biến trà túi lọc măng tây. Kết quả phân tích
cho thấy ngọn và gốc của cây măng có thể sử dụng để chế biến trà vì chúng cho trà có hàm lượng chất hòa tan cao
(ngọn: 32,19%; gốc: 27,13%), đồng thời chúng còn chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khác như: polyphenol
(ngọn: 0,9; gốc: 0,68 g/100g Dw), carbohydrate (ngọn: 11,67; gốc: 12,58 g/100g Dw). Đặc biệt, chất lượng cảm quan
của trà được chế biến từ phần ngọn và gốc măng rất tốt với tổng số điểm trên 18. Tuy nhiên, rễ và thân già của cây
măng tây không phù hợp cho sử dụng để chế biến trà vì chúng có giá trị dinh dưỡng thấp, hàm lượng chất xơ cao
(lên đến 41,82% đối với thân già) và chất lượng cảm quan thấp với tổng số điểm chỉ ở 6 đối với rễ măng và 11 đối
với phần thân già của cây măng tây.
Từ khoá: Măng tây, carbohydrate, polyphenol, chất hoà tan, trà túi lọc
1 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
2 Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Đăk Lăk
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây măng tây có tên khoa học là Asparagus
oficinalist, thuộc họ Asparagaceae, là một loại cây
trồng để thu hoạch lấy chồi non làm rau thực phẩm
cao cấp. Chồi non của cây măng tây có giá trị dinh
dưỡng cao, gồm 83% nước và 17% chất khô; trong đó
có 2,2% đạm protein, 1,2% đường glucid, 0,6% chất
xơ celluloze và 21% các chất khoáng như Mg, K, Ca,
Zn (Sở Khoa học và Công nghệ Ninh thuận, 2016).
Đặc biệt, măng tây còn chứa hàm lượng cao các hợp
chất chống oxi hoá như: flavonoid, axit ascorbic,
glutathione và các hợp chất polyphenol (Chen et al.,
2017). Do đó, việc sử dụng măng tây có tác dụng tích
cực đến sức khoẻ như chống lão hoá, chống béo phì,
bảo vệ tim mạch, ngăn ngừa ung thư, tăng cường
sinh lực và hỗ trợ hệ tiêu hoá (Sun et al., 2007).
Hiện nay, cây măng tây được trồng chủ yếu để lấy
ngọn sử dụng như một loại rau xanh, những phần
khác như gốc măng già (phần thân cứng nằm bên
dưới các chồi non), rễ, thân già và cành lá của cây
măng tây thường bị vứt bỏ. Do vậy, việc nghiên cứu
tận dụng những bộ phận bỏ đi này của cây măng sau
khi thu hoạch để chế biến trà túi lọc là cần thiết và có
ý nghĩa thực tiễn cao, nhằm nâng cao giá trị sử dụng
của cây măng tây cũng như làm tăng lợi nhuận cho
người trồng măng tây. Bài viết này giới thiệu kết quả
đánh giá, chọn lọc loại nguyên liệu thích hợp cho
chế biến trà túi lọc từ những bộ phận khác nhau của
cây măng tây.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Măng tây xanh (Asparagus officinalis L.) được
trồng tại tỉnh Đắk Lắk. Ngọn và các bộ phận không
ăn được của cây măng tây (rễ, cành lá, thân cây và
gốc măng) được thu hoạch vào buổi sáng sớm và
được vận chuyển ngay đến phòng thí nghiệm Sinh
hoá và Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi
nghiệm thức tương ứng với các bộ phận khác nhau
của cây măng tây gồm: ngọn măng (phần non ăn
được của cây măng), gốc măng (phần đế bên dưới
ngọn măng), cành lá, thân cây già và rễ của cây măng
tây. Sau khi thu hoạch, các bộ phận của cây măng
tây được rửa sạch, để ráo, cắt thành khúc 1cm, sấy
ở nhiệt độ 55oC cho đến độ ẩm dưới 12%, sau đó
đem đi sao ở 80oC trong 2 phút. Mỗi nghiệm thức sử
dụng 1000 g mẫu.
2.2.2. Các chỉ tiêu theo dõi
Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, theo dõi
các chỉ tiêu sau:
- Xác định hàm lượng chất chiết trong nước theo
TCVN 5610:2007.
- Định lượng polyphenol tổng số theo phương
pháp Folin - Ciocalteu.
79
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019
- Định lượng chất xơ thô theo Sổ tay phân tích
đất, nước, phân bón, cây trồng (Viện Thổ nhưỡng
Nông hóa, 1998).
- Định lượng carbohydrate bằng phương pháp
Anthrone.
2.2.3. Đánh giá chất lượng cảm quan theo TCVN
3218:2012
Chất lượng cảm quan của mỗi sản phẩm trà sẽ
được đánh giá bằng điểm số dựa trên cảm nhận của
các chuyên gia về ngoại hình, màu sắc nước pha,
mùi và vị của trà. Điểm trung bình của mỗi chỉ tiêu
là trung bình cộng của các uỷ viên trong hội đồng
với sai số không quá 1,5. Điểm tổng số của mỗi sản
phẩm là tổng điểm của từng chỉ tiêu nhân với hệ số
quan trọng tương ứng cho từng chỉ tiêu đó. Đối với
sản phẩm trà, mùi và vị quan trọng hơn so với màu
sắc nên hệ số quan trọng sẽ như biểu hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu đánh giá
Tên chỉ tiêu Hệ số quan trọng
Ngoại hình 1
Màu sắc nước trà 0,6
Mùi 1,2
Vị 1,2
Dựa vào điểm tổng số để đánh giá xếp hạng chất
lượng của mỗi sản phẩm trà. Hạng tốt có tổng điểm
từ 18,2 đến 20. Hạng khá có tổng điểm từ 15,2 đến
18,1. Hạng trung bình có tổng điểm từ 11,2 đến 15,1.
Hạng kém có tổng điểm từ 7,2 đến 11,1. Hỏng có
tổng số điểm dưới 7,1.
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, kết quả thí
nghiệm được trình bày ở dạng giá trị trung bình
(Trung bình ± SD). Xử lý thống kê bằng phần mềm
Minitab 2018.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 đến tháng
9 năm 2018 tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm
nghiệp Tây Nguyên.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả phân tích hoá học và sinh hoá của các
bộ phận khác nhau của cây măng tây
3.1.1. Hàm lượng chất hòa tan (SSC: soluble solids
content) và hàm lượng chất xơ thô
Đối với trà măng tây nói riêng và các loại trà
nói chung, những hợp chất hoà tan trong nước
thường bao gồm: các hợp chất polyphenol, alkloid,
các amino axit, gluxit, vitamin và các chất khoáng
(Jayawardhane et al., 2016). Đây là những hợp chất
có giá trị dinh dưỡng cao. Do vậy hàm lượng chất hòa
tan trong dịch chiết cao sẽ cho trà có chất lượng tốt.
Bảng 2. Hàm lượng chất hoà tan và chất xơ thô
có trong trà làm từ các bộ phận khác nhau
của cây măng tây
STT Tên nghiệm thức
Hàm lượng
chất hòa tan
(%)*
Hàm lượng
chất xơ thô
(%)*
1 Ngọn măng tây 32,19 ± 0,08a 11,53 ± 0,04a
2 Gốc măng tây 27,13 ± 0,04b 24,4 ± 0,03b
3 Rễ măng tây 16,92 ± 0,22b 38,05 ± 0,1d
4 Cành lá măng tây 16,4 ± 0,06c 32,05 ± 0,1c
5 Thân già măng tây 14,25 ± 0,08d 41,82 ± 0,06e
Ghi chú: (*) Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột
chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Theo kết quả phân tích trong bảng số 2, ngọn
măng tây cho trà có hàm lượng chất hoà tan cao
nhất (32,19%), tiếp đến là gốc măng tây (27,13%),
trong khi đó thân già của cây măng tây cho trà có
hàm lượng chất hoà tan thấp nhất (14,25 %). Bảng 2
cũng thể hiện hàm lượng chất xơ thô trong trà làm
từ các bộ phận khác nhau của cây măng tây. Chất
xơ thô trong trà chủ yếu là cellulose, hemicellulose
và lignin, không hoà tan được trong nước, do vậy
chất xơ thô không đóng góp vào giá trị dinh dưỡng
của trà. Khi hàm lượng chất xơ thô trong trà tăng sẽ
làm giảm nghiêm trọng chất lượng của trà (Fermuz
et al., 1993). Kết quả phân tích hàm lượng chất xơ
thô trong bảng số 2 cho thấy: Ngọn măng tây có
hàm lượng chất xơ thấp nhất (11,53%), tiếp đến là
gốc măng tây (24,4%) và cành lá măng tây (32,05%).
Rễ và thân già của cây măng tây có hàm lượng chất
xơ thô rất cao (lên đến 41,82%). Kết quả phân tích
này rất phù hợp với lý thuyết của Aroyeun (2013):
khi cây càng già thì hàm lượng chất xơ thô càng cao.
Kết quả này cũng giải thích được nguyên nhân làm
cho hàm lượng chất hòa tan trong dịch chiết là nước
của phần thân già và rễ măng tây thấp.
3.1.2. Hàm lượng Polyphenol tổng số và carbohydrate
Măng tây có chứa một hàm lượng tương đối các
hợp chất polyphenol, đây là một trong những hợp
chất có hoạt tính sinh học cao như: kháng viêm,
kháng nấm, chống oxi hoá. Do vậy nó có vai trò quan
trọng trong việc phòng trừ các bệnh về tim mạch,
thần kinh và ung thư. Bên cạnh đó, polyphenol còn
được coi là một thành phần quan trọng để đánh giá
chất lượng của trà (Ignat et al., 2010).
80
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019
Bảng 3. Hàm lượng polyphenol tổng số và carbohydrate
trong các bộ phận khác nhau của cây măng tây
STT Tên nghiệm thức
Hàm lượng
polyphenol
tổng số
(g/100g Dw)*
Hàm lượng
carbohydrate
(g/100g Dw)*
1 Ngọn măng tây 0,9 ± 0,08a 11,67 ± 0,33c
2 Gốc măng tây 0,68 ± 0,02b 12,58 ± 0,3b
3 Rễ măng tây 0,34 ± 0,02d 29,19 ± 0,24a
4 Cành lá măng tây 0,93 ± 0,02a 1,55 ± 0,01e
5 Thân già măng tây 0,51 ± 0,02c 8,39 ± 0,17d
Ghi chú: (*) Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột
chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Kết quả phân tích trong bảng 3 cho thấy, cành lá
măng tây và ngọn măng tây có hàm lượng polyphenol
tổng số cao nhất (tương ứng với 0,93 và 0,9 g/100 g Dw).
Phần thân già và rễ măng tây có hàm lượng
polyphenol tổng số thấp nhất (tương ứng 0,51 và
0,34 g/100 g Dw). Kết quả hàm lượng polyphenol
tổng số trong ngọn và gốc của cây măng tây trong
nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu khác
trong nước và quốc tế như: nghiên cứu của Nguyễn
Thị Mỹ Trang (2015) thuộc Đại học Nha Trang và
nghiên cứu của Chen và cộng tác viên (2017).
Carbohydrate bao gồm các loại đường đơn
(glucose, fructose,...) và đường đa (maltose, tinh
bột...), đây là nguồn cung cấp năng lượng chính cho
cơ thể. Trong chế biến trà, đường bị caramen trong
quá trình sao sẽ tạo ra màu, hương thơm và vị cho
trà. Do đó, carbohydrate là một trong những tiêu
chí quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
sản phẩm.
Kết quả phân tích trong bảng 3 cho thấy: Rễ có hàm
lượng carbohydrate lớn nhất chiếm 29,19 g/100g. Vì
rễ là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây nên hàm
lượng đường tích luỹ trong rễ thường cao (Wilson
et al., 2008). Cành lá và thân già của cây măng tây
chứa hàm lượng carbohydrate thấp nhất. Ngọn măng
tây và gốc măng tây chứa hàm lượng carbohydrate
tương đối (11,67 và 12,58 g/100 g).
3.2. Kết quả phân tích chất lượng cảm quan của
các bộ phận khác nhau của cây măng tây
Màu sắc: Màu sắc là một trong những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng cảm quan của sản
phẩm trà. Trên thị trường hiện nay các sản phẩm
trà khô thường có màu từ xanh nhạt, vàng xanh đến
xanh đen. Các bộ phận khác nhau của cây măng tây
sau khi qua qui trình chế biến trà (gồm: làm sạch,
cắt khúc, chần, sấy, sao) sẽ cho ra sản phẩm có màu
sắc khác nhau đặc trưng cho màu sắc tự nhiên của
từng bộ phận.
Hình 1. Trà khô từ các bộ phận khác nhau của cây măng tây
Hình 1 mô tả màu sắc của trà được chế biến từ
các bộ phận khác nhau của cây măng tây. Trà làm từ
ngọn non và cành lá của cây măng tây có màu xanh
rất đẹp mắt, trong khi đó phần gốc của cây măng tây
cho trà có màu trắng ngà. Trà làm từ rễ cây măng
tây có màu nâu đất kém hấp dẫn và không đặc trưng
cho màu sắc của trà. Màu sắc của trà khô ảnh hưởng
quyết định đến màu sắc của nước pha. Ngọn măng,
gốc măng và thân già cây măng tây cho nước pha
có màu vàng nhạt đẹp mắt, cành lá cho nước pha
có màu xanh lá cây trong khi đó rễ cho nước pha có
màu nâu nhạt không hấp dẫn.
Kết quả đánh giá cảm quan cho thấy trà làm từ
gốc, ngọn và cành lá của cây măng tây có tổng số
điểm thử nếm cao (tương ứng với 18,4; 18,5 và 16
điểm), màu sắc nước pha hấp dẫn, có mùi và vị đặc
trưng của măng tây. Trong khi đó, nước pha của trà
làm từ thân già và rễ của cây măng tây có màu sắc
kém, không có mùi và vị đặc trưng của măng tây.
81
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(98)/2019
Bảng 4. Kết quả đánh giá cảm quan các mẫu trà từ các bộ phận của cây măng tây
Tên công
thức Ngoại hình
Màu sắc nước
pha Mùi Vị
Tổng
điểm
Xếp
hạng
Ngọn
măng non
Đồng đều, màu
xanh hấp dẫn
Màu vàng
nhạt hấp dẫn
Rõ mùi đặc trưng
của măng tây
Ngọt dịu, vị măng
tây đậm 18,2 Khá
Gốc măng
tây
Kích thước đồng
đều, tương đối hấp
dẫn
Màu vàng
nhạt hấp dẫn
Rõ mùi đặc trưng
của măng tây
Vị ngọt dịu, có vị
măng tây vừa phải
dễ chịu
18,4 Tốt
Rễ măng
tây
Ngoại hình kém
hấp dẫn, màu sắc
không đặc trưng
cho sản phẩm trà
Màu nâu
nhạt, hơi vẫn
đục
Không có mùi đặc
trưng của măng
tây, lộ rõ mùi lạ
(mùi đất)
Vị nhạt thếch, không
có vị đặc trưng của
măng tây
6,8 Hỏng
Cành lá
măng tây
Ngoại hình tương
đối hấp dẫn, màu
sắc đẹp
Màu xanh lá
hấp dẫn
Mùi đặc trưng của
măng tây nhẹ, có
mùi lạ
Vị ngọt dịu, vị đặc
trưng của măng tây
nhẹ, chấp nhận được
16 Khá
Thân già
măng tây
Ngoại hình kém
hấp dẫn
Màu vàng
nhạt
Không có mùi đặc
trưng của măng tây Vị nước pha nhạt 11
Trung
bình
3.3. Đánh giá khả năng tận dụng để chế biến trà từ
các bộ phận của cây măng tây
Từ những kết quả phân tích ở trên cho thấy:
- Ngọn non của cây măng tây chứa hàm lượng
cao các chất chiết trong nước (32,19%), polyphenol
(0,9%), và chứa hàm lượng thấp chất xơ (11,53%).
Hơn nữa trà làm từ ngọn cây măng tây có chất lượng
cảm quan rất tốt với tổng điểm thử nếm lên đến 18,2.
- Gốc của cây măng non cho trà có hàm lượng
chất hoà tan cao (27,13%) và hàm lượng polyphenol
tương đối cao (0,6 g/100 g Dw), hàm lượng chất xơ
thô thấp (24,4%), chất lượng cảm quan tương đối
tốt (tổng điểm thử nếm là 18,4). Hơn nữa đây là bộ
phận bị loại bỏ mỗi khi thu hoạch măng tây, có thể
cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến
trà. Do vậy đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho
sản xuất trà măng tây.
- Cành lá của cây măng tây cũng có thể tận dụng
để sản xuất trà vì nó có chứa hàm lượng polyphenol
cao (0,9 g/100 g Dw), chất lượng cảm quan tốt (16
điểm). Tuy nhiên hàm lượng chất hoà tan thấp
(16,4%). Do vậy nếu sử dụng cành lá của cây măng
tây làm trà cần phối trộn với các nguyên liệu khác
như cỏ ngọt, nấm linh chi... để nâng cao giá trị dinh
dưỡng của trà.
- Thân già và rễ của cây măng tây không thích
hợp để sản xuất trà vì có hàm lượng chất xơ thô
cao (41,82 % và 38,05%), chất lượng cảm quan kém
(11 điểm và 6,8 điểm).
IV. KẾT LUẬN
- Ngọn măng, gốc măng và cành lá của cây măng
tây có thể được sử dụng để chế biến trà vì cho chất
lượng cảm quan và dinh dưỡng tương đối tốt.
- Thân già và rễ của cây măng tây không thích
hợp để sản xuất trà vì có hàm lượng chất xơ thô cao,
chất lượng cảm quan kém.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007. Tiêu chuẩn Quốc gia
TCVN 5610:2007 về Chè - xác định hàm lượng chất
chiết trong nước.
Bộ Khoa học và Công nghệ, 2012. Tiêu chuẩn Quốc gia
TCVN 3218:2012 về Chè - xác định các chỉ tiêu cảm
quan bằng phương pháp cho điểm.
Sở Khoa học và Công nghệ Ninh Thuận, 2016. Tổng
quan về Măng tây xanh; truy cập ngày 20 tháng 10
năm 2018. Địa chỉ:
chinhquyen/sokhcn/Pages/Tong-quan-ve-Mang-
tay-xanh.aspx.
Nguyễn Thị Mỹ Trang, Vũ Ngọc Bội và Đặng Xuân
Cường, 2015. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu
tố công nghệ đến chất lượng của trà túi lọc măng
tây. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, 02.
Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, 1998. Sổ tay phân tích
đất, nước, phân bón, cây trồng. NXB Nông nghiệp.
Hà Nội.
Aroyeun, S. O., 2013. Crude fibre, water extracts, total
ash, caffeine and moisture contents as diagnostic
factors in evaluating green tea quality. Italian Journal
of Food Science, 25(1): 70-75.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_chon_lua_nguyen_lieu_thich_hop_cho_che_bien_tra_t.pdf