Kết quả bảng 3 cho thấy, ở mỗi công thức bổ
sung NAA ở các nồng độ đều cho tỷ lệ mẫu
tạo rễ là 100%, số chồi/mẫu dao động từ 1 - 2
chồi. Tỷ lệ số rễ/mẫu ở các môi trường đều có
sự khác nhau rõ rệt. Trong đó, công thức môi
trường NAA 0,6 mg/l cho tỷ lệ số rễ/mẫu cao
nhất: sau 3 tuần là 3,61; sau 5 tuần là 5,12;
sau 7 tuần là 5,74. Rễ có hình thái phát triển
bình thường, mảnh, các rễ nhiều tơ, nhiều
nhánh rễ. Các tiêu chí hình thái chồi như: lá
màu xanh đậm, đường kính lá lớn và cây sinh
trưởng tốt hơn so với các môi trường có nồng
độ NAA thấp và cao hơn. Số lượng rễ và
chiều dài rễ có sự khác biệt nhất định giữa các
công thức. Hàm lượng NAA phù hợp sẽ kích
thích sự phân chia tế bào của mô phân sinh
thượng tầng để hình thành rễ mới. Nhưng
nồng độ NAA thấp thì thời gian phát sinh rễ
kéo dài, số lượng rễ phát sinh ít hơn và chiều
dài hạn chế. Với nồng độ quá cao có thể ức
chế phát sinh rễ, ảnh hưởng đến hình thái chồi
như: đốt thân dài, còi cọc, lá nhỏ, màu xanh
nhạt. Trong khi kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Thị Tình và cộng sự cho thấy nồng độ IAA 1,5
mg là tối ưu cho số rễ/ mẫu đạt 2,6 sau 5 tuần
nuôi cấy [10].
Như vậy, cây Bình vôi vàng in vitro sinh
trưởng và phát triển tốt trên môi trường MS
cơ bản có bổ sung NAA 0,6 mg/l + agar 8 g/l
+ sucrose 30 g/l + nước dừa 100 ml/l + BAP
2,0 mg/l, pH =5,8.
4. Kết luận
Công thức khử trùng mẫu cây Bình vôi vàng
là đoạn thân non chứa chồi ngủ (dài 1,5 – 2
cm) được rửa sạch và ngâm trong dung dịch
xà phòng loãng 30 phút, rửa sạch bằng nước
cất khử trùng và lắc trong dung dịch HgCl2
0,1% trong 5 phút, sau 3 -5 lần rửa bằng nước
cất khử trùng, mẫu được cấy trên môi trường
MS có tỷ lệ mẫu sạch sống sót là 93,33%.
Môi trường MS cơ bản bổ sung nước dừa 100
ml/l + BAP 2,0 mg/l có số chồi/mẫu đạt 6,05;
chiều cao chồi đạt 0,87 cm sau 7 tuần nuôi
cấy. Môi trường MS cơ bản bổ sung nước dừa
100 ml/l + BAP 2,0 mg/l + NAA 0,6 mg/l phù
hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây
Bình vôi vàng hoàn chỉnh, số rễ/mẫu đạt 5,71,
chiều dài rễ đạt 4,08 cm sau 7 tuần nuôi cấy.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu công thức khử trùng mẫu và môi trường nuôi cấy in vitro cây bình vôi vàng (stephania spp), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 239
NGHIÊN CỨU CÔNG THỨC KHỬ TRÙNG MẪU VÀ MÔI TRƯỜNG NUÔI
CẤY IN VITRO CÂY BÌNH VÔI VÀNG (Stephania spp.)
Tangmany SYSOMEPHONE 1, Ngô Diễm Quỳnh2,
PHANTHAHAK Santhana2, Nongkhan MANISOK2, Phạm Thị Thanh Nhàn2*
1Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục - Bộ Giáo dục và Thể thao, Lào,
2Trường Đại học Sư pham - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Cây Bình vôi (Stephania spp.) được sử dụng phổ biến trong y học. Củ Bình vôi chứa một lượng
alkaloid như L - tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. Những hợp chất
này được sử dụng để điều chế thuốc an thần, điều hòa hoạt động tim và hô hấp, tăng khả năng
miễn dịch, ức chế tế bào ung thư, trực khuẩn lao, quá trình sao chép của HIV. Bài báo này trình
bày kết quả nghiên cứu khử trùng mẫu và môi trường tạo đa chồi in vitro của cây Bình vôi vàng.
Công thức khử trùng mẫu cây là đoạn thân non chứa chồi ngủ (dài 1,5 – 2 cm) được rửa sạch và
ngâm trong dung dịch xà phòng loãng 30 phút, rửa sạch bằng nước cất khử trùng và lắc trong dung
dịch HgCl2 0,1% trong 5 phút, sau 3 -5 lần rửa bằng nước cất khử trùng, mẫu được cấy trên môi
trường MS có tỷ lệ mẫu sạch sống sót là 93,33%. Môi trường MS cơ bản bổ sung sucrose 30 g/l+
agar 8 g/l+ nước dừa 100 ml/l + BAP 2,0 mg/l có số chồi/mẫu đạt 6,05; chiều cao chồi đạt 0,87 cm
sau 7 tuần nuôi cấy. Môi trường MS cơ bản bổ sung sucrose 30 g/l+ agar 8 g/l+ nước dừa 100 ml/l
+ BAP 2,0 mg/l + NAA 0,6 mg/l phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây Bình vôi vàng
hoàn chỉnh, số rễ/mẫu đạt 5,71, chiều dài rễ đạt 4,08 cm sau 7 tuần nuôi cấy.
Từ khóa: BAP; NAA; Stephania spp; tạo chồi; tạo rễ.
Ngày nhận bài: 21/02/2020; Ngày hoàn thiện: 15/6/2020; Ngày đăng: 10/7/2020
STUDY ON STERILIZING PLANT MATERIALS AND THE IN VITRO
CULTURE MEDIUM OF Stephania spp. WITH YELLOW TUBERS
Tangmany SYSOMEPHONE 1, Ngo Diem Quynh2,
PHANTHAHAK Santhana2, MANISOK Nongkhan2, Pham Thi Thanh Nhan2*
1Research Institute for Educational Sciences - Ministry of Education and Sports, Laos,
2TNU - University of Education
ABSTRACT
Stephania spp. are well- known for the popular medical plants. Their tubers contain a number of
alkaloids such as L - tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. These
compounds are commonly used to produce drugs of tranquilizer, regulation cardiac and respiratory
activities, increase immunity, inhibition the growth of cancer cells, tubercle bacilli and process of
HIV replication. This paper presents the results of sterilizing plant materials and the in vitro
medium for multi- shoot formation of Stephania spp. with yellow tubers. The suitably sterilizing
protocol is to wash trunk segments (1.5 - 2 cm in length) by tap-water. After soaking samples in
the weak soapy solution for 30 minutes, they were shaken in HgCl2 0.1% for 5 minutes and
washed by sterilized water from 3 to 5 times. Samples were cultured in the MS medium with the
survival rate of 93.33%. The optimum medium formula for rapid shoot organogenesis from
segments of the trunk is the basal MS medium supplemented with sucrose 3%, agar 0.8%, coconut
100 ml. L-1 water and BAP 2.0 mg. L-1 with 6.05 shoots/sample, 0.87cm of the mean shoot height
after 7 weeks of culture. The MS medium supplemented with sucrose 3%, agar 0.8%, coconut
water 100 ml. L-1 + BAP 2.0 mg. L-1 + NAA 0.6 mg. L-1 suitable for the growth and development
of a complete in vitro plants, the number of roots/ samples reached 5.71, root length reached 4.08
cm after 7 weeks of culture.
Keywords: BAP; NAA; Stephania spp; shoot formation; root formation.
Received: 21/02/2020; Revised: 15/6/2020; Published: 10/7/2020
* Corresponding author. Email: ptnhanbio@tnue.edu.vn
Tangmany SYSOMEPHONE và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 240
1. Đặt vấn đề
Cây Bình vôi có nhiều loài khác nhau, tên
khoa học chung là Stephania spp., thuộc họ
Tiết dê (Menispermaceae), được sử dụng phổ
biến trong y học ở trong nước và trên thế giới.
Củ Bình vôi chứa một lượng alkaloid
stepharin, L - tetrahydropalmatin (rotundin),
roemerin, cycleanin. Những hợp chất này
được sử dụng để điều chế các loại thuốc, đặc
biệt thuốc an thần [1]. Hàm lượng alkaloid
cũng như rotudin thay đổi tùy loài và vùng
thu hái [2]. Việc xác định các hợp chất hóa
học đã được thực hiện ở các đối tượng S.
tetrandra S. Moore, S. cepharantha Hayata,
S. glabra (Roxb.) Miers, S. japonica
(Thunb.), Miers and S. venosa (Blume)
Spreng và hơn 70 alkaloid được báo cáo.
Theo Bùi Thị Bằng (2006), hàm lượng
rotundin đạt tới 3,55% ở loài S.brachyandra
Diels (thu ở Hoàng Liên Sơn), 1,31% ở loài
S.sinica Diels (thu ở Hà Nam), 1,3% ở loài
S.kwangsinesis H.S.Lo (thu ở Quảng Ninh),
0,72% ở loài S.hainanesis H.S.Lo et Y.TSoong
(thu ở Thanh Hóa), 0,62% ở loài S.cambodia
Gagnep (thu ở Lâm Đồng) [3].
Tác dụng dược lý của rotundin đã được
nghiên cứu ở Việt Nam, Liên Xô cũ và Trung
Quốc như: rất ít độc, chữa tăng nhu động và
ống tiêu hoá bị giật, điều hoà và bổ tim, điều
hoà hô hấp, có thể dùng chữa hen hay chữa
nấc, tác dụng an thần, gây ngủ và chống co
quắp, hạ huyết áp [4], [5]. Trên súc vật bị
chiếu xạ tia X, cepharanthin với liều 1 mg/kg
được chiết tách từ S. cepharanthu và S.
pierrei làm giảm nhẹ hiện tượng giảm bạch
cầu máu ngoại vi và rút ngắn thời gian hồi
phục về mức bình thường. Thí nghiệm in
vitro cho thấy cepharanthin ức chế sự tăng
sinh của các tế bào ung thư Hela và Hela S3.
Cepharanthin ức chế sự phát triển của trực
khuẩn lao và ức chế mạnh quá trình sao chép
của HIV-1 [6], [7]. Do vậy, nguồn nguyên
liệu tự nhiên đã bị khai thác ngày một nhiều
và ngày càng cạn kiệt, và đã được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam (Bậc V) và Danh mục
Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý
hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ
- CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn
chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương
mại [8].
Trong tự nhiên, đoạn thân, cành bánh tẻ và
các mảnh củ (cắt từ phần gốc) được trồng vào
mùa xuân. Nhưng tốc độ sinh trưởng, phát
triển rất chậm, tỷ lệ sống sót đạt khoảng 33%.
Cây Bình vôi trong tự nhiên chủ yếu sinh sản
bằng hạt. Sau khoảng 4 tháng tuổi, củ dần dần
được hình thành. Tỷ lệ nảy mầm của hạt Bình
vôi cũng rất khác nhau ở các điều kiện, cao
nhất đạt 85% khi hạt còn tươi [9]. Để vừa đáp
ứng được nhu cầu sử dụng dược liệu, vừa bảo
tồn và phát triển loài cây thuốc này ở Việt
Nam, kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật
được ứng dụng trong nhân giống cây Bình vôi
tím nhưng hệ số nhân chưa cao [10]. Bài báo
này trình bày kết quả nghiên cứu khử trùng
mẫu và môi trường tạo đa chồi in vitro của
cây Bình vôi vàng, góp phần vào việc xây
dựng quy trình nhân giống in vitro cây này tại
Việt Nam.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu và hóa chất nghiên cứu
Mẫu cây Bình vôi vàng thu thập tại Lào Cai
và được trồng tại Vườn thực nghiệm Sinh học
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Các hóa chất như cồn, javen, axit benzoic,
axit citric, thành phần môi trường MS,
sucrose, agar, than hoạt tính, các hóa chất
điều hòa sinh trưởng BAP, kinetin có nguồn
gốc từ Việt Nam, Trung Quốc, Merk.
Phương pháp khử trùng mẫu
Đoạn thân cây Bình vôi vàng (1,5 - 2 cm)
được rửa bằng nước máy, ngâm trong nước
xà phòng loãng 30 phút. Sau đó, mẫu được
ngâm trong HgCl2 5 phút, 7 phút, 9 phút. Mẫu
được rửa lại bằng nước cất 3- 5 lần và cấy vào
môi trường MS cơ bản. Các chỉ tiêu theo dõi
sau 3, 5 và 7 tuần gồm: Tỉ lệ mẫu nhiễm và
chết (%); tỉ lệ mẫu sạch (%); tỉ lệ mẫu bật
chồi không bị nhiễm (%).
Tangmany SYSOMEPHONE và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 241
Phương pháp tái sinh chồi từ đoạn thân
Môi trường được sử dụng: MS + sucrose 30
g/l + agar 8 g/l+ nước dừa 100 ml/l và bổ
sung thêm chất kích thích sinh trưởng BAP,
NAA với nồng độ khác nhau, pH 5,8.
Phương pháp: Đoạn cây Bình vôi vàng in
vitro sau khử trùng 2 tuần được cấy vào môi
trường đã chuẩn bị sẵn. Mỗi công thức cấy 30
mẫu vào 5 bình thí nghiệm, có lặp lại 3 lần. Tất
cả các thí nghiệm được tiến hành ở 25-27oC,
thời gian chiếu sáng 12/24h, cường độ chiếu
sáng 2000 lux. Các chỉ tiêu theo dõi sau 3, 5 và
7 tuần: Tỷ lệ mẫu tạo chồi, số chồi/mẫu, chiều
dài chồi, hình thái chồi, tỷ lệ mẫu tạo rễ, số
rễ/mẫu, chiều dài rễ, hình thái rễ.
Phương pháp xử lý kết quả: Các số liệu
thống kê được xử lý bằng phần mềm SPSS
(với α= 0,05).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Nghiên cứu công thức khử trùng mẫu
cây Bình vôi vàng
Muốn có cây non vô trùng, sạch bệnh để tiến
hành các thí nghiệm sau này, đoạn thân non
mang chồi ngủ được vô trùng trước khi đưa
vào bình nuôi cấy (Hình 1). Đề tài đã tiến
hành khử trùng mẫu với thủy ngân ở các
khoảng thời gian 3, 5, 7 và 9 phút. Bảng 1 cho
thấy công thức khử trùng sử dụng HgCl2
0,1% trong thời gian 5 phút là tối ưu nhất đối
với đoạn thân non.
Công thức khử trùng bằng HgCl2 0,1% trong
thời gian 5 phút thu được tỷ lệ mẫu sạch sống
sót là 93,33%; mẫu nhiễm nấm, khuẩn là
6,67%. Tỷ lệ bật chồi từ những chồi ngủ ở đoạn
thân là 97,59%. Khi xử lý mẫu cấy với HgCl2
trong 7 phút, tỷ lệ bật chồi (32,14%), tỷ lệ
mẫu sạch sống sót thấp (66,67%), tỷ lệ mẫu bị
nhiễm nấm, nhiễm khuẩn là 33,33%. Khi xử
lý mẫu bằng HgCl2 trong 9 phút, tỷ lệ bật chồi
và tỷ lệ mẫu sạch sống sót thấp nhất (9,09%
và 30%). Nguyên nhân làm cho các mẫu cấy
bị nhiễm nấm có thể do thao tác khử trùng
hoặc do mẫu cấy chưa đảm bảo. Thời gian
khử trùng kéo dài làm cho mẫu cấy bị thâm
đen và chết, khả năng sống sót, tái sinh thấp
và ảnh hưởng dẫn tới thời gian bật chồi kéo
dài hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Tình và
cộng sự (2015), sử dụng đoạn thân non, bánh
tẻ được cắt thành các khúc 2 - 3 cm, tiến hành
ngâm trong dung dịch cồn 70% rồi khử trùng
trong dung dịch HgCl2 0,1% trong thời gian 7
phút cho tỷ lệ mẫu sống cao không nhiễm đạt
68,89%. Mẫu sau khi khử trùng cho tỷ lệ tái
sinh cao nhất trong môi trường MS cải tiến
đạt tỷ lệ tái sinh 88,89% sau 4 tuần nuôi cấy
[10]. Nguyên nhân dẫn đến sai khác này có
thể do hóa chất và cách xử lý mẫu. Cồn
thường là tác nhân gây tổn thương, phá hủy
diệp lục trong các mô lá, thân non. Do vậy,
các mẫu được xử lý bằng cồn thường bị thâm,
đen và chết sau một tuần nuôi cấy.
Bảng 1. Kết quả khử trùng cây Bình vôi vàng từ đoạn thân non sau 4 tuần nuôi cấy
Thời gian
xử lý
Tỷ lệ mẫu bị nhiễm nấm, khuẩn, chết
(%)
Tỷ lệ mẫu sạch sống sót (%) Tỷ lệ bật chồi (%)
3 phút 36,67c 63,33b 52,28c
5 phút 6,67a 93,33c 97,59d
7 phút 33,33b 66,67b 32,14b
9 phút 70,00d 30,00a 9,09a
(A)
(B)
Hình 1. Mẫu cây Bình vôi vàng sau khử trùng trên môi trường MS
(A: Sau khi cấy; B: Sau 28 ngày nuôi cấy)
Tangmany SYSOMEPHONE và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 242
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến khả
năng tạo chồi cây Bình vôi vàng
BAP (6-benzyl Amino Purin) là hoocmon
thuộc nhóm cytokinin, có vai trò quan trọng
trong tạo đa chồi của mẫu nuôi cấy, quyết
định hệ số nhân nhanh giống. Nghiên cứu ảnh
hưởng của BAP đến khả năng tạo đa chồi cây
Bình vôi vàng được thực hiện trên 3 công
thức môi trường có nồng độ BAP khác nhau
(1,5; 2,0; 2,5 mg/l). Môi trường đối chứng là
MS cơ bản bổ sung nước dừa 100 ml/l (kí
hiệu ĐC). Các số liệu được được trình bày ở
bảng 2 và hình 2.
Kết quả bảng 2 cho thấy, ở mỗi công thức
nghiên cứu ĐC và có bổ sung BAP ở các
nồng độ đều cho tỷ lệ mẫu tạo chồi là 100%.
Tỷ lệ số chồi/mẫu ở các môi trưởng có bổ
sung BAP đều cao hơn môi trường ĐC. Trong
đó, công thức môi trường BAP 2,0 mg/l cho
tỷ lệ số chồi/mẫu cao nhất và liên tục trong 3
lần lấy số liệu: sau 3 tuần là 1,71; sau 5 tuần
là 3,28; sau 7 tuần là 6,05. Các chỉ tiêu còn lại
như: Chiều cao chồi, hình thái chồi cho thấy
mẫu cây sinh trưởng bình thường.
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài, nồng độ BAP 2,0 mg/l có hiệu quả cao
nhất trong việc tạo đa chồi đối với cây Bình
vôi vàng. Chồi sinh trưởng ở môi trường chứa
BAP có lá mọc chậm và đường kính lá nhỏ
hơn, khoảng cách giữa các đốt thân lớn hơn
cây sinh trưởng ở môi trường ĐC, do tập
trung dinh dưỡng để tạo đa chồi.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Tình và
cộng sự ở cây Bình vôi tím cho thấy nồng độ
BAP 0,5 mg/l là tối ưu cho hệ số nhân chồi
3,9 [10]. Có thể sự khác nhau về nguồn gốc
hóa chất, thao thác nuôi cấy dẫn đến sự khác
biệt này.
Bảng 2. Ảnh hưởng của BAP đến sự sinh trưởng cây Bình vôi vàng
Công
thức
Nồng độ BAP
(mg/l)
Tỷ lệ mẫu tạo
chồi (%)
Số chồi/mẫu Chiều dài
chồi (cm)
Hình thái chồi
Sau 3 tuần nuôi cấy
ĐC 0 100 1,03a ± 0,06 1,97c ± 0,12 Xanh, nhỏ
NC1 1,5 100 1,53c ± 0,06 1,56b ± 0,11 Xanh đậm, khỏe
NC2 2,0 100 1,71d ± 0,05 1,39a,b ± 0,05 Xanh đậm, khỏe
NC3 2,5 100 1,37b ± 0,02 1,33a ± 0,07 Xanh nhạt, nhỏ
Sau 5 tuần nuôi cấy
ĐC 0 100 1,11a ± 0,13 3,07c ± 0,17 Xanh, nhỏ
NC1 1,5 100 1,79b ± 0,11 2,01b ± 0,09 Xanh đậm, khỏe
NC2 2,0 100 3,28c ± 0,27 1,96b ± 0,17 Xanh đậm, khỏe
NC3 2,5 100 1,54b ± 0,09 1,65a ± 0,13 Xanh nhạt, nhỏ
Sau 7 tuần nuôi cấy
ĐC 0 100 1,13a ± 0,05 5,01c± 0,15 Xanh, nhỏ
NC1 1,5 100 2,68b ± 0,11 2,44b ± 0,17 Xanh đậm, khỏe
NC2 2,0 100 6,05c ± 0,17 1,87a ± 0,21 Xanh đậm, lá nhỏ, khỏe
NC3 2,5 100 2,74b ± 0,09 1,97a ± 0,15 Xanh nhạt, nhỏ, lá nhạt màu
ĐC 2,0 mg/l 2,5 mg/l
Hình 2. Ảnh hưởng của BAP đến sự tạo chồi cây Bình vôi vàng sau 7 tuần nuôi cấy
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp BAP với nồng độ tối ưu và NAA đến sự sinh trưởng
của cây Bình vôi vàng
Tangmany SYSOMEPHONE và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 243
NAA là hoocmone kích thích ra rễ trong nuôi cấy mô tế bào. NAA có thể được kết hợp với các
chất cytokinin, gibberellin tạo môi trường có thành phần dinh dưỡng đầy đủ cung cấp cho cây.
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của cytokinin đến khả năng tạo đa chồi cây Bình vôi vàng cho
thấy BAP thích hợp cho sự phát sinh chồi hơn kinentin. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của tổ
hợp BAP nồng độ tối ưu và NAA đến khả năng tạo đa chồi cây Bình vôi vàng được quan tâm
nghiên cứu. Môi trường nuôi cấy là môi trường MS cơ bản + sucrose 30 g/l + agar 8 g/l + nước
dừa 100 ml/l + BAP 2,0 mg/l+ NAA (0,2; 0,4; 0,6; 0,8; 1,0 mg/l). Các số liệu trình bày trong
bảng 3 và hình 3.
Bảng 3. Ảnh hưởng của NAA đến sự sinh trưởng của cây Bình vôi vàng
Nồng độ NAA (mg/l) Tỷ lệ mẫu tạo rễ (%) Số rễ/mẫu Chiều dài rễ (cm) Hình thái rễ
Sau 3 tuần nuôi cấy
0,2 100 2,65 b± 0,14 2,01a ± 0,19 Mảnh, khỏe
0,4 100 3,15bc ± 0,47 2,21a ± 0,41 Mảnh, khỏe
0,6 100 3,61c ± 0,18 1,73a ± 0,57 Mảnh, nhiều nhánh, khỏe
0,8 100 3,44c ± 0,39 2,23a ± 0,62 Mảnh, khỏe
1,0 100 2,11a ± 0,12 2,15a ± 0,29 Mảnh, khỏe
Sau 5 tuần nuôi cấy
0,2 100 3,55b ± 0,19 2,31a ± 0,76 Mảnh, khỏe
0,4 100 3,65b ± 0,35 2,65a ± 0,87 Mảnh, khỏe
0,6 100 5,12c ± 0,26 2,08a ± 0,71 Mảnh, nhiều nhánh, khỏe
0,8 100 3,83b ± 0,19 2,69a ± 0,61 Mảnh, khỏe
1,0 100 3,03a ± 0,38 2,27a ± 0,29 Mảnh, khỏe
Sau 7 tuần nuôi cấy
0,2 100 3,65a ± 0,33 3,45a ± 0,34 Mảnh, khỏe
0,4 100 3,52a ± 0,21 4,15a ± 0,56 Mảnh, khỏe
0,6 100 5,74b ± 0,68 4,08a ± 0,88 Mảnh, nhiều nhánh, khỏe
0,8 100 3,92a ± 0,14 3,88a ± 0,71 Mảnh, khỏe
1,0 100 3,23a ± 0,08 3,55a ± 0,39 Mảnh, khỏe
0,2 mg/l 0,4 mg/l 0,6mg/l 0,8 mg/l 1,0 mg/l
Hình 3. Ảnh hưởng của NAA đến sự sinh trưởng của cây Bình vôi vàng sau 7 tuần nuôi cấy
Kết quả bảng 3 cho thấy, ở mỗi công thức bổ
sung NAA ở các nồng độ đều cho tỷ lệ mẫu
tạo rễ là 100%, số chồi/mẫu dao động từ 1 - 2
chồi. Tỷ lệ số rễ/mẫu ở các môi trường đều có
sự khác nhau rõ rệt. Trong đó, công thức môi
trường NAA 0,6 mg/l cho tỷ lệ số rễ/mẫu cao
nhất: sau 3 tuần là 3,61; sau 5 tuần là 5,12;
sau 7 tuần là 5,74. Rễ có hình thái phát triển
bình thường, mảnh, các rễ nhiều tơ, nhiều
nhánh rễ. Các tiêu chí hình thái chồi như: lá
màu xanh đậm, đường kính lá lớn và cây sinh
trưởng tốt hơn so với các môi trường có nồng
độ NAA thấp và cao hơn. Số lượng rễ và
chiều dài rễ có sự khác biệt nhất định giữa các
công thức. Hàm lượng NAA phù hợp sẽ kích
thích sự phân chia tế bào của mô phân sinh
thượng tầng để hình thành rễ mới. Nhưng
nồng độ NAA thấp thì thời gian phát sinh rễ
kéo dài, số lượng rễ phát sinh ít hơn và chiều
dài hạn chế. Với nồng độ quá cao có thể ức
chế phát sinh rễ, ảnh hưởng đến hình thái chồi
như: đốt thân dài, còi cọc, lá nhỏ, màu xanh
nhạt. Trong khi kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Thị Tình và cộng sự cho thấy nồng độ IAA 1,5
Tangmany SYSOMEPHONE và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 239 - 244
Email: jst@tnu.edu.vn 244
mg là tối ưu cho số rễ/ mẫu đạt 2,6 sau 5 tuần
nuôi cấy [10].
Như vậy, cây Bình vôi vàng in vitro sinh
trưởng và phát triển tốt trên môi trường MS
cơ bản có bổ sung NAA 0,6 mg/l + agar 8 g/l
+ sucrose 30 g/l + nước dừa 100 ml/l + BAP
2,0 mg/l, pH =5,8.
4. Kết luận
Công thức khử trùng mẫu cây Bình vôi vàng
là đoạn thân non chứa chồi ngủ (dài 1,5 – 2
cm) được rửa sạch và ngâm trong dung dịch
xà phòng loãng 30 phút, rửa sạch bằng nước
cất khử trùng và lắc trong dung dịch HgCl2
0,1% trong 5 phút, sau 3 -5 lần rửa bằng nước
cất khử trùng, mẫu được cấy trên môi trường
MS có tỷ lệ mẫu sạch sống sót là 93,33%.
Môi trường MS cơ bản bổ sung nước dừa 100
ml/l + BAP 2,0 mg/l có số chồi/mẫu đạt 6,05;
chiều cao chồi đạt 0,87 cm sau 7 tuần nuôi
cấy. Môi trường MS cơ bản bổ sung nước dừa
100 ml/l + BAP 2,0 mg/l + NAA 0,6 mg/l phù
hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây
Bình vôi vàng hoàn chỉnh, số rễ/mẫu đạt 5,71,
chiều dài rễ đạt 4,08 cm sau 7 tuần nuôi cấy.
Lời cám ơn: Nhóm tác giả xin trân trọng
cảm ơn sự hỗ trợ của Đề tài cấp Bộ mã số
B2019-TNA-09.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. H. L. Duong, “Study on active compounds
from tubers of Stephania,” Vietnam Medical
Journal, no. 1, pp. 14-23, 1996.
[2]. T. V. Nguyen, “Study on botany, chemistry
and biological effects of some species of
Stephania Lour. in Vietnam,” Doctoral thesis
of Pharmacology, HaNoi University of
Pharmacy, 2000.
[3]. T. B. Bui, Physical-chemical methods
applied in analysis and testing of
pharmaceutical materials. Science and
Technology Publishing House, Hanoi, 2006.
[4]. M. C. Nguyen, Study on extraction of
rotundin from tubers of some Stephania
species (belonging to Stephania Lour.),
preparation of rotundin sulfate for making
injectable drug. Can Tho University
Publishing House, 2001.
[5]. T. V. Nguyen, T. K. Pham, K. L. Bui, D. K.
Chu, and V. B. Trinh, “The effects of L-
tetrahydropalmatin extracted from Stephania
glabra (Roxb.) Miers tubers on the ECG and
EEG of rabbits,” Journal of Pharmacology,
vol. 269, pp. 21-23, 1998.
[6]. D. K. Semwal, R. Badoni, R. Semwal, S. K.
Kothiyal, G. J. P. Singh, and U. Rawat, “The
genus Stephania (Menispermaceae):
Chemical and pharmacological perspectives,”
Journal of Ethnopharmacology, vol. 132, pp.
369-383, 2010.
[7]. R. H. F. Manske, The alkaloid- chemistry
and Physiology. Academic Press- New York-
London, 1973, vol. XIV.
[8]. Ministry of Science and Technology,
Vietnam Academy of Science and
Technology, Vietnam’s Red Data Book.
Hanoi Natural Science and Technology
Publishing House, 1996, pp. 258-264.
[9]. National Institute of Medicinal Materials,
Technology of growing medicinal plants.
Medicine Publishing House, 2003, pp. 3-7.
[10]. T. T. Nguyen, T. T. Pham, M. C. Duong, H.
T. Nguyen, V. B. Nguyen, and X. B. Ngo,
“Multiplication of purple Stepharia (Stepharia
rotunda Lour) by trunk segment culture
technique,” Science and Technology Journal
of Agriculture and Rural Development, vol.
11, pp. 242-248, 2015.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_cong_thuc_khu_trung_mau_va_moi_truong_nuoi_cay_in.pdf