Nghiên cứu đa dạng của cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa

KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu về sự đa dạng của các loài cây thuốc ở KBTTN Pù Hu nằm trên địa giới hành chính của xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa cho thấy thành phần loài cây thuốc ở đây khá đa dạng. Kết quả điều tra đ ghi nhận đ ược 187 loài, thuộc 155 chi, 70 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch (Magnoliophyta, Polypodiophyta, Pinaceae Lycopodiophyta). Trong đ ngành Magnoliophyta là đa dạng nhất với 181 loài (chiếm 96,81%), 149 chi (chiếm 96,14%) và 64 họ (chiếm 91,43%). Có 6 dạng thân chính, trong đ số cây tập trung hầu hết ở 3 dạng sống là dạng thân gỗ, dạng thân bụi và dạng thân thảo. Cây thuốc chủ yếu là sống hoang trong môi tr ường tự nhiên nh ư rừng nguyên sinh; rừng thứ sinh; ven đ ường, bãi hoang, bờ ruộng. Số loài cây sống ở rừng nguyên sinh là 76 loài; rừng thứ sinh là 37 loài; ven đ ường, bãi hoang, bờ ruộng c 34 loài; v ườn nhà 24 loài; rừng cây bụi 11 loài; ven suối, khe, thung lũng ẩm 6 loài; d ưới n ước 1 loài. Có 8 bộ phận của cây đ ược sử dụng làm thuốc với 2 cách dùng là t ươi hoặc khô và 13 loài cây thuốc cần đ ược bảo vệ, trong đ c 12 loài c tên trong sách đỏ, 2 loài có tên trong danh mục các loài c nguy cơ bị đe dọa của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế, 2 loài có tên trong Nghị định số 32 của Chính phủ năm 2006.

pdf8 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đa dạng của cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 60 NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CỦA CÂY THUỐC TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HU, TỈNH THANH HÓA Vũ Thị Thu Hiền1, Lại Thị Thanh2 TÓM TẮT Kết quả nghiên cứu về đa dạng của cây thuốc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa bước đầu đã ghi nhận được 187 loài, thuộc 155 chi, 70 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch (Magnoliophyta, Polypodiophyta, Pinaceae Lycopodiophyta). Trong đó ngành Magnoliophyta là đa dạng nhất với 181 loài, 149 chi, 64 họ. Các loài cây thuốc thuộc 6 dạng thân chính, trong đó có 3 dạng thân chiếm ưu thế là cây thân gỗ (56 loài), thân bụi (54 loài), thân thảo (53 loài), 3 dạng còn lại là thân dây leo (21 loài), thân bò (2 loài), thân ký sinh (1 loài). Môi trường sống ở rừng nguyên sinh là 76 loài; rừng thứ sinh 37 loài; ven đường, bãi hoang, bờ ruộng 34 loài; vườn nhà 24 loài; rừng cây bụi 11 loài; ven suối, khe, thung lũng ẩm 6 loài; dưới nước 1 loài. Về công dụng đã xác định được 8 bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc với 2 cách sử dụng là tươi và khô. Đồng thời cũng xác định được 13 loài cây thuốc cần được bảo vệ. Từ khóa: Cây thuốc, đa dạng loài, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hu thuộc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh H a đƣợc đánh giá là KBTTN c tính đa dạng sinh học rất cao trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Sâm, Nguyễn Hữu Cƣờng (2011) về tính đa dạng thực vật tại KBTTN Pù Hu đ ghi nhận đƣợc 894 loài, 575 chi và 143 họ thuộc 6 ngành thực vật cao có mạch [9]. Tại KBTTN Pù Hu đ c một số nghiên cứu điều tra cơ bản của các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế,... nhìn chung, các công trình chỉ dừng ở mức độ khảo sát phát hiện thành phần loài, điều tra, đánh giá, lập danh mục khu hệ động, thực vật rừng, chƣa c công trình nào nghiên cứu về tính đa dạng cũng nhƣ công dụng của các loài cây thuốc tại đây. Hầu hết ngƣời dân sống quanh KBTTN Pù Hu đều có mức sống chƣa cao, thu nhập không ổn định, điều kiện về cơ sở y tế, thuốc men chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu chăm s c sức khỏe, chữa bệnh cho ngƣời dân. Nhu cầu về sử dụng cây thuốc để chữa bệnh, để bán tăng thu nhập ngày càng nhiều, cây thuốc bị khai thác dƣới nhiều hình thức làm cho tài nguyên cây thuốc ngày càng giảm và một số loài c nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu tính đa dạng loài và công dụng của cây thuốc sẽ góp phần giúp ngƣời dân hiểu đƣợc tầm quan trọng, cách thức sử dụng cây thuốc một cách hợp lý và hiệu quả trong việc chữa trị các bệnh trong đời sống hàng ngày, từ đ c ý thức khai thác hợp lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc phân bố ở địa phƣơng. 1,2 Khoa Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 61 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tƣ ng nghiên cứu Tài nguyên cây thuốc tại KBTTN Pù Hu nằm trên địa giới hành chính của xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu hương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu, báo cáo, các thông tin c liên quan đến các loài cây thuốc tại KBTTN Pù Hu. hương pháp khảo sát thực địa: Căn cứ vào bản đồ hiện trạng, địa hình, thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu lập 05 tuyến điều tra với tổng chiều dài 19 km, các tuyến điều tra đảm bảo đi qua tất cả các dạng địa hình và các trạng thái rừng tại khu vực điều tra. Các tuyến hƣớng từ trung tâm cộng đồng về phía các phân khu khu bảo vệ của KBTTN Pù Hu nằm trong địa giới hành chính xã Hiền Chung và đỉnh núi cao nhất là đỉnh núi Pù Hu. Dọc các tuyến tiến hành điều tra thực vật hai bên tuyến (mỗi bên 10 m). hương pháp thu mẫu: Thu mẫu, xử lý mẫu, bảo quản và làm tiêu bản thực vật thực hiện theo phƣơng pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007). hương pháp định danh: Sử dụng phƣơng pháp chuyên gia, phƣơng pháp hình thái so sánh dựa vào các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (2003), Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cộng sự (2005), Võ Văn Chi (2012), Đỗ Tất Lợi (2000). Sử dụng bảng câu hỏi: Phỏng vấn ngƣời dân địa phƣơng, cán bộ y tế để bổ sung thông tin về tên địa phƣơng, thành phần, phân bố và công dụng của các loài cây thuốc. hương pháp tra cứu: Tra cứu công dụng các loài thực vật làm thuốc theo tài liệu của V Văn Chi (2012); Tra cứu xác định các loài bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam (2007) và theo Nghị Định 32/NĐ-CP/2006. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Sự đa dạng thành phần loài cây thuốc 3.1.1. Sự đa dạng về thành phần loài Thành phần loài cây thuốc tại KBTTN Pù Hu nằm trên địa giới hành chính của xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa khá đa dạng và phong phú với 187 loài cây thuốc thuộc 155 chi, 70 họ của 4 ngành thực vật là ngành Mộc lan (Magnoliophyta), ngành Dƣơng xỉ (Polypodiophyta), ngành Thông (Pinophyta), ngành Thông đất (Lycopodiophyta). Bảng 1. Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc Ngành thực vật Họ Chi Loài SL % SL % SL % Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) 64 91,43 149 96,14 181 96,81 Ngành Dƣơng xỉ (Polypodiophyta) 3 4,28 3 1,93 3 1,6 Ngành Thông (Pinophyta) 2 2,86 2 1,29 2 1,06 Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) 1 1,43 1 0,64 1 0,53 Tổng 70 100% 155 100% 187 100% TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 62 Bảng 1 cho thấy phần lớn các loài tập trung ở ngành Mộc lan với 181 loài (chiếm 96,81% tổng số loài), 149 chi (chiếm 96,14% tổng số chi) và 64 họ (chiếm 91,43% tổng số họ). Tiếp đến là ngành Dƣơng xỉ có 03 loài (chiếm 1,6%), 3 chi (chiếm 1,93% tổng số chi), 3 họ (chiếm 4,28% tổng số họ); Thấp nhất là ngành Thông và ngành Thông đất. 3.1.2. Đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu Để nghiên cứu về thành phần dạng sống của cây làm thuốc ở khu vực nghiên cứu chúng tôi dựa vào các tài liệu [3,5,6,7,8]. Kết quả trong 187 loài cây thuốc thu đƣợc phân bố ở 6 dạng sống, số cây tập trung hầu hết ở 3 dạng sống là dạng thân gỗ, dạng thân bụi và dạng thân thảo với số lƣợng loài gần nhƣ nhau. Kết quả tổng hợp thể hiện ở bảng 2. Bảng 2. Dạng sống của các loài cây thuốc TT Kiểu dạng sống Số lƣợng loài Tỷ lệ % 1 Cây kí sinh 1 0,53 2 Cây thân bò 4 2,1 3 Cây dây leo 22 11,8 4 Cây thân thảo 51 27,3 5 Cây thân bụi 53 28,3 6 Cây thân gỗ 56 29,97 Tổng 187 100% Trong đ dạng thân gỗ có 56 loài, chiếm 29,97% tổng số loài. Các cây thuộc dạng sống này thƣờng sống dƣới tán rừng, ven rừng, ven đƣờng, ven nƣơng rẫy, tập trung ở một số họ là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Trám (Burseraceae). Dạng thân bụi có 53 loài, chiếm 28,3% tổng số loài. Các cây có dạng thân bụi thƣờng sống ở trảng cây bụi, vùng đồi núi thấp, rừng tái sinh. Tập trung ở một số họ nhƣ họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Bông (Malvaceae). Dạng thân thảo, có 53 loài (chiếm 28,3% tổng số loài), tập trung ở các họ Cúc (Asteraceae), họ Cải (Brassicaceae), họ Rau dền (Amaranthaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae). Dạng thân dây leo có 22 loài, chiếm 11,8 % tổng số loài. Dạng thân bò và thân kí sinh có số lƣợng loài thấp nhất. 3.1.3. Sự đa dạng về môi trường sống Kết quả nghiên cứu về môi trƣờng sống của các loài cây thuốc tại KBTTN trên địa phận xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đƣợc thể hiện ở bảng 3. Bảng 3. Thống kê các loài cây thuốc theo môi trƣờng sống TT Nơi phân bố Số loài Tỷ lệ % 1 Rừng nguyên sinh 76 0,64 2 Rừng thứ sinh 37 19,8 3 Ven đƣờng, b i hoang, bờ ruộng 34 18,18 4 Vƣờn nhà 22 11,76 5 Rừng cây bụi 11 5,88 6 Ven suối, khe, thung lũng ẩm 6 3,2 7 Môi trƣờng dƣới nƣớc 1 0,54 Tổng 187 100% TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 63 Bảng 3 cho thấy cây thuốc chủ yếu là sống hoang trong môi trƣờng tự nhiên nhƣ rừng nguyên sinh; rừng thứ sinh; ven đƣờng, bãi hoang, bờ ruộng. Số loài cây sống ở rừng nguyên sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 76 loài (chiếm 40,64% tổng số loài); rừng thứ sinh có 37 loài (chiếm 19,8%); ven đƣờng, bãi hoang, bờ ruộng có 34 loài (chiếm 18,18%). Sống ở vƣờn nhà có 22 loài (chiếm 11,76%), đây là những cây thuốc dễ tìm đƣợc ngƣời dân trồng để phòng và chữa bệnh. Số lƣợng loài sống ở rừng cây bụi, ven suối, khe, thung lũng ẩm và môi trƣờng nƣớc chiếm tỷ lệ rất ít. 3.2. Sự đa dạng về giá trị sử dụng của các loài cây thuốc 3.2.1. Sự đa dạng về các bộ phận thực vật sử dụng làm thuốc Dựa vào công dụng của các loài cây làm thuốc, chúng tôi đ thống kê đƣợc 8 bộ phận của cây đƣợc dùng làm thuốc. Bảng 4. Sự đa dạng của các bộ phận cây đƣ c sử dụng làm thuốc TT Các bộ phận sử dụng Số loài Tỷ lệ % 1 Lá 74 29,36% 2 Rễ 56 22,22% 3 Cả cây 49 19,44% 4 Thân cây 37 14,68% 5 Quả 27 10,7% 6 Hoa 5 2% 7 Nhựa 3 1,2% 8 Lông 1 0,4 Tổng 187 100% Kết quả ở bảng 4 cho thấy, số loài sử dụng lá làm thuốc chiếm tỷ lệ nhiều nhất, với 74 loài, chiếm 29,36% tổng số loài. Việc sử dụng lá làm thuốc sẽ giúp cây thuốc đƣợc sử dụng lâu dài, không bị suy giảm và bảo vệ cây thuốc. Lá đƣợc dùng dƣới dạng tƣơi và dạng khô, c thể uống nếu không độc nhƣ: Ké hoa đào - Urena lobataL, Cơm nguội năm cạnh - Ardisia quinquegona Blume, Kinh giới - Elsholtzia ciliata (Thunb), Bạc hà - Mentha arvensis L, Húng chó - Ocimum basilicum L. Lá của chúng c thể đƣợc dùng riêng hoặc phối hợp với các loài cây khác để chữa bệnh. Nhƣ vậy, bộ phận lá đƣợc sử dụng khá đa dạng cả về cách thức sử dụng lẫn công dụng. Bộ phận rễ cây cũng đƣợc dùng tƣơng đối nhiều (gồm vỏ rễ, rễ, củ) với 56 loài và chiếm 22,22% tổng số loài thu đƣợc. Bộ phận rễ sẽ đƣợc ngâm rƣợu để xoa b p (dùng trong đau nhức xƣơng khớp), ngâm rƣợu để uống, trị giun sán, viêm gan, c thể đƣợc gi hoặc đun tƣơi uống nhƣ: Thổ phục linh - Smilax glabra Roxb, Sa nhân - Amomum villosum Lour, Ngũ gia bì - Acanthopanax lasigyrie Harms,... Những cây thuốc đƣợc sử dụng bộ phận thân cây, cả cây cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ. Số lƣợng cây sử dụng bằng bộ phận thân cây gồm c 37 loài và chiếm 14,68% tổng số loài, số lƣợng cây sử dụng cả cây làm thuốc là 49 loài, chiếm 11,44% tổng số loài thu đƣợc. Việc sử dụng rễ cây, thân cây và tất cả các bộ phận của cây sẽ làm hủy hoại đời sống của cây, gây bất lợi trong việc bảo tồn các loài cây thuốc. Đồng thời, trong các bài thuốc TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 64 của đồng bào dân tộc ở khu vực nghiên cứu, việc sử dụng cả cây và rễ là phổ biến, hầu hết là những bài thuốc để chữa bệnh về xƣơng khớp, phù thũng, chữa những bệnh nan y nhƣ bệnh gan, bệnh thận,... Những cây sử dụng bộ phận quả, hạt để làm thuốc c 27 loài, chiếm 10,7% tổng số loài thu đƣợc. Ngoài ra còn c các bộ phận sử dụng là hoa, nhựa và lông cũng đƣợc dùng để làm thuốc nhƣng c số loài rất ít nhƣ cây Lông cu li - Cibotium barometz. 3.2.2. Sự đa dạng về cách thức sử dụng thuốc Kết quả nghiên cứu về cách thức sử dụng thuốc của ngƣời dân địa phƣơng thông qua các phiếu phỏng vấn đƣợc tổng hợp ở bảng 5 cho thấy c 2 cách sử dụng là sử dụng cây thuốc ở dạng tƣơi và dạng khô. Sử dụng tƣơi: Ăn, uống (ăn tƣơi, nấu để ăn và uống); đắp, bôi, xoa (ngâm rƣợu, gi , nghiền để dùng); nấu nƣớc tắm, rửa, xông. Trong đ dùng theo cách ăn, uống c số lƣợng loài nhiều nhất với 57 loài, chiếm 28,64%. Sử dụng khô: Ngâm rƣợu (uống, bôi, xoa); sắc uống (đun đặc sắc lấy nƣớc); tán bột để uống (tán bột pha nƣớc uống, tán thành viên); nấu nƣớc uống (đun sôi để uống, nấu cao). Cách sử dụng sắc uống chiếm tỷ lệ số loài lớn nhất với 78 loài, chiếm 39,2%. Trong 2 cách sử dụng thì cách lấy cây thuốc từ rừng về làm khô đƣợc dùng phổ biến hơn so với sử dụng tƣơi, với 106 lƣợt chiếm 52,27%; việc sử dụng tƣơi với 93 lƣợt chiếm 46,73%. Trong thực tế nhiều loài có nhiều tác dụng cũng nhƣ cách thức sử dụng: Ngũ gia bì gai - Acanthopanax trifoliatus đƣợc dùng để nấu nƣớc uống và gi đắp; Đáng chân chim - Schefflera heptaphylla dùng phơi khô sắc uống và ngâm rƣợu; Thanh táo - Justicia gendarussa dùng để đắp, ngâm rƣợu và sắc uống; Cơm nguội năm cạnh - Ardisia quinquegona Blume dùng để gi đắp vết thƣơng và lấy nƣớc ngậm không nuốt để chữa đau răng. Ngoài ra còn một số cách thức sử dụng chiếm tỷ lệ nhỏ nhƣ: Cỏ lào - Eupatorium odoratum dùng tƣơi gi lấy nƣớc trị ghẻ; Cỏ mực - Eclipta alba dùng toàn cây phơi khô sắc uống dùng để chữa đều kinh, rong kinh và các bệnh về ho ra máu, bổ máu, đái ra máu. Bảng 5. Cách thức sử dụng của các loài cây thuốc đƣ c ngƣời dân dùng TT Cách thức sử dụng Số lƣợng Tỷ lệ % Ăn, uống 57 28,64% 1 Sử dụng tƣơi Đắp, bôi, xoa 20 10,05% Nấu nƣớc tắm 16 8,04% Ngâm rƣợu 12 6,03% 2 Sử dụng khô Sắc uống 78 39,2% Nấu nƣớc uống 16 8,04% 3.2.3. Sự đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc Qua kết quả điều tra, thu thập kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc đang sinh sống ở khu vực nghiên cứu đƣợc tổng hợp ở bảng 6 cho thấy, đồng bào ở đây c vốn tri thức sử dụng cây thuốc khá phong phú, việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh của ngƣời dân tộc ở đây c những nét độc đáo và mang tính gia truyền. Các nhóm bệnh chữa TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 65 trị đƣợc kết hợp từ rất nhiều loài cây thuốc khác nhau. Trong một bài thuốc chữa những bệnh đơn giản chỉ cần một hoặc vài vị thuốc, nhƣng những bệnh khó chữa thì cần rất nhiều loại cây thuốc khác nhau. Số lƣợng các loài cây thuốc chữa nhóm bệnh về tiêu hóa có số lƣợng nhiều nhất, với 37 loài, chiếm 17,8% tổng số loài và chủ yếu là các loài trong họ: họ Rau dền (Amaranthaceae), họ Hoa tán (Apiaceae), họ Cúc (Asteracaeae), một số loài nhƣ: Rau má - Centella asiatica, Cỏ xƣớc - Achyranthes aspers, Rau dền - Amaranthus caudatus, Ngải cứu - Artemisiavulgaris. Sau nhóm bệnh về tiêu hóa là các cây thuốc đƣợc dùng để chữa bệnh về gan thận và tiết niệu, gồm 27 loài và chiếm 13,04% tổng số loài, chúng nhiều họ khác nhau nhƣ: họ Bông (Malvaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae) một số loài nhƣ: Dâm bụt - Hibiscusrosa sinensis, Bình vôi - Stephania hernandiifolia, Dây lõi tiền - Stephania japonica. Nhóm bệnh về hô hấp, thần kinh, huyết mạch là 03 nhóm bệnh chiếm tỷ lệ số loài nhƣ nhau, với 13 loài và chiếm 6,3%. Các nhóm bệnh về trẻ em, phụ nữ, bệnh về thần kinh, bồi bổ cơ thể, chữa bệnh về sinh dục, bệnh về ngoại thƣơng là những nhóm bệnh có số loài cây thuốc ít. Bảng 6. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể TT Các nh m bệnh chữa trị Số loài Tỷ lệ % 1 Bệnh về tiêu h a (tiêu chảy, táo b n, kh tiêu, rối loạn tiêu h a, kích thích tiêu h a, rối loạn tiêu h a, kiết lỵ, trĩ ngoại, trĩ nội, tiêu độc, đau bụng, đầy hơi, đau dạ dày, đại tràng, viêm ruột, giun sán, giải độc) 37 17,8 2 Bệnh về gan, thận và tiết niệu (viêm gan, sơ gan cổ chƣớng, viêm cầu thận, sỏi thận, suy thận, đái buốt, đái dắt, đái ra máu, bí tiểu, lợi tiểu) 27 13,04 3 Bệnh về đau nhức (phong thấp, g y xƣơng, đau xƣơng, vôi cột sống, đau xƣơng khớp, đau khớp, thấp khớp, đau mắt, đau tai, đau nhức răng) 22 10,62 4 Bệnh ngoài da (nƣớc ăn chân, mụn nhọt, loét da, khô da, mát da, đậu lào, viêm da, ghẻ lở, hắc lào, lậu, vẩy nến, giang mai) 20 9,66 5 Bệnh về phụ nữ (đều kinh, tắm đẻ phụ nữ sau sinh, viêm âm đạo, sa tử cung, sƣng vú, lợi sữa, tắc sữa) 20 9,66 6 Bệnh về ngoại cảm (cảm cúm, cảm sốt, cảm tích, sốt phát ban, cảm lạnh, cảm mạo, liệt, phong hàn, ra mồ hôi nhiều) 15 7,25 7 Bệnh về hô hấp (viêm mũi, viêm phổi, lao phổi, ho gà, viêm xoang, đau ngực, long đờm, hen suyễn, kh thở, ho khan, ho gi , viêm họng, viêm phế quản) 13 6,3 8 Bệnh về thần kinh (thần kinh tọa, an thần, suy nhƣợc thần kinh, chân tay lạnh, mất ngủ) 13 6,3 9 Bệnh về huyết mạch (suy tim, bổ tim, huyết áp cao, hạ đƣờng huyết, chảy máu cam, cầm máu) 13 6,3 10 Bệnh về ngoại thƣơng (sát khuẩn, bong gân, sai khớp, đòn ng , bỏng, vật nhọn đâm, cầm máu vết thƣơng, thụ máu, dập nát, bỏng lửa) 10 4,83 11 Bệnh về sinh dục: Di tinh, vô sinh, cƣờng tráng, liệt dƣơng, dƣơng sự kém, mộng tinh, yếu sinh lý) 7 3,38 12 Bệnh của trẻ em (rôm sảy, cam sài, da vàng, mát da, đái dầm) 5 2,41 13 Bổ (bổ thận, bổ gan, bổ máu, bổ sức khỏe) 5 2,41 TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 66 3.3. Giá trị bảo tồn của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu Theo tiêu chí của Sách đỏ Việt Nam năm 2007; Danh mục các loài c nguy cơ bị đe dọa của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) 2013; Nghị định số 32 của Chính phủ năm 2006 thì trong số 187 loài cây thuốc điều tra đƣợc tại khu vực nghiên cứu có 13 loài thuộc diện cần phải bảo vệ (chiếm 6,95% tổng số loài điều tra đƣợc). Nằm trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 gồm c 12 loài, trong đ c 05 loài ở mức nguy cấp - EN; 07 loài thuộc mức sẽ nguy cấp - VU. Nằm trong Danh mục các loài c nguy cơ bị đe dọa của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) c 02, trong đ 01 loài ở mức nguy cấp (EN); 01 loài sẽ nguy cấp (VU). Nằm trong Nghị định số 32 của Chính phủ năm 2006 c 02 loài thuộc mục IIA (Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thƣơng mại). Bảng 7. Các loài cây thuốc c nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ở khu vực nghiên cứu TT Tên khoa học Tên Việt Nam IUCN 2013 SĐVN 2007 NĐ 23 1 2 3 4 5 6 1 Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J. Cốt toái bổ EN 2 Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill. Ba gạc vòng VU 3 Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss. Ngũ gia bì gai EN 4 Canarium tramdenum Dai et Jakovt Trám đen VU 5 Cinnamomum balansae H. Lecomte Gù hƣơng EN VU IIA 6 Strychnos umbellata (Lour.) Merr. M tiền hoa tán VU 7 Stephania hernandiifolia (Wild.) Spreng. Bình vôi IIA 8 Embelia parviflora Wall. ex A. DC. Thiên lý hƣơng VU 9 Melientha suavis Pierre Rau sắng VU 10 Fallopia multiflora (Thumb.) Hardison Hà thủ ô đỏ VU 11 Morinda officinalis F.C.How Ba kích EN 12 Madhuca pasquieri H.J. Lam. Sến mật VU EN 13 Anoectochiluscalcareus Aver. Kim tuyến đá vôi EN 4. KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu về sự đa dạng của các loài cây thuốc ở KBTTN Pù Hu nằm trên địa giới hành chính của xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa cho thấy thành phần loài cây thuốc ở đây khá đa dạng. Kết quả điều tra đ ghi nhận đƣợc 187 loài, thuộc 155 chi, 70 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch (Magnoliophyta, Polypodiophyta, Pinaceae Lycopodiophyta). Trong đ ngành Magnoliophyta là đa dạng nhất với 181 loài (chiếm 96,81%), 149 chi (chiếm 96,14%) và 64 họ (chiếm 91,43%). Có 6 dạng thân chính, trong đ số cây tập trung hầu hết ở 3 dạng sống là dạng thân gỗ, dạng thân bụi và dạng thân thảo. Cây thuốc chủ yếu là sống hoang trong môi trƣờng tự nhiên nhƣ rừng nguyên sinh; rừng thứ sinh; ven đƣờng, bãi hoang, bờ ruộng. Số loài cây sống ở rừng nguyên sinh là 76 loài; rừng thứ sinh là 37 loài; ven đƣờng, bãi hoang, bờ ruộng c 34 loài; vƣờn nhà 24 loài; rừng cây bụi 11 loài; ven suối, khe, thung lũng ẩm 6 loài; dƣới nƣớc 1 loài. Có 8 bộ phận của cây đƣợc sử dụng làm thuốc với 2 cách dùng là tƣơi hoặc khô và 13 loài cây thuốc cần đƣợc bảo vệ, trong đ c 12 loài c tên trong sách đỏ, 2 loài có tên trong danh mục các loài c nguy cơ bị đe dọa của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế, 2 loài có tên trong Nghị định số 32 của Chính phủ năm 2006. TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 49.2020 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Tiến Bân (2005), Danh mục các loài thực vật Việt Nam, Tập III, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội. [2] Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II - Thực vật, Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội. [3] V Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Y học Tp. Hồ Chí Minh. [4] Chính phủ (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính Phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. [5] Phạm Hoàng Hộ (2001), Cây cỏ Việt Nam, tập 1, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. [6] Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam, tập 2, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. [7] Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam, tập 3, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. [8] Đỗ Tất Lợi (2000), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb. Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. [9] Hoàng Văn Sâm, Nguyễn Hữu Cƣờng (2011), Nghiên cứu t nh đa dạng thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. [10] Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. STUDY ON MEDICINAL PLANTS BIODIVERSITY IN PU HU NATURE RESERVE, THANH HOA PROVICE Vu Thi Thu Hien, Lai Thi Thanh ABSTRACT The results on medicinal plants biodiversity in Pu Hu nature reserve showed that the composition of medicinal plant species was identified with 187 species, belonging to the 155 genera, 70 families of four divisions of vascular plants (Magnoliophyta, Polypodiophyta, Pinaceae Lycopodiophyta). In which, the division Magnoliophyta has the most abundant medicinal plants with 181species, 149 genera, 64 families.Medicinal plants belong to 6 main stem types, of which there are 3 dominant stem types which are woody plants (56 species), shrubs (54 species), herbaceous (53 species); 3 the other types are vines (21 species), cow bodies (2 species), parasitic bodies (1 species). Habitat in primary forest dominates with 76 species; 37 in secondary forests; roadside, wasteland, field banks contain 34 species; gardens possess 24 species; shrub forests have 11 species; streams and valleys have 6 species; Underwater contains 1 species. The survey showed that, there are 8 parts of plant which can be used for medicine were identified with 2 uses, fresh and dry. We also identify 13 medicinal plant species that need to be protected. Keywords: Medicinal plants, species biodiversity, Pu Hu nature reserve. * Ngày nộp bài: 19/6/2019; Ngày gửi phản biện: 2/10/2019; Ngày duyệt đăng: 4/3/2020

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_da_dang_cua_cay_thuoc_tai_khu_bao_ton_thien_nhien.pdf
Tài liệu liên quan