Kết quả trên hình 2 cho thấy, sản phẩm nhân PCR với mồi MST của các chủng
nấm men cho phổ finger khác nhau và rất đa dạng do sự phân bố về số lượng bản
sao cũng như vị trí của DNA vệ tinh trong genome. Kỹ thuật phân nhóm sử dụng
mồi thiết kế dựa trên DNA vệ tinh cho sự phân loại đến loài. Các chủng có cùng một
phổ băng finger sẽ thuộc cùng một loài, các chủng có phổ băng finger khác nhau có
thể sẽ thuộc các loài khác nhau tùy theo mức độ khác biệt. Các chủng có cùng phổ
băng finger sẽ được xếp vào cùng một nhóm và đã chia 20 chủng nấm men thành 15
nhóm (bảng 4)
Như vậy, so với phân nhóm bằng hình thái khuẩn lạc và tế bào thì đã có sự
thay đổi về thành phần và số lượng chủng giữa các nhóm; ví dụ như 36Y2 đã tách
nhóm với 2Y1; 8Y2 tách khỏi 16Y3; 12Y6 tách khỏi nhóm 13Y4 và 31Y1 Kỹ
thuật fingerprinting đã giải quyết được khó khăn, đưa ra kết quả có độ tin cậy cao
hơn trong đánh giá đa dạng nấm men, đặc biệt nhóm nấm men đa hình, đồng thời
cũng là căn cứ có thể sử dụng trong đánh giá mối quan hệ giữa các loài.
4. KẾT LUẬN
- Phân lập được 20 chủng nấm men nội sinh từ 41 mẫu chuối Tiêu hồng trên
địa bàn Thượng Thanh, Gia Lâm, Hà Nội; Hình thái, màu sắc khuẩn lạc của các
chủng có màu sắc từ màu kem, màu vàng, màu đỏ, màu vàng chuyển xám; có một số
chủng đa hình.
- Về khả năng sinh enzyme cellulase, amylase, protease của các chủng nấm
men: 6 chủng có hoạt tính sinh amylase, 16 chủng có hoạt tính sinh cellulase, 15
chủng có hoạt tính sinh protease, 5 chủng sinh cả 3 loại enzyme nói trên.
- Bằng kỹ thuật fingerprinting đã chia 20 chủng nấm men nội sinh thành 15
nhóm với độ tin cậy cao.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đa dạng sinh học nấm men nội sinh phân lập trên chuối tiêu hồng musa sapientum L tại khu vực Gia Lâm, Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 69
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC NẤM MEN
NỘI SINH PHÂN LẬP TRÊN CHUỐI TIÊU HỒNG
Musa sapientum L. TẠI KHU VỰC GIA LÂM, HÀ NỘI
CHU THANH BÌNH, ĐỖ THỊ THU HỒNG, NGÔ CAO CƯỜNG
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi sinh vật nội sinh (VSVNS) sống trong mô của tế bào thực vật, không gây
hại cho cây mà thường tạo ra các chất có hoạt tính sinh học như: Chất điều hòa sinh
trưởng, các chất kháng sinh, nhóm axit pholic Các hợp chất này đã phát huy vai
trò của nó đối với đời sống cây, kích thích sinh trưởng thực vật, sinh kháng sinh ức
chế sự phát triển bệnh của cây [8]. Chính vì vậy, VSVNS nói chung và nấm men nội
sinh nói riêng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu bởi vai trò và ý nghĩa của
chúng trong đời sống.
Cây chuối là loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao... Chuối Tiêu
hồng được người tiêu dùng ưa chuộng hơn cả bởi hương vị, thị hiếu.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nấm men nội sinh trên đối tượng
chuối chưa nhiều. Bài báo này trình bày một số kết quả thu được qua khảo sát và lấy
mẫu chuối Tiêu hồng tại khu vực Gia Lâm - Hà Nội, đồng thời nghiên cứu về đa
dạng nấm men nội sinh thông qua đặc điểm hình thái khuẩn lạc, tế bào, hoạt tính
enzyme có sử dụng kỹ thuật PCR fingerprinting.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Mẫu cho phân lập VSVNS từ các bộ phận của cây chuối Tiêu hồng; Hoa - 5
mẫu; quả non - 5 mẫu, quả bánh tẻ - 10 mẫu, quả già - 10 mẫu, quả chín - 11 mẫu.
- Địa điểm lấy mẫu thuộc địa phận Thượng Thanh, Gia Lâm, Hà Nội; diện tích
khu vực lấy mẫu khoảng 3600 m2; tọa độ dao động quanh vị trí N: 21o04.625’;
E: 105o53.794’.
- Môi trường Hansen (g/l): Sacaroza - 30; Pepton - 10; K2HPO4 - 3; MgSO4.7H2O - 3;
Yeast Extract - 1; NaCl - 1; được sử dụng để phân lập, làm sạch và giữ giống nấm men.
- Môi trường xác định hoạt tính enzyme ngoại bào (cellulase, amylase, protease)
bằng phương pháp khuyếch tán trên thạch (g/l): cơ chất (CMC, tinh bột, casein) - 1;
Agar - 15; pH 7.
- Mồi MST (IDT Technologies) có trình tự như sau: 5’ - GTG GTG GTG
GTG GTG - 3’ [5].
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 70
2.2. Phương pháp
- Lấy mẫu và bảo quản mẫu theo TCVN 9017:2011 [1].
- Xử lý mẫu trước khi phân lập: Mẫu được rửa sạch phần mô dưới vòi nước
mạnh, cắt thành các đoạn nhỏ 2 ÷ 4 cm để dễ thao tác, sau đó được khử trùng bề mặt
mẫu, thực hiện lần lượt từng bước sau: ethanol 70% (5 phút); NaClO 5% (5 phút) và
etanol (30 giây). Rửa lại 5 lần với nước cất vô trùng. Bổ sung 1 ml nước cất khử
trùng. Nghiền nát mô tế bào, hút 100 ÷ 200 μl lên đĩa thạch và trang đều rồi đem
nuôi cấy [6, 7].
- Phân loại nấm men dựa trên hình thái khuẩn lạc [9].
- Hoạt tính enzyme: amylase, cellulase, proteinase [3].
- Tách chiết DNA tổng số sử dụng kit tách Norgen, Canada.
- Kỹ thuật PCR fingerprinting: Được báo cáo lần đầu vào năm 1985 bởi giáo
sư Alec Jeffreys (Đại học Leicester, Anh). Đây là phương pháp dùng để phân nhóm
dưới loài dựa trên sự tương đồng các đoạn ADN vệ tinh. ADN vệ tinh là các đoạn
ADN có trình tự lặp lại lớn, thường không mã hóa cho gen và ít bị đột biến, thay
đổi. Do đó, chúng thường được dùng làm công cụ đắc lực trong phân loại. Sử dụng
các mồi được thiết kế theo trình tự của các ADN vệ tinh trong phản ứng PCR. Sau
đó các đoạn ADN vệ tinh đã khuếch đại sẽ được điện di để so sánh kích thước. Sự
tương đồng của các phổ băng thể hiện sự gần gũi của các chủng nấm men [4].
- Phản ứng PCR với các thành phần Master mix (Intron) 1 x 10 μl, mồi
Microsatellite primer Transcrip MST (IDT) - 2 μl, nước PCR - 11 μl, DNA khuôn 2 μl
với 35 chu kỳ có chu trình gia nhiệt như sau: 95oC trong 2 phút; 94oC trong 40 giây;
52oC trong 60 giây; 72oC trong 2 phút; 72oC trong 10 phút [2].
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả phân lập nấm men nội sinh
20 chủng nấm men đã được phân lập từ 41 mẫu chuối Tiêu hồng ở các giai
đoạn sinh trưởng khác nhau. Kết quả được trình bày ở bảng 1.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 71
Bảng 1. Kết quả phân lập nấm men nội sinh trên 41 mẫu chuối Tiêu hồng
KH mẫu Bộ phận cây chuối KH chủng nấm men
16
Hoa
16Y1, 16Y3, 16Y4
32 32Y1
14
Quả bánh tẻ 14Y6
31 31Y1
1
Quả già
1Y1
2 2Y1
3 3Y1
8 8Y2
12 12Y6
13 13Y1, 13Y4
37 37Y1
17
Quả chín
17Y2
29 29Y1
36 36Y1, 36Y2, 36Y3, 36Y4
Kết quả cho thấy, giai đoạn chuối già thu được số lượng nấm men nhiều nhất
và hiện chưa phân lập được nấm men trên chuối non. Điều này có thể do ở giai đoạn
chuối già có các chất dinh dưỡng (đường, vitamin) cũng như các điều kiện sinh
trưởng khác (pH, khoáng chất) phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của nấm men. Chuối
chín thu được chủng nấm men nhiều, tuy nhiên có thể ở giai đoạn này hàm lượng cao
của đường, protein, K+, Fe2+ cũng là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của vi
khuẩn gây cạnh tranh và làm giảm số lượng nấm men. Kết quả này cũng phù hợp với
các nghiên cứu của tác giả Isaeva O. V. [6] với đối tượng quả Bí ngô Cucurbita pepo L.
ở giai đoạn chín nấm men bị giảm do vi khuẩn cạnh tranh sinh trưởng.
3.2. Phân loại qua hình thái khuẩn lạc và tế bào
Các chủng nấm men sau khi được làm sạch, thuần khiết và được chụp hình
thái, tế bào trên kính hiển vi Eclipse E600-Nikon thước đo 5 μm, độ phóng đại 400X.
Dựa trên đặc điểm hình thái và tế bào, 20 chủng nấm men được chia thành 16
nhóm trình bày trong bảng 2.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 72
Bảng 2. Đặc điểm hình thái khuẩn lạc và tế bào của các chủng nấm men nội sinh
đại diện cho các nhóm
Nhóm KH chủng Đặc điểm hình thái
Hình thái
khuẩn lạc
Hình thái
tế bào
1 1Y1
Khuẩn lạc màu vàng, đường
kính khuẩn lạc 7 mm, bề
mặt ướt, hơi bóng, viền trơn.
2 2Y1 36Y2
Khuẩn lạc màu trắng, bề
mặt nổi lên mặt thạch, hơi
bóng, đường kính 1,5 mm,
viền trơn.
3
3Y1
12Y6
13Y4
31Y1
Khuẩn lạc màu vàng, bề
mặt ướt, xốp, nổi lên mặt
thạch, đường kính khuẩn
lạc 3 mm, viền trơn
4 8Y2 16Y3
Khuẩn lạc màu đỏ, đường
kính 1 mm, bề mặt hơi
bóng, viền trơn.
5 13Y1
Khuẩn lạc ban đầu trắng,
sau chuyển vàng nâu, viền
nhăn, đường kính khuẩn lạc
2 mm.
6 14Y6
Khuẩn lạc trắng bông,
đường kính khuẩn lạc 3 mm,
bề mặt khô, sau 5 ngày
phân hóa sợi và bào tử.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 73
7 16Y1
Khuẩn lạc nhỏ đường kính
1 mm, bề mặt khô, sau 3
ngày nuôi cấy chuyển thành
màu vàng nâu, sau chuyển
sang đen, mọc dày trên mặt
thạch.
8 16Y4
Khuẩn lạc nhỏ, màu trắng,
xốp, sau chuyển nâu, tiết sắc
tố đỏ vào môi trường, sau 3
ngày nuôi cấy có hiện tượng
phân hóa và hình thành bào tử,
đường kính khuẩn lạc 4 mm.
9 17Y2
Khuẩn lạc ban đầu trắng,
sau chuyển hồng nhạt, bề
mặt ướt, bóng, viền trơn,
đường kính khuẩn lạc 2 mm.
10 29Y1
Khuẩn lạc màu kem, đường
kính 5 mm, sau 3 ngày nuôi
cấy chuyển màu vàng nâu,
bề mặt ướt.
11 32Y1
Khuẩn lạc ban đầu kem sau
chuyển hồng nhạt, bề mặt
khô, nhăn đường kính 11 mm,
màu kem.
12 36Y1
Khuẩn lạc màu trắng, bề
mặt ướt, nổi lên mặt thạch,
viền trơn, đường kính 2 mm,
nổi lên mặt thạch.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 74
13 36Y2
Khuẩn lạc màu kem, đường
kính khuẩn lạc 1 mm, bề
mặt khô.
14 36Y3
Khuẩn lạc màu vàng, đường
kính 2 mm, bề mặt khuẩn
lạc nhăn.
15 36Y4 Khuẩn lạc màu kem, bề mặt ướt, đường kính 5 mm.
16 37Y1 Khuẩn lạc màu kem, bề mặt khô, đường kính 2 mm.
Bảng 2 cho thấy, chủng nấm men có hình thái khuẩn lạc, hình thái tế bào
tương tự nhau được sắp xếp cùng nhóm. Tuy nhiên, từ 20 chủng nấm thu được xuất
hiện những chủng nấm men đa hình. Nhằm thu được kết quả có độ tin cậy cao hơn,
cần tiến hành khảo sát sơ bộ hoạt tính sinh enzyme của các chủng thu được đồng
thời đánh giá đa hình bằng kỹ thuật fingerprinting.
3.3. Hoạt tính sinh enzyme
Khảo sát hoạt tính sinh enzyme là rất cần thiết khi nghiên cứu nấm men nội
sinh bởi giữa nấm men nội sinh và cây chủ thường xuyên có sự trao đổi các chất
dinh dưỡng thông qua hoạt động của nhiều nhóm enzyme [6], trong đó 3 nhóm
enzyme phổ biến thường được nghiên cứu là cellulase, protease, amylase. 20 chủng
nấm men nội sinh đã được xác định hoạt tính enzyme và kết quả được trình bày
trong bảng 3.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 75
Bảng 3. Hoạt tính enzyme của các chủng
STT Ký hiệu chủng
Hoạt tính
amylase
Hoạt tính
cellulase
Hoạt tính
protease
1 1Y1 - + +
2 2Y1 - + +
3 3Y1 - + ++
4 8Y2 + + +
5 12Y6 - + ++
6 13Y1 - - -
7 13Y4 + - ++
8 14Y6 + + ++
9 16Y1 - + -
10 16Y3 - - -
11 16Y4 - + ++
12 17Y2 + + +
13 29Y1 - + ++
14 31Y1 - + +
15 32Y1 ++ +++ +
16 36Y1 - + -
17 36Y2 + + +
18 36Y3 - + +
19 36Y4 - + +
20 37Y1 - - -
Hình 1. Hoạt tính enzyme của chủng
A. Hoạt tính cellulase; B. Hoạt tính protease; C. Hoạt tính amylase;
1. Chủng 31Y1; 2. Chủng 16Y3; 3. Chủng 13Y4
Kết quả bảng 3 cho thấy, 6 chủng có hoạt tính sinh amylase, 16 chủng có hoạt
tính sinh cellulase, 15 chủng có hoạt tính sinh protease, 5 chủng sinh cả 3 loại
enzyme nói trên.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 76
3.4. Phân nhóm bằng kỹ thuật finger printing
Phân nhóm dựa trên hình thái khuẩn lạc và tế bào đôi khi gặp nhiều khó khăn
đặc biệt với những chủng nấm men đa hình. Kỹ thuật fingerprinting được sử dụng
nhằm khắc phục những hạn chế đó đồng thời cho kết quả nghiên cứu có độ tin cậy
cao hơn.
Các chủng nấm men sau khi được làm sạch sẽ được nuôi thu sinh khối và tách
DNA tổng số bằng sử dụng kit tách. Sản phẩm DNA tổng số sau khi tách chiết được
kiểm tra độ tinh sạch bằng đo quang phổ hấp thụ ở bước sóng 260 nm và 280 nm, tỷ
lệ A260/A280 của 20 chủng đều trong ngưỡng 1,8÷2. DNA tinh sạch được sử dụng
làm khuôn cho phản ứng PCR với mồi MST (hình 2).
Hình 2. Phổ fingerprinting của 20 chủng nấm men nội sinh trên chuối Tiêu hồng
M - marker 1kb, 1 - 1Y1, 2 - 3Y1, 3 - 12Y6, 4 - 8Y2, 5 - 29Y1, 6 - 32Y1, 7 - 36Y1,
8 - 36Y4, 9 - 2Y1, 10 - 17Y2, 11 - 13Y4, 12 - 31Y1, 13 - 36Y2, 14 - 16Y1,
15 - 16Y4, 16 - 13Y1, 17 - 36Y3, 18 - 14Y6, 19 - 16Y3, 20 - 37Y1
Kết quả trên hình 2 cho thấy, sản phẩm nhân PCR với mồi MST của các chủng
nấm men cho phổ finger khác nhau và rất đa dạng do sự phân bố về số lượng bản
sao cũng như vị trí của DNA vệ tinh trong genome. Kỹ thuật phân nhóm sử dụng
mồi thiết kế dựa trên DNA vệ tinh cho sự phân loại đến loài. Các chủng có cùng một
phổ băng finger sẽ thuộc cùng một loài, các chủng có phổ băng finger khác nhau có
thể sẽ thuộc các loài khác nhau tùy theo mức độ khác biệt. Các chủng có cùng phổ
băng finger sẽ được xếp vào cùng một nhóm và đã chia 20 chủng nấm men thành 15
nhóm (bảng 4).
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 77
Bảng 4. Phân nhóm nấm men bằng kỹ thuật fingerprinting
Nhóm KH chủng
01 1Y1, 3Y1
02 12Y6
03 8Y2
04 29Y1
05 32Y1
06 36Y1, 14Y6
07 36Y4, 2Y1
08 17Y2
09 13Y4, 31Y1
10 36Y2
11 16Y1
12 16Y4
13 13Y1, 36Y3
14 16Y3
15 37Y1
Như vậy, so với phân nhóm bằng hình thái khuẩn lạc và tế bào thì đã có sự
thay đổi về thành phần và số lượng chủng giữa các nhóm; ví dụ như 36Y2 đã tách
nhóm với 2Y1; 8Y2 tách khỏi 16Y3; 12Y6 tách khỏi nhóm 13Y4 và 31Y1 Kỹ
thuật fingerprinting đã giải quyết được khó khăn, đưa ra kết quả có độ tin cậy cao
hơn trong đánh giá đa dạng nấm men, đặc biệt nhóm nấm men đa hình, đồng thời
cũng là căn cứ có thể sử dụng trong đánh giá mối quan hệ giữa các loài.
4. KẾT LUẬN
- Phân lập được 20 chủng nấm men nội sinh từ 41 mẫu chuối Tiêu hồng trên
địa bàn Thượng Thanh, Gia Lâm, Hà Nội; Hình thái, màu sắc khuẩn lạc của các
chủng có màu sắc từ màu kem, màu vàng, màu đỏ, màu vàng chuyển xám; có một số
chủng đa hình.
- Về khả năng sinh enzyme cellulase, amylase, protease của các chủng nấm
men: 6 chủng có hoạt tính sinh amylase, 16 chủng có hoạt tính sinh cellulase, 15
chủng có hoạt tính sinh protease, 5 chủng sinh cả 3 loại enzyme nói trên.
- Bằng kỹ thuật fingerprinting đã chia 20 chủng nấm men nội sinh thành 15
nhóm với độ tin cậy cao.
Lời cảm ơn: Bài báo được sự hỗ trợ kinh phí từ đề tài E1.4 thuộc Chương
trình Ủy ban phối hợp Việt Nam - Liên bang Nga.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 11, 12 - 2016 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TCVN 9017:2011: Quả tươi - Phương pháp lấy mẫu trên vườn sản xuất.
2. Kachalkin A. V., Glushakova A. M., Yurkov A. M. and Chernov I. Yu.,
Characterization of Yeast Grouping in the Phyllosphere of Sphagnum Mosses.
Microbiology, 2008, 77(4):474-481.
3. Bauer A. W., Kirby W. M. M., Sherris J. C. and Turck M., Antibiotic
susceptibility testing by a standardized single disk method. Amer. I. C/in.
Pathol. Depts. Microbiology and Medicine, Univ. Washington, Sch. Med.,
Seattle, 1966, 45:6-493.
4. Kate, Brinton, Kim-An Lieberman, Basics of DNA fingerprinting, Available online,
2007, URL: dnaintro.html.
5. Mauricio Ramirez-Castrillon, Sandra Denise Camargo Mendes, Mario Inostroza-
Ponta, and Patricia Valente, (GTG)5 MST-PCR Fingerpriting as a Technique for
Discrimination of Wine Associated Yeasts. PLOS ONE, 2014, 9(8):e105870.
6. Isaeva O. V., Glushakova A. M., Garbuz S. A., Kachalkin A. V., and Chernov I. Yu.,
Chernov. Endophytic Yeast Fungi in Plant Storage Tissues. Biology Bulletin,
2010, 37(1):26-34.
7. Romeiro R. da S., Métodos em bacteriologia de plantas, Viçosa: UFV, 2001, 279p.
8. Snipes C. E., Duebelbeis D. O., Olson M., Hahn D. E., Dent W. H., Gillbert J. R.,
Werk T. L., Davis G. E., Lee-Lu R., Graupner P. R., The endophytes in the
stem and roots of rice. Microb Ecol, 2007, 53:700-707.
9. Yarrow D., Methods for isolation, maintenance and identification of yeasts, in
The Yeasts, a Taxonomic Study, 4th Ed. By Kurzman C. P. and Fell J. W.,
Elsevier Science Publ., Amsterdam, 1998, p.77-100.
SUMMARY
STUDY ON BIODIVERSITY OF ENDOPHYTICYEAST ISOLATED
IN BANANAS Musa sapientum L. IN GIALAM DISTRIST, HANOI
20 endophytic yeast strains are isolated from 41 samples of flower, young
fruit, old fruit of bananas Musa sapientum L.. The strains are divided into 16 groups
based on morphological characteristics. The number of the endophytic yeast having
cellulase, protease and amylase activity is 16, 15 and 6 respectively. When the
endophytic yeast strains are studied by fingerprinting, they belong to 15 groups with
high reliability.
Từ khóa: Yeast, endophyte, bananas, fingerprinting.
Nhận bài ngày 15 tháng 11 năm 2016
Hoàn thiện ngày 10 tháng 12 năm 2016
Phân viện Công nghệ sinh học, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_da_dang_sinh_hoc_nam_men_noi_sinh_phan_lap_tren_c.pdf