Theo kết quả so sánh, tần số allele *28 ở Việt
Nam có sự tương đồng với Nhật Bản (χ2=1,8458;
p= 0,1743), một quốc gia ở khu vực Đông Á,
thuộc chủng tộc da vàng và có vùng lãnh thổ nhỏ
hẹp bao quanh bởi biển. Tần số allele ở các nước
khác trong khu vực Đông Nam Á như Trung
Quốc (15,730%), Malaysia (18,817%) tuy có
thấp hơn so với các khu vực Trung Đông, Châu
Âu, Châu Phi nhưng vẫn cao hơn so với Việt
Nam và có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê:
Trung Quốc (χ2 =4,6642; p=0,0308); Malaysia
(χ2=8,6646; p=0,0032). Điều này có thể giải
thích do lãnh thổ Trung Quốc rộng lớn, có vùng
biên giới tiếp giáp với Trung Đông và trong giai
đoạn thế kỷ 19 đến những năm 1949, do chiến
tranh, nạn đói nên có sự di cư hàng loạt trong dân
số Trung Quốc làm cho đặc điểm dân số ở đây ít
nhiều đã có sự đa dạng về nguồn gốc di truyền
hơn so với Việt Nam. Malaysia là một quốc gia
có lãnh thổ trải dài, lịch sử chính trị phức tạp tạo
nên một quần thể đa sắc tộc khiến những đặc
điểm về mặt di truyền cũng có nhiều khác biệt so
với Việt Nam. Cuối cùng, tần số allele *28 trong
nghiên cứu này cũng góp phần kiểm chứng
những nhận định từ nghiên cứu trước đó, là cơ
sở, nguồn so sánh dữ liệu cho những nghiên cứu
sau này ở cả trong và ngoài nước. Tổng quan các
nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy tần số
allele *28 dao động nhiều ở các quần thể khác
nhau: người da trắng (26-31%); người Châu Phi
(42-56%); người Châu Á (9-16%) (Hall et al.,
1999; Iyer et al., 1999) và trong nghiên cứu của
chúng tôi những nhận định đó cũng tương đồng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã xác định được biến thể
UGT1A1*28 có trong kiểu gen dị hợp và đồng
hợp với tần số tương ứng là 14,74% và 1,05%.
Tần số allele của biến thể UGT1A1*28 là 8,421%
trên 95 người Kinh là nhỏ so với allele kiểu dại
*1 (91,579%). Kết quả phân tích cho thấy biến
thể UGT1A1*28 không ảnh hưởng đến nguy cơ
mắc bệnh ung thư đại trực tràng và những bệnh
nhân ung thư cũng không có tần số allele *28
(7,89%) khác biệt so với người khoẻ mạnh
(8,42%). Nghiên cứu của chúng tôi khuyến cáo
việc xét nghiệm đa hình UGT1A1*28 trên đối
tượng bệnh nhân ung thư Việt Nam trước khi
điều trị bằng ironotecan là không thực sự cần
thiết, dễ gây lãng phí và tăng chi phí điều trị cho
bệnh nhân. Nếu bệnh nhân nào có những biểu
hiện qúa mức về những dấu hiệu tiêu biểu như
tiêu chảy, giảm bạch cầu trung tính, bác sĩ có thể
nghĩ tới việc xác định kiểu gen UGT1A1, tuỳ vào
kiểu gen đồng hợp tử hay dị hợp tử allele *28 sẽ
có phương án điều trị phù hợp với bệnh nhân.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đa hình gen UGT1A1128 liên quan đến đáp ứng thuốc Irinotecan ở người Kinh Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
425
NGHIÊN CỨU ĐA HÌNH GEN UGT1A1*28 LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁP ỨNG THUỐC
IRINOTECAN Ở NGƯỜI KINH VIỆT NAM
Nguyễn Hải Hà1,2, Nguyễn Thị Thanh Hoa1, Vũ Bình Giang3, Vũ Phương Nhung1, Hoàng Thị
Thu Yến4, Nguyễn Đăng Tôn1, 2, Bạch Thị Như Quỳnh3,
1Viện Nghiên cứu hệ gen ,Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
4Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
Người chịu trách nhiệm liên lạc. E-mail: nhuquynha@gmail.com
Ngày nhận bài : 21.01.2020
Ngày nhận đăng : 27.3.2020
TÓM TẮT
Irinotecan là một loại thuốc thường được sử dụng để điều trị ung thư. Carboxylesterase chuyển
hóa irinotecan thành SN-38, một chất với độc tính tế bào cao gấp 100 lần so với hợp chất gốc. SN-38
bị bất hoạt bởi glucuronidation trong gan thành glucuronidation SN-38 dạng không hoạt động.
UGT1A1 là enzyme chính chịu trách nhiệm cho việc bài tiết glucuronidation SN-38. Giảm bạch cầu
trung tính và tiêu chảy là độc tính giới hạn của liều thuốc. Biến thể gen UGT1A1*28 được cho rằng
làm tăng nguy cơ giảm bạch cầu trung tính và có liên quan mật thiết đến nguy cơ bị tiêu chảy nghiêm
trọng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp giải trình tự trực tiếp đoạn promoter
gen UGT1A1 để xác định tần số kiểu gen và tần số allele biến thể UGT1A1*28 trên 95 người Kinh
khỏe mạnh. Kết quả cho thấy, biến thể UGT1A1*28 có trong kiểu gen dị hợp và đồng hợp với tần số
tương ứng là 14,74% và 1,05%. Tần số allele của biến thể UGT1A1*28 là 8,421% là nhỏ so với allele
kiểu dại *1 (91,579%). Dữ liệu thu được của nghiên cứu góp phần đưa ra giải pháp điều trị hiệu quả
bệnh ung thư có sử dụng thuốc irinotecan.
Từ khóa: Irinotecan, UDP-glycosyltransferase, gen UGT1A1, UGT1A1*28, UGT1A1*1,
UGT1A1*1/*28, UGT1A1*28/*28
MỞ ĐẦU
Trên thế giới, các nước tiên tiến đang hướng
tới việc cá nhân hoá trong chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng. Vì vậy mà thuật ngữ
“pharmacogenomics” (hệ gen dược lý) đang
ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Pharmacogenomics bao gồm việc tìm hiểu sự
khác biệt trong bộ gen mỗi người và ảnh hưởng
của những biến đổi di truyền đến tác dụng của
thuốc, nhằm nâng cao an toàn và cải thiện hiệu
quả điều trị (Daly, 2017). Mỗi người trong chúng
ta đều sở hữu một bộ gen riêng biệt không giống
bất kì ai. Bộ gen vẫn tương đối giống nhau ở mỗi
người chỉ khác ở phần trăm rất nhỏ các biến thể
di truyền, được gọi là đa hình. Trong khi nhiều
đa hình không làm thay đổi đáng kể chức năng
gen thì số khác lại ảnh hưởng đến biểu hiện hoặc
cấu trúc gen và cuối cùng là hoạt động của
protein mã hóa, đây là những thông tin được quan
tâm đặc biệt liên quan đến việc chẩn đoán và điều
trị (Berger et al., 2009). Những chẩn đoán và
điều trị hiện tại thường dựa trên các yếu tố như
tuổi tác, cân nặng, sinh hóa cơ thể và bệnh tật.
Tuy nhiên những yếu tố này sẽ không ứng dụng
được trên tất cả các bệnh nhân. Số lượng bệnh
nhân cho đáp ứng có lợi của một loại thuốc nhất
định rơi vào khoảng 25% đến 80% (Spear et al.,
Nguyễn Hải Hà et al.
426
2001). Đặc biệt có khoảng 6% số ca nhập viện có
liên quan đến phản ứng bất lợi của thuốc
(Pirmohamed et al., 2004). Người ta ước tính
rằng hơn 97% dân số thế giới mang ít nhất một
biến thể trong một gen có thể ảnh hưởng đến đáp
ứng của thuốc bằng cách làm rối loạn các quá
trình dược động học hoặc dược lực học trong cơ
thể (Dunnenberger et al., 2015).
Gen UGT1A1 thuộc họ UGT1 có tên đầy đủ
là UDP Glucuronosyltransferase Family 1
Member A1 thuộc nhóm gen UGT1A (UDP
Glucuronosyltransferase) đảm nhiệm chức
năng mã hoá enzym UDP-
glucuronosyltransferase 1-1 (UGT1A1). Gen
UGT1A1 nằm trên NST số 2, tại vị trí 2q37.1
với kích thước 13.052 base (GeneCards, 2020;
HUGO Gene Nomenclature Committee, 2020;
The National Center for Biotechnology
Information, 2020; UniProt Knowledgebase,
2020). Hiện nay, có hơn 135 biến thể di truyền
của UGT1A1 đã được báo cáo trong các nghiên
cứu (Pharmacogenomics Laboratory, 2005;
Strassburg, 2008). Enzyme được mã hoá bởi
gen UGT1A1 có kích thước 533 acid amin và
khối lượng phân tử 59591 Da (Dalton).
UGT1A1 có vai trò quan trọng trong việc
chuyển hoá loại bỏ các chất độc hại ngoại sinh
và nội sinh, được biết đến nhiều nhất với vai trò
loại bỏ bilirubin - cơ chất nội sinh chính của nó
(GeneCards, 2020; UniProt Knowledgebase,
2020). Sự không hoạt động hoặc các allele hoạt
động/biểu hiện kém của UGT1A1 có liên quan
đến sự phát triển của chứng tăng bilirubin máu
không liên hợp trong hội chứng Crigler-Najjer
và hội chứng Gilbert. UGT1A1 cũng quan
trọng đối với sự kết hợp của nhiều estrogen bao
gồm estrogen catechol, 17-estradiol, 2-
hydroxyestrone,... Ngoài ra, các chất khác được
biết đến như acetaminophen, belinostat,
carvedilol, entacapone, ethinylestradiol,
etoposide, fulvestrant, raloxifene, simvastatin,
SN-38, chất chuyển hoá Warfarin. Trong đó,
chất liên quan đặc biệt đến dược động học là
SN-38 đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu
(Meech et al., 2019).
Irinotecan là một dẫn xuất của camptothecin
có tác dụng ức chế hoạt động của topoisomerase
I, ngăn chặn sự tổng hợp chuỗi DNA bằng cách
liên kết với phức hợp I-DNA topoisomerase gây
đứt gãy DNA sợi đôi và chết tế bào. Irinotecan là
một loại thuốc thường được sử dụng để điều trị
ung thư tuyến tụy, ung thư đại tràng, ung thư
phổi nó có thể dùng đơn độc hoặc trong liệu
pháp phối hợp (Drugbank,
2019). Carboxylesterase chuyển hóa irinotecan
thành SN-38, một chất chuyển hóa với độc tính
tế bào cao gấp 100 lần so với hợp chất gốc. SN-
38 bị bất hoạt bởi glucuronidation trong gan
thành glucuronidation SN-38 dạng không hoạt
động và bài tiết vào tá tràng. UGT1A1 là enzyme
chính chịu trách nhiệm cho việc bài tiết
glucuronidation SN-38. Những tác dụng phụ hay
gặp khi dùng irinotecan là giảm bạch cầu trung
tính và tiêu chảy có thể đủ nghiêm trọng để giảm
liều hoặc ngừng điều trị. Có khoảng 7% bệnh
nhân bị giảm bạch cầu nặng và sốt do điều trị
irinotecan và chết vì những biến chứng này
(Meech et al., 2019). Các biến thể di truyền của
protein liên quan đến chuyển hóa và vận chuyển
irinotecan đã được xem xét trong việc phát triển
độc tính của irinotecan. Cụ thể, các đa hình ảnh
hưởng đến biểu hiện hoặc hoạt động của
UGT1A1 đang được nghiên cứu. Biến thể
UGT1A1*28 có liên quan đến độc tính của thuốc
với khoảng 10% dân số Bắc Mỹ là đồng hợp tử
về allele *28 tăng nguy cơ giảm bạch cầu sau khi
tiêm irinotecan (Hall et al., 1999). Tỷ lệ giảm
bạch cầu nặng ở bệnh nhân đồng hợp tử *28 cao
tới 36% và có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ nhập
viện cao hơn (Office of Genomics and Precision
Public Health, 2011; Shulman et al., 2011;
Etienne-Grimaldi et al., 2015). Một allele biến
thể khác, UGT1A1*6, phổ biến hơn ở dân số
Châu Á cũng có thể là một yếu tố dự báo quan
trọng về độc tính đối với sử dụng thuốc
irinotecan ở dân cư Đông Bắc Á khi biến thể này
cũng làm giảm hoạt động của enzyme UGT1A1
(Zhang et al., 2017). Biến thể rs11563250G đã
được nghiên cứu cho thấy có nguy cơ thấp hơn
gây ra giảm bạch cầu trung tính khi dùng
irinotecan và những người mang biến thể này có
thể dung nạp liều irinotecan cao hơn, đặc biệt khi
có kiểu gen UGT1A1*1/*1 (Chen et al., 2015).
Trong số các biến thể này, UGT1A1*28 đã được
coi là dấu hiệu dược lý dự đoán chính cho độc
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
427
tính huyết học nghiêm trọng (giảm bạch cầu
trung tính) (Biason et al., 2008).
Những nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy
tần số xuất hiện của allele *28 có sự dao động
nhiều ở các quần thể khác nhau: 26-31% ở quần
thể người da trắng, 42-56% ở quần thể người Châu
Phi và 9-16% ở quần thể người Châu Á (Hall et
al., 1999; Iyer et al., 1999). Mặt khác, bệnh nhân
đồng hợp tử với allele *28 có khả năng bị giảm
bạch cầu trung tính nghiêm trọng gấp 3,5 lần so
với các cá nhân có kiểu gen kiểu dại (Palomaki et
al., 2009) nên việc xác định tần số kiểu gen, tần số
allele *28 của UGT1A1 trong mỗi quần thể là rất
cần thiết. Trong vài năm trở lại đây, tại Việt Nam
đã có một số nghiên cứu về đa hình di truyền một
số gen tham gia chuyển hóa thuốc pha I trên quần
thể người Kinh như CYP2C9, CYP2C19 và
CYP2D6 (Vu et al., 2018; Nguyen et al., 2019; Vu
et al., 2019). Mặc dù vậy, thông tin về các biến thể
di truyền thuộc nhóm gen tham gia chuyển hóa
thuốc pha II trong đó có UGT1A1 còn chưa được
làm rõ. Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi
tiến hành xác định tỷ lệ xuất hiện kiểu gen, tần số
allele *28 liên quan đến phản ứng có hại của thuốc
irinotecan ở người Việt Nam nhằm góp phần nâng
cao tính an toàn, cải thiện hiệu quả trong sử dụng
và điều trị thuốc irinotecan cho người Việt Nam.
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nguyên liệu
Chín mươi sáu mẫu DNA tổng số tách của
người Kinh khỏe mạnh (48 nam, 48 nữ) lưu giữ
tại Viện nghiên cứu hệ gen, được sử dụng cho
nghiên cứu biến thể UGT1A1*28. Nghiên cứu
này đã thông qua Hội đồng Y đức của Viện
Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam.
Phương pháp
Thiết kế mồi đặc hiệu và PCR khuếch đại vùng
gen quan tâm
Cặp mồi được thiết kế để khuếch đại đoạn
promoter gen UGT1A1 bằng cách sử dụng phần
mềm Primer 3 (v.0.4.0) dựa trên trình tự gen đã
được đăng ký trên Genbank với mã số
NG_033238.1, được tổng hợp và cung cấp bởi
công ty Sinh hóa Phù Sa-Cần Thơ. Cặp mồi có
trình tự như sau: Mồi xuôi F: 5’-
CTGGGGATAAACATGGGATG-3’ và mồi
ngược R: 5’ CACCACCACTTCTGGAACCT-
3’. Các đặc trưng và tính đặc hiệu của cặp mồi
được kiểm tra bằng các công cụ IDT
OligoAnalyzer Tool và In-silico PCR
amplification. Nhiệt độ gắn mồi là 60oC nhằm
mục đích khuếch đại đoạn promoter gen
UGT1A1 dài 606 bp.
Phản ứng PCR được thực hiện với tổng thể
tích cuối cùng của mỗi phản ứng là 20 μl bao
gồm: 1 μl DNA tổng số (20 ng/ μl), 0,5 μl mỗi
mồi (10 pmole/ μl), 10 μl Taq 2X Mastermix
(New England Biolab, USA), 8 μl nước khử ion
(Life Technologies, USA). Chu trình nhiệt:
95oC/2 min, 38 chu kỳ (95oC/30s–60oC/15s–
68oC/45s), 68oC/5min, 4oC/∞. Sản phẩm của
phản ứng được kiểm tra bằng điện di trên gel
agarose 1%. Sản phẩm PCR sau đó được tinh
sạch bằng E.Z.N.A. Cycle Pure Kit và bảo quản
ở (-) 20oC.
Giải trình tự đoạn promoter gen UGT1A1
Sản phẩm PCR đã tinh sạch được thực hiện
phản ứng cycle sequencing với BigDye V3.1
(Applied Biosystems) bằng cách sử dụng mồi
xuôi đã sử dụng trong phản ứng PCR trước đó.
Sản phẩm này sau đó được tinh sạch với ethanol,
biến tính trong HiDi formamide (Thermo
Scientific, USA) ở 95oC trong 2 phút trước khi
làm lạnh nhanh trên đá. Điện di mao quản được
thực hiện trên máy giải trình tự 3500 (Applied
Biosystems, USA).
Phân tích kết quả và xử lý dữ liệu
Trình tự nucleotide tham chiếu đoạn
promoter gen UGT1A1 được lấy từ cơ sở dữ liệu
nucleotide của NCBI mang mã số NG_033238.1.
Các trình tự nucleotide của mẫu so sánh với trình
tự tham chiếu bằng phần mềm BioEdit để xác
định nucleotide tại vị trí quan tâm. Các thuật toán
thống kê được thực hiện trên Microsoft Excel
2010. Định luật cân bằng Hardy-Weinberg được
áp dụng để đánh giá trạng thái cân bằng di truyền
quần thể. Tiêu chuẩn chi bình phương (χ2 ) được
Nguyễn Hải Hà et al.
428
áp dụng để so sánh tần số allele trong nghiên cứu
này với các quần thể được công bố khác và để
đánh giá trạng thái cân bằng của quần thể so với
định luật HardyWeinberg. Phân bố chuẩn được
dùng để ước lượng khoảng tin cậy cho tỷ lệ các
allele. Tất cả các phép xác suất thống kê dùng
trong nghiên cứu đều được tiến hành với độ tin
cậy 95% (95% CI).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
PCR đặc hiệu đoạn promoter gen UGT1A1
Trong nghiên cứu này, các mẫu DNA tổng số từ
96 mẫu máu người dân tộc Kinh được sử dụng
làm khuôn khuếch đại đoạn promoter gen
UGT1A1 có thể mang biến thể UGT1A1*28 với
cặp mồi dựa trên trình tự gen đã công bố trên
Genbank (NG_033238.1). Sản phẩm của phản
ứng PCR được điện di kiểm tra trên gel agarose
1%. Kết quả thu được thể hiện trên Hình 1 cho
thấy, sản phẩm PCR khuếch đại đoạn promoter
gen UGT1A1 thu được có kích thước khoảng 600
bp, kích thước này phù hợp theo tính toán lý
thuyết. Tiếp theo, sản phẩm PCR được tinh sạch
để giải trình tự.
Kết quả giải trình tự đoạn promoter gen
UGT1A1
Sản phẩm PCR khuếch đại đoạn promoter gen
UGT1A1 sau khi tinh sạch được giải trình tự 2
chiều xuôi và ngược. Sau khi phân tích trình tự
DNA thu được bằng phần mềm Bioedit với tổng
số 96 mẫu. Kết quả thu được trình tự đoạn
promoter gen UGT1A1 là 95/96 mẫu, trong đó có
01/96 mẫu không xác định được trình tự (chiếm
1,04 %). Trong 95 mẫu xác định được trình tự,
đoạn promoter gen UGT1A1 có xuất hiện 3 loại
kiểu gen có số đơn vị (TA) lặp lại khác nhau gồm
kiểu gen đồng hợp (TA)6TAA/(TA)6TAA; kiểu
gen dị hợp tử (TA)6TAA/ (TA)7TAA và đồng hợp
tử (TA)7TAA/(TA)7TAA. Trong đó, allele
(TA)6TAA được biết đến là allele kiểu dại
UGT1A1*1 hay allele *1 ở người bình thường cho
chức năng enzyme UGT1A1 bình thường. Allele
(TA)7TAA là biến thể UGT1A1*28 có biểu hiện
enzyme UGT1A1 kém hơn so với người bình
thường, là nguyên nhân làm giảm khả năng bài tiết
một số chất gây độc tính cho cơ thể (SN-38) dẫn
đến các tác dụng phụ nghiêm trọng khi sử dụng
thuốc irinotecan ở những người có allele này (U.S.
Food and Drug Administration, 1996). Kết quả
xác định allele trong nghiên cứu này ở người dân
tộc Kinh có khác biệt so với nghiên cứu khác được
thực hiện trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng
(n=38) ở người Việt Nam. Trong nghiên cứu trên
bệnh nhân ung thư đại trực tràng, ngoài 2 allele *1
và *28 còn xuất hiện thêm trình tự (TA)5 còn được
gọi là *36 với 8/38 cá thể mang kiểu gen dị hợp tử
*1/*36, nhiều hơn so với allele *28 chỉ có 6/38 cá
thể mang kiểu gen dị hợp tử *1/*28 (Phạm Thị
Hồng Nhung et al., 2016). Đáng chú ý là biến thể
UGT1A1*36 trong các nghiên cứu chỉ được ghi
nhận xuất hiện ở các quần thể có nguồn gốc Châu
Phi, với tần số allele dao động từ 3-10%, thấp hơn
so với tần số allele *28 (Dean, 2015).
Hình 1. Kết quả điện di sản phẩm PCR khuếch đại
đoạn promoter gen UGT1A1. M: Marker DNA 1 kb plus
(Thermo Scientific; Sample: sản phẩm PCR khuếch
đại đoạn promoter gen UGT1A1 của một mẫu nghiên
cứu.
Phân tích tần số kiểu gen và tần số allele
UGT1A1*28 ở người Kinh
Từ kết quả xác định trình tự đoạn promoter gen
UGT1A1 của 95 mẫu nghiên cứu, chúng tôi tiến
hành phân tích tần số kiểu gen UGT1A1 dựa trên
sự xuất hiện của allele *1 và *28. Kết quả tần số
kiểu gen UGT1A1 và allele *28 của 95 mẫu này
được trình bày ở bảng 1.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
429
Hình 2. Kết quả giải trình tự đoạn promoter gen UGT1A1. (a) Đồng hợp tử kiểu dại UGT1A1 *1/*1, (b) Dị hợp tử
UGT1A1*1/*28, (c) Đồng hợp tử đột biến UGT1A1*28/*28
Bảng 1. Tần số kiểu gen và allele *28 của gen UGT1A1 trên người Kinh Việt Nam.
Tần số
Kiểu gen (n=95) Allele (n=190)
*1/*1 *1/*28 *28/*28 *1 *28
Nghiên cứu này 80 (84,21%) 14 (14,74%) 1(1,05%) 174 (91,58%) 16 (8,42%)
Hardy- Weinberg 79,674 % 14,652 % 0,674 %
Kiểm định Chi bình
phương (χ2)
χ2= 0,0792 p= 0,9612
Bảng 1 cho thấy, gen UGT1A1 có kiểu gen
đồng hợp tử allele kiểu dại *1/*1 chiếm đa số với
tỷ lệ 84,21% (n=80). Kiểu gen dị hợp tử *1/*28
có tỷ lệ thấp hơn 5,71 lần so với kiểu gen *1/*1
khi chỉ chiếm 14,74% (n=14). Kiểu gen đồng hợp
tử *28/*28 xuất hiện với tỷ lệ rất thấp 1,05% với
1 trường hợp. Như vậy, trong nhóm nghiên cứu
có 15,79% cá thể (n=15) mang ít nhất một allele
biến thể UGT1A1*28. Như vậy, tần số allele của
biến thể UGT1A1*28 trong mẫu nghiên cứu cũng
không phải nhỏ, có thể gọi là một đa hình gen
thay vì chỉ là một đột biến hiếm gặp (tần số allele
nhỏ hơn 1%). Trong nghiên cứu với bệnh nhân
ung thư đại trực tràng ở người Việt Nam không
có cá thể nào mang kiểu gen đồng hợp tử *28/*28
(Phạm Thị Hồng Nhung et al., 2016). Điều này
có thể được giải thích do tỷ lệ kiểu gen *28/*28
trong quần thể rất ít (0,67%) nên với cỡ mẫu nhỏ
(n=38) trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng
chưa bắt gặp kiểu gen *28/*28, và khi nâng cỡ
mẫu lên n=95 trong nghiên cứu này thì kiểu gen
*28/*28 mới xuất hiện.
Dựa trên tần số kiểu gen của mẫu nghiên cứu,
chúng tôi đã xác định được tần số allele *28 là
8,42%, từ đó kiểm định với định luật cân bằng di
truyền trong quần thể Hardy – Weinberg cho kết
quả tần số allele *28 có tuân theo định luật này
(a)
(b)
(c)
Nguyễn Hải Hà et al.
430
với χ2 = 0,0792 và p= 0,9612. Điều này chứng tỏ
tần số allele *28 đã được di truyền ổn định trong
quần thể và nhóm mẫu nghiên cứu đủ đại diện
cho quần thể người Việt Nam. Kiểm định tần số
allele *28 trong nghiên cứu của chúng tôi với tần
số allele *28 trong nhóm bệnh nhân ung thư đại
trực tràng ở người Việt Nam thì không có khác
biệt có ý nghĩa thống kê (χ2= 0,0198 và
p=0,8880) (Phạm Thị Hồng Nhung et al., 2016).
Điều này một lần nữa khẳng định biến thể
UGT1A1*28 đã ổn định trong di truyền quần thể,
đồng thời không có sự khác biệt về tần số allele
*28 giữa nhóm người khoẻ mạnh (8,42%) và mắc
bệnh ung thư đại trực tràng (7,89%) ít nhất trong
quần thể người Việt Nam, hay biến thể
UGT1A1*28 không ảnh hưởng đến nguy cơ mắc
bệnh ung thư. Bên cạnh đó, có thể thấy việc xét
nghiệm đa hình đoạn promoter gen UGT1A1 trên
đối tượng bệnh nhân ung thư Việt Nam trước khi
điều trị bằng irinotecan là không thực sự cần thiết
vì tần số kiểu gen đồng hợp tử *28/*28 trong
quần thể nhỏ (1,05%).Độc tính khi dùng
irinotecan chỉ xảy ra nghiêm trọng với kiểu gen
đồng hợp tử *28/*28 và giảm đáng kể mức độ
khi ở kiểu gen dị hợp tử *1/*28. Điều này đã
được thể hiện qua những khuyến cáo lâm sàng
thống nhất của FDA (U.S. Food and Drug
Administration) trong năm 2017, DPWG (The
Dutch Pharmacogenetics Working Group) trong
năm 2014, RNPGx (The French National
Network of Pharmacogenetics) trong năm 2017
chỉ hiệu chỉnh liều với những bệnh nhân có kiểu
gen đồng hợp tử *28/*28 với liều khởi đầu là
70% so với liều thông thường. Sau đó, hiệu chỉnh
liều tuỳ theo mức đáp ứng của bệnh nhân. Còn
bệnh nhân có kiểu gen dị hợp tử *1/*28 thì không
cần hiệu chỉnh liều (Dean, 2015). Chính vì thế,
thay vì chỉ định sàng lọc biến thể UGT1A1*28
ngay từ đầu, dễ gây lãng phí và tăng chi phí điều
trị không cần thiết cho bệnh nhân ung thư tại Việt
Nam, các bác sĩ có thể vẫn kê đơn với liều điều
trị thông thường và theo dõi chặt chẽ các biểu
hiện trên bệnh nhân sử dụng irinotecan với
những dấu hiệu tiêu biểu như tiêu chảy, giảm
bạch cầu trung tính. Nếu bệnh nhân nào có những
biểu hiện quá mức về những triệu chứng này, bác
sĩ có thể cân nhắc việc xác định kiểu gen của
bệnh nhân có chứa allele *28 hay không. Nếu có
thì tuỳ vào kiểu gen đồng hợp tử hay dị hợp tử
*28 sẽ có phương án điều trị phù hợp với bệnh
nhân như hiệu chỉnh liều dựa trên những khuyến
cáo lâm sàng (Dean, 2015), thay thế thuốc phối
hợp dựa trên tương tác của irinotecan với các
thuốc khác (U.S. Food and Drug Administration,
1996) hoặc thay đổi lối sống, chế độ ăn uống dựa
trên kiểu gen (Marques, Ikediobi, 2010). Trong
trường hợp những bệnh nhân ngoại quốc điều trị
tại Việt Nam, trước khi kê đơn cho bệnh nhân sử
dụng thuốc irinotecan cần quan tâm đến tần số
allele *28 trong quần thể của bệnh nhân để xem
xét có nên cho bệnh nhân xét nghiệm đa hình
đoạn promoter gen UGT1A1 hay không.
So sánh tần số allele UGT1A1*28 của người
Kinh với các quần thể khác trên thế giới
Mối quan tâm về mức độ phổ biến của
UGT1A1*28 trong các quần thể được thể hiện
trên nhiều các công trình nghiên cứu của
nhiều quốc gia (3 nhóm chính ở Malaysia: Mã
Lai, Trung Quốc, Ấn Độ, người Mỹ gốc
Phi,) và trên nhiều đối tượng (người trưởng
thành khoẻ mạnh, bệnh nhi, bệnh nhân ung
thư,) (Liu et al., 2017). Do đó, chúng tôi
tiến hành so sánh tần số allele *28 người dân
tộc Kinh ở quần thể người Việt Nam với các
quần thể trong nghiên cứu tìm được. Tiêu
chuẩn lựa chọn allele *28 từ các nhóm nghiên
cứu đã công bố là nghiên cứu phải có cỡ mẫu
chính xác (n) xác định được tần số allele hoặc
tần số kiểu gen và tuân theo định luật Hardy –
Weinberg, vì khi đó nhóm cá thể được xét đã
đủ đại diện cho quần thể nghiên cứu. Những
nhóm cá thể được chọn đại diện cho những
quần thể có đặc trưng về di truyền cao như có
cùng nguồn gốc (người bản xứ) hay cùng màu
da (người da trắng gốc Âu); ở các vị trí địa lý
đa dạng trên thế giới (Châu Á, Châu Phi, Châu
Âu) và ở mỗi châu lục lại lấy ở những vị trí
khác nhau. Nghiên cứu đã chọn lọc được 16
nhóm cá thể để tiến hành so sánh tần số allele
*28 gen UGT1A1 ở Việt Nam với 16 khu vực
trên thế giới (Bảng 2).
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
431
Bảng 2. So sánh tần số allele UGT1A1 *28 ở các quần thể trên thế giới.
STT Khu vực N
Tần số
allele
*28 (%)
Tài liệu tham khảo χ2 P
1 Việt Nam – Nghiên cứu này 95 8,421
2
Đông Nam Á
Việt Nam 38 7,895 (Phạm Thị Hồng Nhung et
al., 2016)
0,0198 0,8880
3 Malaysia 93 18,817* (Jada et al., 2007) 8,6646 0,0032
4 Đông Á Nhật Bản 150 12,333* (Kobayashi et al., 2012) 1,8458 0,1743
5 Trung Quốc 89 15,730* (Jada et al., 2007) 4,6642 0,0308
6 Nam Á Ấn Độ 84 35,119* (Jada et al., 2007) 38,3756 5,8357.10-10
7 Trung Đông Yemem 139 32 (Horsfall et al., 2011) 36,0674 1,9061.10-9
8 Thổ Nhĩ Kỳ 96 38 (Horsfall et al., 2011) 46,7694 7,9850.10-12
9 Châu Âu Người da
trắng gốc Âu
71 38,732* (Beutler et al., 1998) 44,4111 2,6617.10-11
10 Bắc Âu Anh 90 35 (Horsfall et al., 2011) 38,8851 4,4950.10-10
11 Tây Âu Hà Lan 430 33,721* (Te Morsche et al., 2001) 48,2374 3,7762.10-12
12 Đông Nam Âu Serbia 42 40,476* (Jordovic et al., 2019) 40,1200 2,3883.10-10
13 Tây Nam Âu Tây Ban Nha 100 34,5* (Fernandez Salazar et al.,
2000)
38,8785 4,5102.10-10
14 Bắc Phi Morocco 89 35 (Horsfall et al., 2011) 38,7603 4,7918.10-10
15 Algeria 183 34 (Horsfall et al., 2011) 43,3461 4,5864.10-11
16 Tây Phi Nigeria 99 45 (Horsfall et al., 2011) 65,6867 5,2862.10-16
17 Trung Phi Ethiopia 367 43 (Horsfall et al., 2011) 78,4339 8,2718.10-19
18 Đông Nam Phi Tanzania 50 43 (Horsfall et al., 2011) 48,3405 3,5828.10-12
Ghi chú: n: Tổng số mẫu nghiên cứu; *: Tần số allele được tính toán dựa trên cỡ mẫu và số người mang allele của nghiên
cứu, tần số allele không được đánh dấu * là tần số đã có sẵn trong nghiên cứu; χ2: Giá trị Chi bình phương; p: mức ý nghĩa
thống kê. Với độ tin cậy 95%, p < 0,05 thì sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê.
So sánh tần số allele *28 của nghiên cứu này
với 16 nghiên cứu khác trên nhiều khu vực địa lý
thế giới thấy có nhiều điểm thú vị. Trước tiên,
tuy rằng tần số allele *28 ở người Việt Nam rất
thấp, thậm chí thấp nhất trong các quần thể được
so sánh nhưng vẫn có mặt allele này với 16
nghiên cứu khác được trải dài 3 châu lục Á-Âu-
Phi. Hay nói cách khác, tần số allele *28 có thể
khác nhau trên từng quần thể cụ thể nhưng lại có
mặt phổ biến trên thế giới nếu xét về số lượng
chủng tộc, số lượng quốc gia có allele này trong
quần thể. Để có thể phổ biến trên thế giới như
vậy, ắt hẳn đây không phải là một biến thể mới
xuất hiện mà đã tồn tại và ổn định qua rất nhiều
thế hệ. Điều này cũng hợp lý khi cỡ mẫu của các
nghiên cứu có sự chênh lệch rất lớn từ vài chục
(42 mẫu ở Serbia, 71 mẫu ở người da trắng gốc
Âu,) đến vài trăm (367 mẫu ở Ethiopia, 430
mẫu ở Hà Lan,) nhưng tất cả đều tuân theo
định luật cân bằng quần thể Hardy – Weinberg.
Thứ 2, tần số allele *28 có sự chênh lệch lớn giữa
các vùng khác nhau trên thế giới. Tần số allele
trong bảng so sánh dao động từ 8,421% – 45%,
trong đó thấp nhất là Việt Nam (8,421%), Nhật
Bản (12,333%), Trung Quốc (15,730%), cao hơn
là các quốc gia thuộc khu vực Châu Âu; Trung
Đông và sát khu vực này như Anh (35%); Hà Lan
(33,71%); Ấn Độ (35,119%); Yemem (32%),
Thổ Nhĩ Kỳ (38%). Cao nhất danh sách so sánh
là các quốc gia thuộc Châu Phi như Tanzania
(43%); Ethiopia (43%); Nigeria (45%). Đặc điểm
phân bố theo khu vực địa lý cũng gần như tương
đồng với đặc điểm về sắc tộc như khu vực Châu
Á chủ yếu là người da vàng, Châu Âu là người
da trắng và Châu Phi là người da đen. Đối chiếu
tương ứng với các châu lục thì suy ra tần số allele
Nguyễn Hải Hà et al.
432
*28 cao nhất trong quần thể người da đen, trung
bình ở người da trắng và thấp nhất ở người da
vàng. Như vậy, dễ hiểu vì sao Mỹ - một hợp
chủng quốc với dân số chủ yếu là người da trắng
và nền kinh tế, y học phát triển đã sớm đưa ra
khuyến cáo (FDA) xác định biến thể
UGT1A1*28 cho bệnh nhân trước khi điều trị
bằng irinotecan từ năm 2005 (Perera et al.,
2008), bởi tần suất allele *28 trong người da
trắng không hề nhỏ. Còn Châu Phi tuy với tần số
allele *28 cao nhưng kinh tế, xã hội còn kém phát
triển nên chỉ được nghiên cứu ở vài năm sau đó.
Cùng với đó, một giả thiết có thể đặt ra về nguồn
gốc của biến thể *28 dựa trên tần số allele, rất có
thể biến thể này có nguồn gốc từ Châu Phi (người
da đen) hoặc Châu Âu (người da trắng), qua quá
trình du nhập dân cư nên đã mang biến thể này di
truyền vào quần thể người Châu Á (da vàng) nên
Châu Á có tỷ lệ biến thể này thấp nhất, đặc biệt
là khu vực phía Đông, cách xa với Châu Phi và
Châu Âu.
Theo kết quả so sánh, tần số allele *28 ở Việt
Nam có sự tương đồng với Nhật Bản (χ2=1,8458;
p= 0,1743), một quốc gia ở khu vực Đông Á,
thuộc chủng tộc da vàng và có vùng lãnh thổ nhỏ
hẹp bao quanh bởi biển. Tần số allele ở các nước
khác trong khu vực Đông Nam Á như Trung
Quốc (15,730%), Malaysia (18,817%) tuy có
thấp hơn so với các khu vực Trung Đông, Châu
Âu, Châu Phi nhưng vẫn cao hơn so với Việt
Nam và có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê:
Trung Quốc (χ2 =4,6642; p=0,0308); Malaysia
(χ2=8,6646; p=0,0032). Điều này có thể giải
thích do lãnh thổ Trung Quốc rộng lớn, có vùng
biên giới tiếp giáp với Trung Đông và trong giai
đoạn thế kỷ 19 đến những năm 1949, do chiến
tranh, nạn đói nên có sự di cư hàng loạt trong dân
số Trung Quốc làm cho đặc điểm dân số ở đây ít
nhiều đã có sự đa dạng về nguồn gốc di truyền
hơn so với Việt Nam. Malaysia là một quốc gia
có lãnh thổ trải dài, lịch sử chính trị phức tạp tạo
nên một quần thể đa sắc tộc khiến những đặc
điểm về mặt di truyền cũng có nhiều khác biệt so
với Việt Nam. Cuối cùng, tần số allele *28 trong
nghiên cứu này cũng góp phần kiểm chứng
những nhận định từ nghiên cứu trước đó, là cơ
sở, nguồn so sánh dữ liệu cho những nghiên cứu
sau này ở cả trong và ngoài nước. Tổng quan các
nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy tần số
allele *28 dao động nhiều ở các quần thể khác
nhau: người da trắng (26-31%); người Châu Phi
(42-56%); người Châu Á (9-16%) (Hall et al.,
1999; Iyer et al., 1999) và trong nghiên cứu của
chúng tôi những nhận định đó cũng tương đồng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã xác định được biến thể
UGT1A1*28 có trong kiểu gen dị hợp và đồng
hợp với tần số tương ứng là 14,74% và 1,05%.
Tần số allele của biến thể UGT1A1*28 là 8,421%
trên 95 người Kinh là nhỏ so với allele kiểu dại
*1 (91,579%). Kết quả phân tích cho thấy biến
thể UGT1A1*28 không ảnh hưởng đến nguy cơ
mắc bệnh ung thư đại trực tràng và những bệnh
nhân ung thư cũng không có tần số allele *28
(7,89%) khác biệt so với người khoẻ mạnh
(8,42%). Nghiên cứu của chúng tôi khuyến cáo
việc xét nghiệm đa hình UGT1A1*28 trên đối
tượng bệnh nhân ung thư Việt Nam trước khi
điều trị bằng ironotecan là không thực sự cần
thiết, dễ gây lãng phí và tăng chi phí điều trị cho
bệnh nhân. Nếu bệnh nhân nào có những biểu
hiện qúa mức về những dấu hiệu tiêu biểu như
tiêu chảy, giảm bạch cầu trung tính, bác sĩ có thể
nghĩ tới việc xác định kiểu gen UGT1A1, tuỳ vào
kiểu gen đồng hợp tử hay dị hợp tử allele *28 sẽ
có phương án điều trị phù hợp với bệnh nhân.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện với
sự hỗ trợ về cơ sở vật chất và thiết bị của Viện
Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm KH&CN Việt
Nam và Labo công nghệ cao, Trường Đại học Y
Dược Hải Phòng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Berger SL, Kouzarides T, Shiekhattar R, Shilatifard A
(2009) An operational definition of epigenetics.
Genes Dev 23(7): 781-783.
Beutler E, Gelbart T, Demina A (1998) Racial
variability in the UDP-glucuronosyltransferase 1
(UGT1A1) promoter: a balanced polymorphism for
regulation of bilirubin metabolism? Proc Natl Acad
Sci USA 95(14): 8170-8174.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
433
Biason P, Masier S, Toffoli G (2008) UGT1A1*28
and other UGT1A polymorphisms as determinants of
irinotecan toxicity. J Chemother 20(2): 158-165.
Chen S, Laverdiere I, Tourancheau A, Jonker D,
Couture F, Cecchin E, Villeneuve L, Harvey M, Court
MH, Innocenti F, Toffoli G, Levesque E, Guillemette
C (2015) A novel UGT1 marker associated with better
tolerance against irinotecan-induced severe
neutropenia in metastatic colorectal cancer patients.
Pharmacogenomics J 15(6): 513-520.
Daly AK (2017) Pharmacogenetics: a general review
on progress to date. Br Med Bull 124(1): 65-79.
Dean L, Irinotecan Therapy and UGT1A1 Genotype,
in: Medical Genetics Summaries 2015, National
Center for Biotechnology Information: Bethesda
(MD), USA. p. 235-246.
Drugbank. Irinotecan. 2019; Available from: mở
https://www.drugbank.ca/drugs/DB00762. Tra cứu
19/08/2020.
Dunnenberger HM, Crews KR, Hoffman JM, Caudle
KE, Broeckel U, Howard SC, Hunkler RJ, Klein TE,
Evans WE, Relling MV (2015) Preemptive clinical
pharmacogenetics implementation: current programs
in five US medical centers. Annu Rev Pharmacol
Toxicol 55: 89-106.
Etienne-Grimaldi MC, Boyer JC, Thomas F, Quaranta
S, Picard N, Loriot MA, Narjoz C, Poncet D, Gagnieu
MC, Ged C, Broly F, Le Morvan V, Bouquie R, Gaub
MP, Philibert L, Ghiringhelli F, Le Guellec C (2015)
UGT1A1 genotype and irinotecan therapy: general
review and implementation in routine practice.
Fundam Clin Pharmacol 29(3): 219-237.
Fernandez Salazar JM, Remacha Sevilla A, del Rio
Conde E, Baiget Bastus M (2000) Distribution of the
A(TA)7TAA genotype associated with Gilbert
syndrome in the Spanish population. Med Clin (Barc)
115(14): 540-541.
GeneCards. UGT1A1 Gene - UDP
Glucuronosyltransferase Family 1 Member A1. 2020;
Available from: mở https://www.genecards.org/cgi-
bin/carddisp.pl?gene=UGT1A1. Tra cứu 11/04/2020.
Hall D, Ybazeta G, Destro-Bisol G, Petzl-Erler ML,
Di Rienzo A (1999) Variability at the uridine
diphosphate glucuronosyltransferase 1A1 promoter in
human populations and primates. Pharmacogenetics
9(5): 591-599.
Horsfall LJ, Zeitlyn D, Tarekegn A, Bekele E,
Thomas MG, Bradman N, Swallow DM (2011)
Prevalence of clinically relevant UGT1A alleles and
haplotypes in African populations. Ann Hum Genet
75(2): 236-246.
HUGO Gene Nomenclature Committee. Symbol
report for UGT1A1. 2020; Available from: mở
https://www.genenames.org/data/gene-symbol-
report/#!/hgnc_id/12530. Tra cứu 09/06/2020.
Iyer L, Hall D, Das S, Mortell MA, Ramirez J, Kim S,
Di Rienzo A, Ratain MJ (1999) Phenotype-genotype
correlation of in vitro SN-38 (active metabolite of
irinotecan) and bilirubin glucuronidation in human
liver tissue with UGT1A1 promoter polymorphism.
Clin Pharmacol Ther 65(5): 576-582.
Jada SR, Lim R, Wong CI, Shu X, Lee SC, Zhou Q,
Goh BC, Chowbay B (2007) Role of UGT1A1*6,
UGT1A1*28 and ABCG2 c.421C>A polymorphisms
in irinotecan-induced neutropenia in Asian cancer
patients. Cancer Sci 98(9): 1461-1467.
Jordovic J, Bojovic K, Simonovic-Babic J, Gasic V,
Kotur N, Zukic B, Vukovic M, Pavlovic S, Lazarevic
I, Bekic I, Nikolic N, Urosevic A, Mitrovic N, Delic
D (2019) Significance of UGT1A1*28 Genotype in
Patients with Advanced Liver Injury Caused By
Chronic Hepatitis C. J Med Biochem 38(1): 45-52.
Kobayashi M, Hazama S, Takahashi K, Oba K,
Okayama N, Nishioka M, Hinoda Y, Oka M,
Okamoto K, Maeda H, Nakamura D, Sakamoto J,
Mishima H (2012) Is there diversity among UGT1A1
polymorphism in Japan? World J Gastrointest Oncol
4(7): 170-175.
Liu XH, Lu J, Duan W, Dai ZM, Wang M, Lin S,
Yang PT, Tian T, Liu K, Zhu YY, Zheng Y, Sheng
QW, Dai ZJ (2017) Predictive Value of UGT1A1*28
Polymorphism In Irinotecan-based Chemotherapy. J
Cancer 8(4): 691-703.
Marques SC ,Ikediobi ON (2010) The clinical
application of UGT1A1 pharmacogenetic testing:
gene-environment interactions. Hum Genomics 4(4):
238-249.
Meech R, Hu DG, McKinnon RA, Mubarokah SN,
Haines AZ, Nair PC, Rowland A, Mackenzie PI
(2019) The UDP-Glycosyltransferase (UGT)
Superfamily: New Members, New Functions, and
Novel Paradigms. Physiol Rev 99(2): 1153-1222.
Nguyen HH, Ma TTH, Vu NP, Bach QTN, Vu TH,
Nguyen TD, Nong HV (2019) Single nucleotide and
structural variants of CYP2D6 gene in Kinh
Nguyễn Hải Hà et al.
434
Vietnamese population. Medicine (Baltimore)
98(22): e15891.
Office of Genomics and Precision Public Health.
Should UGT1A1 Genotyping Be Used to Predict
Response to Irinotecan Chemotherapy?, EGAPP™
Recommendation Statement. 2011; Available from:
mở
https://www.cdc.gov/genomics/gtesting/EGAPP/reco
mmend/UGT1A1.htm. Tra cứu 08/06/2020.
Palomaki GE, Bradley LA, Douglas MP, Kolor K,
Dotson WD (2009) Can UGT1A1 genotyping reduce
morbidity and mortality in patients with metastatic
colorectal cancer treated with irinotecan? An
evidence-based review. Genet Med 11(1): 21-34.
Perera MA, Innocenti F, Ratain MJ (2008)
Pharmacogenetic testing for uridine diphosphate
glucuronosyltransferase 1A1 polymorphisms: are we
there yet? Pharmacotherapy 28(6): 755-768.
Phạm Thị Hồng Nhung, Trần Quốc Hùng, Nguyễn
Văn Hồng, Bùi Sơn Nhật, Nguyễn Huy Hoàng, Đinh
Đoàn Long (2016) Xây dựng quy trình phân tích đa
hình vùng promoter của gen UGT1A1 ở bệnh nhân
ung thư đại trực tràng. Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội 32(1): 31-35.
Pharmacogenomics Laboratory. UGT Official
Nomenclature: UGT1A and UGT2B haplotypes and
SNPs tables. 2005; Available from: mở
https://www.pharmacogenomics.pha.ulaval.ca/ugt-
alleles-nomenclature/. Tra cứu 08/06/2020.
Pirmohamed M, James S, Meakin S, Green C, Scott
AK, Walley TJ, Farrar K, Park BK, Breckenridge AM
(2004) Adverse drug reactions as cause of admission
to hospital: prospective analysis of 18 820 patients.
Bmj 329(7456): 15-19.
Shulman K, Cohen I, Barnett-Griness O, Kuten A,
Gruber SB, Lejbkowicz F, Rennert G (2011) Clinical
implications of UGT1A1*28 genotype testing in
colorectal cancer patients. Cancer 117(14): 3156-
3162.
Spear BB, Heath-Chiozzi M, Huff J (2001) Clinical
application of pharmacogenetics. Trends Mol Med
7(5): 201-204.
Strassburg CP (2008) Pharmacogenetics of Gilbert's
syndrome. Pharmacogenomics 9(6): 703-715.
Te Morsche RH, Zusterzeel PL, Raijmakers MT,
Roes EM, Steegers EA, Peters WH (2001)
Polymorphism in the promoter region of the bilirubin
UDP-glucuronosyltransferase (Gilbert's syndrome) in
healthy Dutch subjects. Hepatology 33(3): 765.
The National Center for Biotechnology Information.
UGT1A1 UDP glucuronosyltransferase family 1
member A1 [Homo sapiens (human)]. 2020;
Available from: mở
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/gene?cmd=Retrieve&
dopt=full_report&list_uids=54658. Tra cứu
08/06/2020.
U.S. Food and Drug Administration. CAMPTOSAR
(IRINOTECAN HYDROCHLORIDE). 1996;
Available from: mở
https://www.accessdata.fda.gov/drugsatfda_docs/lab
el/2014/020571s048lbl.pdf. Tra cứu 08/06/2020.
UniProt Knowledgebase. UniProtKB - P22309
(UD11_HUMAN). 2020; Available from: mở
https://www.uniprot.org/uniprot/P22309. Tra cứu
08/06/2020.
Vu NP, Ma TTH, Tran NTB, Huynh HTT, Nguyen
TD, Nguyen DT, Van Nong H, Lee MTM, Nguyen
HH (2018) Polymorphic analysis of CYP2C9 gene in
Vietnamese population. Mol Biol Rep 45(5): 893-
900.
Vu NP, Nguyen HTT, Tran NTB, Nguyen TD, Huynh
HTT, Nguyen XT, Nguyen DT, Nong HV, Nguyen
HH (2019) CYP2C19 genetic polymorphism in the
Vietnamese population. Ann Hum Biol 46(6): 491-
497.
Zhang X, Yin JF, Zhang J, Kong SJ, Zhang HY, Chen
XM (2017) UGT1A1*6 polymorphisms are
correlated with irinotecan-induced neutropenia: a
systematic review and meta-analysis. Cancer
Chemother Pharmacol 80(1): 135-149.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 425-435, 2020
435
STUDY OF UGT1A1*28 POLYMORPHISM RELATED TO IRINOTECAN
RESPONSE IN KINH VIETNAMESE
Nguyen Hai Ha1, 2, Nguyen Thi Thanh Hoa1, Vũ Bình Giang3, Vu Phuong Nhung1, Hoang Thi
Thu Yen4, Nguyen Đăng Tôn1, 2, Bach Thi Nhu Quynh3
1Institute of Genome Research, Vietnam Academy of Science and Technology
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
3Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
4Thai Nguyen University of Sciences, Thai Nguyen University
SUMMARY
Irinotecan is a medicine commonly used to treat cancer. Carboxylesterase converts irinotecan into
SN-38, a substance with 100 times more cytotoxicity than the original compound. SN-38 is
inactivated by glucuronidation in the liver to the inactive form of SN-38 glucuronidation. UGT1A1
is the main enzyme responsible for the glucuronidation SN-38 secretion. Neutropenia and diarrhea
are dose-limiting toxicity of the drug. UG1A1*28 variant is believed to increase the risk of
neutropenia and is closely related to the risk of severe diarrhea. In this study, we used the direct
sequencing method of the promoter UGT1A1 gene to determine the genotype and allele frequency of
UGT1A1*28 in 95 individuals of healthy Kinh Vietnamese . The results showed that UGT1A1*28
variant is present in homozygousand heterozygous genotypes with frequencies of 14.74% and 1.05%,
respectively. The allele frequency of the UGT1A1*28 variant was 8.421% which was small compared
with the wild type allele *1 (91.579%). The data obtained from the study contribute to an effective
cancer treatment solution using the drug irinotecan.
Keywords: Irinotecan, UDP-glycosyltransferase, , UGT1A1 gene, UGT1A1*28, UGT1A1*1,
UGT1A1*1/*28, UGT1A1*28/*28
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_da_hinh_gen_ugt1a1128_lien_quan_den_dap_ung_thuoc.pdf