Trong nghiên cứu của chúng tôi, CLVT đa dãy có
thể phát hiện 32/32 trường hợp UTBMT dạ dày. Tỷ
lệ cao này có thể do chủ yếu là ung thư giai đoạn
tiến triển, chỉ có 3 trường hợp giai đoạn T1. Điều này
phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế giới: khả năng
phát hiện UTBMT dạ dày của MDCT có thể lên đến
100%. Khả năng chẩn đoán đúng chung cho các giai
đoạn là 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4%
và T4b 71.4%) so với kết quả nghiên cứu của Yan et
al là 73.8% (T1 45.93%, T2 53.03%, T3 86.49% và T4
85.79%) [11]. Chẩn đoán riêng từng giai đoạn: Giai
đoạn T1: Chẩn đoán đúng là 66.7%, độ nhạy, độ đặc
hiệu và độ chính xác lần lượt là 66.7%, 100% và 96.9%.
Giai đoạn T2-T3: Chẩn đoán đúng là 69.2%, độ nhạy,
độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 75%, 75% và
75%. Giai đoạn T4a: Chẩn đoán đúng là 44.4%, độ
nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 44.4%,
82.6% và 71.9%. Giai đoạn T4b: Chẩn đoán đúng là
71.4%, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt
là 71.4%, 88% và 84.4%. Ngoài giai đoạn T4a, các
giai đoạn còn lại có kết quả khá tương tự so với các
nghiên cứu của Nguyễn Minh Khánh, Nguyễn Đình
Hưởng, Lee MH và Yan et al [1], [2], [8], [11]. Giai đoạn
T4a có kết quả nghiên cứu thấp hơn so với nghiên
cứu của Lee IJ, Lee MH và Yan et al, có 3 trường hợp
đánh giá dưới giai đoạn và có 2 trường hợp đánh giá
quá giai đoạn. Điều này phản ánh tình trạng khó khăn
chung: hình ảnh thâm nhiễm mỡ quanh u có thể do
viêm xơ hay tế bào u và ranh giới để phân biệt mức độ
thâm nhiễm mỡ không rõ ràng [9], ngoài ra, thanh mạc
không đều dạng nốt là tiêu chuẩn chẩn đoán u xâm
lấn thanh mạc nhưng có thể nhầm lẫn trong trường
hợp giãn mạch máu và bạch mạch quanh u. Trong
nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp giai đoạn
T4a mà đánh giá quá giai đoạn thành T4b, điều này
khẳng định lại mô viêm dính quanh u luôn là vấn đề
gây khó khăn trong đánh giá giai đoạn, tương tự như
nghiên cứu của Feng X-y có 9 trường hợp chẩn đoán
xâm lấn trên CLVT và phẫu thuật nhưng không xâm
lấn trên GPB [3].
Chúng tôi nghiên cứu các dấu hiệu chẩn đoán
hạch dựa vào kích thước và tính chất. Về kích thước,
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kích thước hạch có
giá trị chẩn đoán di căn mức độ thấp với p>0.05, điểm
cắt của đường cong ROC có chỉ số J cao nhất ở vị trí
kích thước hạch bằng 12.5 mm [1]. Về tính chất hạch,
hạch tua gai, ngấm thuốc dạng viền và hình tròn đánh
giá di căn hạch có ý nghĩa thống kê với p<0.05, kết quả
này cũng khá phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lee
MH và Lee IJ [7], [8].
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và đánh giá tính chất xâm lấn, di căn của ung thư dạ dày trên cắt lớp vi tính đa dãy, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/201626
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH
VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT XÂM LẤN, DI CĂN
CỦA UNG THƯ DẠ DÀY TRÊN CẮT LỚP
VI TÍNH ĐA DÃY
Imaging characteristics and the invasion,
abdominal metastases of gastric cancer with MDCT
Trần Thị Me Tâm*, Lê Trọng Khoan*,
Dương Phước Hùng*, Nguyễn Văn Thành**
Purposes: Describe imaging characteristics and assess
value of MDCT in evaluating the invasion, abdominal metastase
of gastric adenocarcinoma based on the 7 th AJCC guidelines.
Materials and methods: From 4/2014 to 3/2015, there
are 32 consecutive patients with gastric adenocarcinoma were
undergone 64-slide-CT. All of them were undergone operation with
pathology after surgery.
Results: The average age is 63 years old, and male/
female=2/1. In 37.2% of cases gastric carcinoma is located on
antrum. About macroscopic type, the forth type (linitis plastica)
rates are highest 68.8%. The thickness of gastric cancer is pricipal
15-19 mm, all of cases heterogeneous enhancement. There are
17 cases invasion adjacent organs, in which tranverse colon is 8
cases and pancreas is 7 cases. Evaluating the value of diagnosis
peritoneal metastase between MDCT and surgical resection is
appropriated with medial level Kappa = 0.53, the sensitivity is
75%, the specificity is 89.3%. The overall accuracy of T staging
is 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4%, and T4b 71.4%).
Diagnosis lymph nodes metastasis based on the diameter has got
the low valuation with p>0.05, based on the short axis diameter
is < 8mm and ≥8mm has got p <0.05. About the shape of lymph
nodes, based on irregular shape, peripheral enhancement and
round shape to evaluate metastasis with p <0.05.
Conclusion: MDCT with multi-planar reformatted images
has increased the accuracy of T and N staging, evaluated the
invasion, abdominal metastase of gastric cancer on MDCT.
*Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh,
Trường Đại học Y Dược Huế
**Bệnh viện Trung Ương Huế
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/2016 27
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày vấn đề sức khỏe đang được chú
ý trên toàn cầu. Đây là bệnh lý ác tính thường gặp,
đứng đầu ở Nhật Bản và chiếm tỷ lệ cao ở các nước
đang phát triển. Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ
dày đứng sau ung thư phổi, ung thư vú và ung thư đại
trực tràng. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ung thư dạ dày vẫn
duy trì hằng định vị trí thứ hai trong nhiều thập kỉ, chỉ
xếp sau ung thư phổi. Đây là bệnh có liên quan đến
các yếu tố di truyền, gen, chủng tộc, địa lý, môi trường
và một số yếu tố khác như thuốc lá, thực phẩm, chất
phóng xạ... Có nhiều yếu tố nguy cơ, đặc biệt là nhiễm
H. Pylori [4], [10].
Có nhiều kỹ thuật hình ảnh được áp dụng để chẩn
đoán bệnh ung thư dạ dày như chụp thực quản - dạ dày
- tá tràng cản quang, siêu âm, siêu âm nội soi, cắt lớp
vi tính và cộng hưởng từ. Trong khi nội soi dạ dày kèm
sinh thiết là phương pháp chẩn đoán xác định ung thư
dạ dày, còn siêu âm nội soi cho phép phát hiện ung thư
dạ dày từ giai đoạn rất sớm; thì cắt lớp vi tính đa dãy có
vai trò quan trọng trong đánh giá cấu trúc lớp, sự ngấm
thuốc và tính chất xâm lấn, góp phần trong chẩn đoán
giai đoạn, giúp đưa ra quyết định điều trị, chẩn đoán sự
tái phát, đánh giá hiệu quả điều trị, phát hiệu di căn và
xác định hệ thống hạch lympho... với độ nhạy và độ đặc
hiệu cao [6], [8], [11].
Điều trị ung thư dạ dày chủ yếu là can thiệp ngoại
khoa, khả năng phẫu thuật được khoảng 80%. Một số
chống chỉ định của phẫu thuật cắt dạ dày là khi có di
căn xa mà không thể lấy bỏ di căn đó hoặc thể trạng
kém hoặc mắc bệnh lý mạn tính, bụng báng nhiều
hoặc khối u to, hoàn toàn không di động Chính vì
cắt lớp vi tính đa dãy có khả năng đánh giá chính xác
đặc điểm khối u, tính chất xâm lấn cũng như phát hiện
các tổn thương di căn trong ổ bụng nên cắt lớp vi tính
có vai trò rất quan trọng đối với các nhà ngoại khoa
trong việc đưa ra chỉ định, chọn lựa phương pháp
phẫu thuật thích hợp và tiên lượng trước mổ. Đề tài
này nhằm mục đích mô tả đặc điểm hình ảnh và khảo
sát giá trị của cắt lớp vi tính đa dãy trong đánh giá giai
đoạn T, tính chất xâm lấn, di căn ổ bụng ở bệnh nhân
ung thư dạ dày.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ tháng 4/2014 đến tháng 3/2015, tại Khoa Ngoại
Tiêu hóa, Bệnh viện Trung Ương Huế, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu 32 bệnh nhân UTBMT dạ dày được
chụp CLVT 64 dãy trước sau và sau tiêm thuốc cản
quang đường tĩnh mạch, được phẫu thuật và có kết
quả giải phẫu bệnh. Loại khỏi nghiên cứu những trường
hợp ung thư dạ dày đã qua điều trị phẫu thuật, hóa trị,
xạ trị hoặc các phương pháp khác.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp
mô tả cắt ngang. Tất cả các bệnh nhân trong mẫu
nghiên cứu được thu thập các thông tin liên quan
hành chính, tiền sử, triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm
marker ung thư (CEA, CA19-9, CA 72-4, AFP), ghi
nhận kết quả nội soi dạ dày, chụp cắt lớp vi tính 64
dãy ổ bụng, ghi nhận kết quả phẫu thuật và giải phẫu
bệnh sau phẫu thuật.
Phương tiện nghiên cứu gồm máy cắt lớp vi tính
xoắn ốc Brilliance 64 dãy của hãng Philips tại Khoa
Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng Tim mạch
Bệnh viện Trung Ương Huế, sử dụng thuốc cản quang
tiêm tĩnh mạch non-ionic, máy bơm thuốc cản quang
tự động Stellant của hãng Medrad, phần mềm vi tính
eFilm để xử lý, tái cấu trúc hình ảnh không gian 3 chiều.
Bệnh nhân được chuẩn bị và chụp cắt lớp vi tính ổ bụng
theo đúng quy trình.
Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm ung thư dạ dày
Tuổi trung bình là 63 tuổi, nhóm tuổi từ 50-59 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất (34.4%), tiếp đến là nhóm tuổi >70
tuổi chiếm tỷ lệ 31.2%. Nam nhiều gấp đôi nữ.
Vị trí ung thư dạ dày chủ yếu ở hang vị (chiếm tỷ
lệ 37.2%), tiếp đến là môn vị (20.9%) và bờ cong nhỏ
(18.6%). Về đại thể, thể loét sùi chiếm tỷ lệ cao nhất
(68.8%), thể thâm nhiễm chiếm tỷ lệ thấp nhất (3.1%).
Độ dày thành dạ dày chủ yếu là nằm trong khoảng
15-19 mm, 100% các trường hợp ung thư biểu mô
tuyến dạ dày trong mẫu nghiên cứu có tính chất ngấm
thuốc không đồng nhất.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/201628
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu đồ 1. Tỷ lệ cơ quan bị xâm lấn trong UTBMT dạ dày trên CLVT và phẫu thuật
Bảng 1. Đặc điểm di căn ổ bụng trên cắt lớp vi tính
CLVT Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Di căn phúc mạc
Có Dịch ổ bụng 3 20.0
18.8
Bánh mạc nối 2 13.4
Mảng hoặc nốt phúc mạc 5 33.3
Tăng đậm độ mỡ phúc mạc 5 33.3
Khác 0 0.0
Không 26 81.2
Di căn xa trong ổ
bụng
Có Di căn gan 4 12.5
Di căn buồng trứng 0 0.0
Khác 0 0.0
Không 28 87.5
Có 5/32 trường hợp di căn phúc mạc, chiếm tỷ lệ 18.8%. Trong đó, đặc điểm hình ảnh di căn phúc mạc trên
CLVT chủ yếu là mảng hoặc nốt phúc mạc và tăng đậm độ mỡ phúc mạc chiếm tỷ lệ bằng nhau 33.3%, tiếp đến là
dịch ổ bụng chiếm tỷ lệ 20.0%.
3.2. Giá trị CLVT trong đánh giá giai đoạn T
Bảng 2. Đối chiếu giai đoạn T trên cắt lớp vi tính và giải phẫu bệnh sau phẫu thuật
Giai đoạn T trên CLVT
Giai đoạn T trên
GPB sau phẫu
thuật
T1 T2-T3 T4a T4b Tổng
T1 2 0 0 0 2
T2-T3 1 9 3 1 14
T4a 0 3 4 1 8
T4b 0 1 2 5 8
Tổng 3 13 9 7 32
p = 0.001 Kappa = 0.458
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/2016 29
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu đồ 2. Phân bố các giai đoạn T trên CLVT và GPB sau phẫu thuật UTBMT dạ dày
Giá trị CLVT chẩn đoán giai đoạn T:
Chẩn đoán đúng chung cho các giai đoạn: 62.5% (20/32).
Chẩn đoán đúng từng giai đoạn:
Giai đoạn T1: 66.7% (2/3)
Giai đoạn T2-T3: 69.2% (9/13)
Giai đoạn T4a: 44.4% (4/9)
Giai đoạn T4b: 71.4% (5/7)
Bảng 3. Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác của CLVT chẩn đoán các giai đoạn T
Giai đoạn T1
GPB sau PT Độ nhạy
(%)
Độ đặc hiệu
(%)
Độ chính
xác (%)
CLVT
T1 Khác T1 Tổng
T1 2 0 2
66.7 100.0 96.9Khác T1 1 29 30
Tổng 3 29 32
Giai đoạn T2-T3
GPB sau PT Độ nhạy
(%)
Độ đặc hiệu
(%)
Độ chính
xác (%)
CLVT
T2-T3 Khác T2-T3 Tổng
T2-T3 9 5 14
75.0 75.0 75.0Khác T2-T3 3 15 28
Tổng 12 20 32
Giai đoạn T4a
GPB sau PT Độ nhạy
(%)
Độ đặc hiệu
(%)
Độ chính
xác (%)
CLVT
T4a Khác T4a Tổng
T4a 4 4 8
44.4 82.6 71.9Khác T4a 5 19 24
Tổng 9 23 32
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/201630
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giai đoạn T4b
GPB sau PT Độ nhạy
(%)
Độ đặc hiệu
(%)
Độ chính
xác (%)
CLVT
T4b Khác T4b Tổng
T4b 5 3 8
71.4 88.0 84.4Khác T4b 2 22 24
Tổng 7 25 32
3.3. Giá trị CLVT trong đánh giá giai đoạn N
Bảng 4. Mối liên quan giữa kích thước hạch và hạch di căn trên giải phẫu bệnh
GPB
TổngHạch di căn Hạch không di căn
CLVT
(ĐK ngang hạch)
N≥8mm 13 (76.5%) 4 (23.5%) 17 (100.0%)
N<8mm 6 (40.0%) 9 (60.0%) 15 (100.0%)
Tổng 19 (59.4%) 13 (40.6%) 32 (100.0%)
p < 0.05
Biểu đồ 3. Đường cong ROC kích thước hạch
Diện tích dưới đường cong là 0.654 với p =0.145. Như vậy, kích thước hạch có giá trị chẩn đoán di căn mức
độ thấp. Điểm cắt có chỉ số J cao nhất (0.348) ở vị trí kích thước hạch bằng 12.5 mm.
Bảng 5. Mối liên quan giữa tính chất hạch với hạch di căn trên giải phẫu bệnh
CLVT
GPB
Tua gai
Ngấm thuốc
dạng viền
Thành chùm
Không đồng
nhất
Hình tròn
Mất mỡ rốn
hạch
Di căn 14 7 3 17 12 19
Không di căn 0 0 0 10 3 10
p 0.05 >0.05 0.05
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/2016 31
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
IV. BÀN LUẬN
Qua nghiên cứu 32 trường hợp ung thư biểu mô
tuyến dạ dày, cho thấy: vị trí ung thư dạ dày chủ yếu
ở hang vị (chiếm tỷ lệ 37.2%), đây là xu hướng chung
của ung thư biểu mô tuyến dạ dày và cũng phù hợp với
những nghiên cứu gần đây [5], [7], [8]. Độ dày thành
dạ dày chủ yếu là nằm trong khoảng 15-19 mm, 100%
trường hợp trong mẫu nghiên cứu có tính chất ngấm
thuốc không đồng nhất, kết quả này phù hợp với nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Minh Khánh [2]. Nghiên cứu
của chúng tôi có 17 trường hợp xâm lấn cơ quan lân
cận, trong đó đại tràng ngang (8 trường hợp) và tụy (7
trường hợp), kết quả này phù hợp với nhận định của
nhiều tác giả: tụy là cơ quan bị xâm lấn trực tiếp nhiều
nhất từ ung thư dạ dày [8].
Đối chiếu chẩn đoán di căn phúc mạc trên CLVT
và phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
có sự phù hợp ở mức độ trung bình với Kappa = 0.53
và độ nhạy là 75%, độ đặc hiệu là 89.3%, kết quả này
tương tự nghiên cứu của Kim SJ [6]. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, đặc điểm di căn phúc mạc trên CLVT chủ
yếu là mảng hoặc nốt phúc mạc (33.3%), tăng đậm độ
mỡ phúc mạc (33.3%) và dịch ổ bụng (20.0%). Kết quả
này có sự khác biệt với kết quả nghiên cứu của Lee
MH là dịch ổ bụng có ý nghĩa chẩn đoán di căn phúc
mạc quan trọng nhất. Sự khác biệt này có thể do mẫu
nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, CLVT đa dãy có
thể phát hiện 32/32 trường hợp UTBMT dạ dày. Tỷ
lệ cao này có thể do chủ yếu là ung thư giai đoạn
tiến triển, chỉ có 3 trường hợp giai đoạn T1. Điều này
phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế giới: khả năng
phát hiện UTBMT dạ dày của MDCT có thể lên đến
100%. Khả năng chẩn đoán đúng chung cho các giai
đoạn là 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4%
và T4b 71.4%) so với kết quả nghiên cứu của Yan et
al là 73.8% (T1 45.93%, T2 53.03%, T3 86.49% và T4
85.79%) [11]. Chẩn đoán riêng từng giai đoạn: Giai
đoạn T1: Chẩn đoán đúng là 66.7%, độ nhạy, độ đặc
hiệu và độ chính xác lần lượt là 66.7%, 100% và 96.9%.
Giai đoạn T2-T3: Chẩn đoán đúng là 69.2%, độ nhạy,
độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 75%, 75% và
75%. Giai đoạn T4a: Chẩn đoán đúng là 44.4%, độ
nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 44.4%,
82.6% và 71.9%. Giai đoạn T4b: Chẩn đoán đúng là
71.4%, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt
là 71.4%, 88% và 84.4%. Ngoài giai đoạn T4a, các
giai đoạn còn lại có kết quả khá tương tự so với các
nghiên cứu của Nguyễn Minh Khánh, Nguyễn Đình
Hưởng, Lee MH và Yan et al [1], [2], [8], [11]. Giai đoạn
T4a có kết quả nghiên cứu thấp hơn so với nghiên
cứu của Lee IJ, Lee MH và Yan et al, có 3 trường hợp
đánh giá dưới giai đoạn và có 2 trường hợp đánh giá
quá giai đoạn. Điều này phản ánh tình trạng khó khăn
chung: hình ảnh thâm nhiễm mỡ quanh u có thể do
viêm xơ hay tế bào u và ranh giới để phân biệt mức độ
thâm nhiễm mỡ không rõ ràng [9], ngoài ra, thanh mạc
không đều dạng nốt là tiêu chuẩn chẩn đoán u xâm
lấn thanh mạc nhưng có thể nhầm lẫn trong trường
hợp giãn mạch máu và bạch mạch quanh u. Trong
nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp giai đoạn
T4a mà đánh giá quá giai đoạn thành T4b, điều này
khẳng định lại mô viêm dính quanh u luôn là vấn đề
gây khó khăn trong đánh giá giai đoạn, tương tự như
nghiên cứu của Feng X-y có 9 trường hợp chẩn đoán
xâm lấn trên CLVT và phẫu thuật nhưng không xâm
lấn trên GPB [3].
Chúng tôi nghiên cứu các dấu hiệu chẩn đoán
hạch dựa vào kích thước và tính chất. Về kích thước,
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kích thước hạch có
giá trị chẩn đoán di căn mức độ thấp với p>0.05, điểm
cắt của đường cong ROC có chỉ số J cao nhất ở vị trí
kích thước hạch bằng 12.5 mm [1]. Về tính chất hạch,
hạch tua gai, ngấm thuốc dạng viền và hình tròn đánh
giá di căn hạch có ý nghĩa thống kê với p<0.05, kết quả
này cũng khá phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lee
MH và Lee IJ [7], [8].
V. KẾT LUẬN
Chúng tôi nhận thấy giá trị cao của MDCT trong
đánh giá giai đoạn T, tính chất hạch di căn và tính chất
xâm lấn của u ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến
dạ dày. Mặc dù MDCT còn một số giới hạn trong xác
định chắc chắn hạch di căn và có thể nhầm lẫn trong
đánh giá chính xác độ xâm lấn của u qua thành dạ dày
nhưng MDCT vẫn được xem là phương pháp chẩn
đoán “tất cả trong một” trước mổ ở bệnh nhân ung thư
dạ dày [8].
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 23 - 3/201632
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Nguyễn Đình Hưởng (2012), “Vai trò của chụp
cắt lớp vi tính trong chẩn đoán giai đoạn ung thư dạ dày
có đối chiếu với phẫu thuật”, Ung thư học Việt Nam, số
4, tr.179-184.
2. Nguyễn Minh Khánh (2011), “Nghiên cứu giá trị
của cắt lớp vi tính trong đánh giá xâm lấn và di căn ổ
bụng ở bệnh nhân ung thư dạ dày”, Luận văn Thạc sĩ Y
học, Đại học Huế, tr.36-71.
3. Feng X-y, Wang W, Luo G-y, Wu J, Zhou Z-w et
al. (2013), “Comparison of Endoscopic Ultrasonography
and Multislice Spiral Computed Tomography for the
Preoperative Staging of Gastric Cancer-Results of a
Single Institution Study of 610 Chinese Patients”, PloS
ONE, 8(11), e78846.
4. Habermann CR (2004), “Preoperative Staging
of gastric adenocarcinoma: Comparison of Helical CT
and Endoscopic US”, Radiology, 230, pp.465-71.
5. Kim JW (2012), “Diagnosis performance of
64-section CT using CT gastrography in preoperative
T staging of gastric cancer according to 7 th edition of
AJCC cancer staging manual”, European Radiology,
22(3), pp.654-66.
6. Kim SJ (2009) “Peritoneal metastasis: detection
with 16- or 64-detector row CT in patients undergoing
surgery forr gastric cancer”, Radiology, 253(2), pp.407-15.
7. Lee IJ (2009), “Gastrointrestinal imaging: Helical
CT evaluation of the preoperative staging of gastric
cancer in the remnant stomach”, AJR, 192, pp.902-908.
8. Lee MH (2012), “Gastric cancer: Imaging and
staging with MDCT based on the t th AJCC guidelines”,
Abdom Imaging, 37(4), pp.531-40.
9. Pan Z (2010), “Determining gastric cancer
resectability by dynamic MDCT”, Eur Radiol, 20(3),
pp.613-20.
10. Park HS (2010), “Three-dimensional DCT for
preoperative local staging of gastric cancer using gas
and water distention methods: a retrospective cohort
stydy”, AJR Am J Roentgenol, 195(6), pp.1316-23.
11. Yan et al. (2009), “Value of multidetector-
row computed tomograhy in the preoperative T and
N staging of gastric carcinoma”, Journal of Surgical
Oncology, 100, pp.205-214.
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh và khảo sát giá trị của cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) trong đánh giá tính
chất xâm lấn, di căn ổ bụng của ung thư biểu mô tuyến dạ dày dựa vào 7th AJCC.
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang ở 32 trường hợp ung thư biểu mô tuyến dạ dày từ tháng 04/2014 đến
tháng 03/2015 được chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt, được phẫu thuật và có kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật.
Kết quả: Tuổi trung bình là 63 tuổi, nam gấp đôi nữ. Vị trí ung thư dạ dày chủ yếu ở hang vị (37.2%). Về đại thể,
thể loét sùi chiếm tỷ lệ cao nhất (68.8%). Độ dày thành dạ dày của tổn thương ung thư nằm chủ yếu trong khoảng
15-19 mm, tất cả đều có tính chất ngấm thuốc không đồng nhất. Có 17 trường hợp xâm lấn cơ quan lân cận, trong
đó đại tràng ngang là 8 trường hợp và tụy là 7 trường hợp. Đối chiếu chẩn đoán di căn phúc mạc trên CLVT và phẫu
thuật có sự phù hợp ở mức độ trung bình với Kappa=0.53, Se=75%, Sp=89.3%. Khả năng chẩn đoán đúng chung
cho các giai đoạn là 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4% và T4b 71.4%). Chẩn đoán hạch di căn dựa vào
kích thước hạch có giá trị chẩn đoán mức độ thấp với p>0.05, dựa vào đường kính trục ngắn của hạch <8 mm và
≥8mm để chẩn đoán hạch di căn có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Về hình dạng, dựa hình ảnh hạch có hình tua
gai, bắt quang viền và hình tròn để đánh giá hạch di căn có ý nghĩa thống kê với p<0.05.
Kết luận: MDCT với hình ảnh tái tạo đa mặt phẳng có vai trò rất quan trọng và tăng độ chính xác trong đánh
giá giai đoạn T và N, tính chất xâm lấn và hạch di căn trước mổ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày, giúp
các nhà phẫu thuật lựa chọn phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh trước khi phẫu thuật.
Người Liên hệ: Lê Trọng Khoan Email: khoan06@yahoo.com.vn
Ngày nhận bài: 4.2. 2016
Ngày chấp nhận đăng: 20.2.2016
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_dac_diem_hinh_anh_va_danh_gia_tinh_chat_xam_lan_d.pdf