Các trường hợp âm tính giả (chẩn đoán
không phải là UNBTKĐ nhưng giải phẫu bệnh là
UNBTKĐ)
Có 10 trường hợp: 6 nhầm với u thần kinh đệm
bậc thấp, 2 chẩn đoán nhầm với áp xe não, 2 chẩn
đoán nhầm di căn não.
Trường hợp chẩn đoán nhầm với u thần kinh đệm
bậc thấp gặp ở BN trẻ tuổi < 40, khối u lớn, bờ đều,
sát vỏ não, mức độ hoại tử và phù quanh u ít, 5 trong
số 6 trường hợp này có vôi hóa phát hiện trên CHT.
Các trường hợp này trên CHT không điển hình của
UNBTKĐ, tuy nhiên một số đặc điểm như trên có thể
gặp trong thể UNBTKĐ do biệt hóa từ các u thần kinh
đệm bậc thấp hơn.
Trường hợp chẩn đoán nhầm với áp xe não ở BN
nam 67 tuổi, có hội chứng tăng áp lực nội sọ 2 tháng
nay, không có hội chứng nhiễm trùng. Trên CHT có 2 ổ
vị trí thùy đỉnh hai bên, bờ không đều, trung tâm giảm
tín hiệu trên T1W và tăng tín hiệu trên T2W, xung quanh
có phù não độ 2, sau tiêm các khối ngấm thuốc dạng
viền. Do có hai ổ tổn thương kèm theo không đánh giá
được thành phần dịch trong khối là dịch mủ hai hoại tử
nên CHT chẩn đoán là di căn.
Các trường hợp chẩn đoán nhầm là áp xe não (cả
dương tính giả và âm tính giả) do có nhiều ổ tổn thương
và không làm chuỗi xung Diffusion. Do đó với các khối
u dạng nang trên CHT phải làm xung Diffusion để đánh
giá thành phần dịch trong nang. Nếu là dịch mủ đặc sẽ
giảm khuếch tán (tăng trên Diffusion) và ngược lại.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán của cộng hưởng từ đối với u nguyên bào thần kinh đệm hai bán cầu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 31
nghiÊn CỨU KhoA hỌC
SCientiFiC reSeArCh
SUMMARy
Purpose: Describing imaging characteristic and assessing the
MRI value in the diagnosis of hemisphere glioblastoma.
Materials and methods: 2505 patients of brain tumors were
selected in retrospective describe study, diagnosed, operated and
having histopathological result from January 2009 to March 2011 in
Viet Duc Hospital, in which 45 patients were histologically confirmed
of glioblastoma. Based on gold standard of histopathology, the value
of MRI in diagnosis of hemisphere glioblastoma was assessed.
Results: Mean age 51±16. Gender: M/F 1.3/1. Location at
frontal lobe (26.4%), fronto -temporal lobe (20%), less frequently
at occipital lobe. Average diameter more than 5cm (60.4%).
Hyposignal on T1W (66%), hypersignal on T2W (70%), marked
and heterogenous enhancement (43.4%), rim enhancement (47.3),
necrosis (95.6%), cyst component (52.8%), hemorrhage (28.4%);
surrounding edema of grade II and III (90%), meningeal and copus
callosum invasion (47.2% and 39.6%, respectively). Accurate
diagnosis of tumor location was 100% comparing to surgery. Se, Sp
and Acc respectively 81.1%, 97.6%, and 98%.
Conclusion: MRI had high value in diagnosis of hemisphere
glioblastoma.
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH
VÀ GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ
ĐỐI VỚI U NGUYÊN BÀO
THẦN KINH ĐỆM HAI BÁN CẦU
Study of imaging characteristic and value of Mri in
diagnosis of hemisphere glioblastoma
Mai Thế Cảnh*, Nguyễn Duy Huề**
* Bệnh viện Trường Đại học
Y Hà Nội,
** Bộ môn Chẩn đoán hình
ảnh, Trường Đại học Y Hà Nội
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201232
nghiên CỨU KHoa HỌC
i. đẶt VẤn đỀ
U nguyên bào thần kinh đệm là loại u não ác tính
hay gặp ở người lớn, chiếm 50-60% các u tế bào thần
kinh đệm và 12-15% u nội sọ. Hiện có nhiều phương
pháp chấn đoán hình ảnh, CHT có thể khắc phục
được nhược điểm của CLVT do có các ưu điểm như:
độ phân giải cao, quan sát được nhiều hướng không
phải thay đổi tư thế BN nên giúp định khu khối u và
liên quan giải phẫu. CHT có thể phát hiện những u
nhỏ, ít thay đổi tỉ trọng trên CLVT, phát hiện di căn và
không gây nhiễm xạ nên có thể chỉ định rộng rãi. Đến
nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu UNBTKĐ.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hai
mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh CHT của u nguyên bào
thần kinh đệm.
2. Nhận xét giá trị của CHT trong chẩn đoán u
nguyên bào thần kinh đệm đối chiếu với phẫu thuật và
giải phẫu bệnh.
ii. đối tƯỢng Và PhƯƠng PhÁP nghiÊn CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các BN thuộc mọi
nhóm tuổi và giới tính được chụp phim CHT chẩn đoán
u não, được phẫu thuật và có kết quả GPB tại Bệnh
viện Việt Đức từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 3 năm
2011.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Phim CHT thiếu, hỏng.
- Không có GPB.
- BN không mổ.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu có so
sánh với phẫu thuật và GPB. Thời gian từ tháng 01
năm 2009 đến tháng 3 năm 2011, 2505 BN, trong đó
53BN chẩn đoán trên GPB là UNBTKĐ. Để giải quyết
mục tiêu thứ nhất, chúng tôi sử dụng 53BN được chẩn
đoán là UNBTKĐ. Để thực hiện mục tiêu số hai, sử
dụng 2505 hồ sơ.
Phương tiện nghiên cứu: Phim CHT tại Bệnh viện
Việt Đức hoặc tại các cơ sở khác với điều kiện đúng
kĩ thuật.
Phân tích số liệu: Việc xử lý số liệu dựa vào
phương pháp thống kê toán học trong y học với phần
mềm SPSS 16.0.
iii. KẾt QUẢ Và Bàn LUận
Tuổi và giới: Tuổi trung bình 51 ± 16, trong đó nhỏ
nhất là 9, lớn nhất 88. Đa số ở lứa tuổi 50-70. Tỉ lệ nam:
nữ là 1,3:1.
Triệu chứng lâm sàng: 89,7% có hội chứng tăng
áp lực nội sọ, chỉ 6 BN (11,3%) không có biểu hiện lâm
sàng. 60% có dấu hiệu thần kinh khu trú, trong đó 50%
yếu nửa người. 15,5% biểu hiện động kinh. Thời gian
mắc bệnh: 71% dưới 3 tháng, trong đó 37,7% dưới một
tháng.
3.1. đặc điểm khối u trên Cht
3.1.1. Vị trí u
Bảng 1. Vị trí u trên CHT
Vị trí (thùy) Số lượng Bn tỉ lệ %
Trán 14 26,4
Thái dương 10 18,9
Đỉnh 9 17
Chẩm 2 3,8
Trán- thái dương 10 18,9
Thái dương- đỉnh 7 13,1
Trán- thái dương- đỉnh 1 1,9
Tổng 53 100
3.1.2. Số lượng u: 1 u 90%, có từ 2 khối trở lên 6 BN
(11,3%).
3.1.3. Kích thước và bờ khối: < 3 cm chỉ có 1, còn lại
60% > 5cm. Bờ không đều: 86,6%.
3.1.4. Chảy máu và hoại tử trong u: 96,2% hoại tử,
28,3% chảy máu, 52,8% thoái hóa nang.
3.1.5. Xâm lấn màng não và thể chai: Xâm lấn màng
não gặp trong các u nằm sát vỏ não (47,2% ). Xâm lấn
thể chai tạo thành hình cánh bướm gặp trong 40% BN.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 33
nghiên CỨU KHoa HỌC
Tín hiệu của u trên CHT trước tiêm
Bảng 2. Tín hiệu của khối u trước tiêm
tín hiệu
u
tín hiệu t1W tín hiệu t2W
Số
trường
hợp
Tỉ lệ%
Số
trường
hợp
Tỉ lệ
Tăng 0 0 37 69,8
Đồng 2 3,8 1 1,9
Giảm 35 66 0 0
Hỗn hợp 16 30,2 15 28,3
Tổng số 53 100 53 100
3.1.6. Tính chất của u sau tiêm thuốc
Bảng 3. Tín hiệu của khối u sau tiêm thuốc đối
quang từ
tính chất ngấm thuốc Số Bn tỉ lệ %
Ít 4 7,5
Mạnh và đồng nhất 1 1,9
Mạnh và không đều 23 43,4
Dạng viền 25 47,2
Tổng số 53 100
3.1.7. Phù não quanh u và hiệu ứng khối do u
gây ra
Phù não: 100% có phù não độ II (72,4%). 52 BN
(98,1%) có đè đẩy đường giữa, chỉ 1 BN không có.
3.2. đánh giá khả năng chẩn đoán của Cht so với
phẫu thuật và gPB
3.2.1. Đối chiếu khả năng xác định vị trí của UNBTKĐ
so với phẫu thuật: chính xác 100%.
3.2.2. Đánh giá xâm lấn màng não trên CHT so với
phẫu thuật: Độ nhạy (Se) = 15/25 (60%), độ đặc hiệu
(Sp) = 18/28 (64,3%), giá trị dự báo dương tính (PPV)
= 15/53( 60%).
3.2.3. Khả năng phát hiện hoại tử trong u trên CHT
với GPB
Bảng 4. khả năng phát hiện hoại tử u trên CHT đối
chiếu với GPB
gPB
cHt
Có hoại
tử
Không có
hoại tử
tổng số
Có hoại tử 45 6 51
Không có hoại tử 1 1 2
Tổng số 46 7 53
Se = 45/46(97,8%), Sp= 1/7 (14,3 %)
3.2.4. Đối chiếu khả năng chẩn đoán đúng trên CHT
so với GPB
Bảng 5. So sánh khả năng chẩn đoán đúng của
CHT so với GPB
gPB
cHt
UnBtKđ
Không phải
UnBtKđ
tổng số
UNBTKĐ 43 5 48
Không phải
UNBTKĐ
10 2447 2457
Tổng số 53 2452 2505
Chẩn đoán UNBTKĐ trên CHT có: Se = 43/53
(81,1%), Sp = 2447/2505 = 97,6%, Acc: 97%.
iV. Bàn LUận
4.1. đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi
Nhóm tuổi hay gặp nhất 50-70 (58,4%), tuổi <30
tuổi chỉ 10%, tương đương với David Altman và cs
(2007), tuổi trung bình là 45-70, người trẻ và trẻ em
khoảng 10% [6]. Tuổi trung bình mắc bệnh là 51, tương
tự Altman và các tác giả khác.
Giới
53 bệnh nhân, có 30 nam và 23 nữ, tỉ lệ nam/nữ là
1,3/1 tương tự một số tác giả nước ngoài. Stark và cs trên
273 BN thấy tỉ lệ nam/nữ =1,2/1 [57]. Alex Lobera thấy tỉ lệ
nam/nữ 3:2, khác biệt trên có thể do cỡ mẫu ít [3].
4.2. triệu chứng lâm sàng
4.2.1. Thời gian mắc bệnh: Theo Kimberley Mak và
David Altman, tính từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi
vào viện, 3
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201234
nghiên CỨU KHoa HỌC
tháng 28,3% [6]. Như vậy, thời gian biểu hiện các triệu
chứng của UNBTKĐ tương đối ngắn, chủ yếu trong
vòng 3 tháng (72%), điều này phù hợp với tính chất
xâm lấn và tăng sinh nhanh của u.
4.2.2. Các triệu chứng lâm sàng: Dấu hiệu tăng áp
lực nội sọ chiếm 90,6%, như nghiên cứu của Stark,
trong đó chủ yếu đau đầu chiếm 47%, tương tự nghiên
cứu của Mark và Altman [6].
4.3. đặc điểm UnBtKđ trên Cht
4.3.1. Vị trí: Thùy trán gặp nhiều nhất với 14BN (26,4%),
thùy thái dương có 10BN (19%), thùy đỉnh có 9BN
(17%), thùy chẩm có 2BN (3,8%). Theo Joyce Moore
[8], thùy trán hay gặp nhất: 35%, thùy thái dương: 22%,
thùy đỉnh: 33%, thùy chẩm: 10%. Nghiên cứu của chúng
tôi khác, có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn. 18 BN u nằm
vị trí giữa hai thùy trán - thái dương chiếm 19%, 7BN
ở thùy thái dương - đỉnh (13,2%) phù hợp với Nguyễn
Quốc Dũng [1].
4.3.2. Kích thước u: Đa số có kích thước lớn, u < 3cm,
chỉ phát hiện 1 BN (1,9%), u từ 3-5cm chiếm 37,7%.
Phần lớn > 5cm (60,4%), điều này giải thích cho việc
xuất hiện các triệu chứng của tăng áp lực nội sọ và dấu
hiệu thần kinh khu trú ở các BN, phù hợp với các tác
giả khác.
4.3.3. Số lượng u: Trong 53 BN có 47 BN có 1 khối
u (88,7%), 6 BN còn lại (11,3%) có từ 2 khối u trở lên
(trong đó, 1 BN có 3 khối và 5 BN có 2 khối) phù hợp
với nghiên cứu của Stark và khác với Batzdorf. Với BN
có nhiều khối u, khó phân biệt với tổn thương di căn
não, trong đó 2 BN chẩn đoán sai trên CHT.
4.3.4. Tín hiệu của khối u: Đa số tín hiệu giảm trên
T1W (chiếm 66%), tăng trên T2W (69,8%). 30,2% và
28,3% có tín hiệu hỗn hợp trên T1W và T2W, trong số
này có 5 BN được làm chuỗi xung Diffusion (b=1000)
thấy giảm tín hiệu với ADC tăng, thể hiện thành phần
trong u chủ yếu là tín hiệu của tổ chức u hoại tử, một
trong những dấu hiệu giúp chẩn đoán phân biệt với áp -
xe não. Tín hiệu của u thay đổi tùy theo thành phần bên
trong, do UNBTKĐ thường có hoại tử chảy máu nên có
tín hiệu hỗn hợp trên cả T1W và T2W.
4.3.5. Mức độ ngấm thuốc đối quang từ: Đa số ngấm
thuốc mạnh, không đều, chiếm 92,5%, trong đó chủ yếu
ngấm ở ngoại vi (dạng viền) chiếm 47,2%, 1 trường
hợp ngấm thuốc mạnh đồng nhất chiếm 1,9%, kết quả
phù hợp với David Atlman và Whitney B. Pope. Các u
nguyên bào thần kinh đệm do có ngấm thuốc dạng viền
nên dễ nhầm với áp xe và di căn não. Viền ngấm thuốc
của UNBTKĐ thường dày, bờ không đều do phần trung
tâm hoại tử.
4.3.6. Hoại tử trong u: Tạo thành các ổ dịch xen lẫn với
phần tổ chức đặc, thường ở trung tâm khối u do không
được nuôi dưỡng, phát triển nhanh tạo thành khối có
kích thước lớn nên dẫn đến trung tâm hoại tử, thể hiện
là các nốt, vùng giảm tín hiệu trên T1W, tăng tín hiệu
trên T2W và không ngấm thuốc sau tiêm. 86% có hoại
tử trên CHT, 14% không hoại tử, trong đó 1 BN ngấm
thuốc đồng nhất, 1 không ngấm thuốc, còn lại ngấm
thuốc ít.
4.3.7. Chảy máu trong u: Tín hiệu của chảy máu
thay đổi tùy theo giai đoạn, CHT nhạy hơn CLVT do có
các chuỗi xung khác nhau, đặc biệt là chuỗi xung T2*
giúp phát hiện các chảy máu cũ. 31% BN có chảy máu
chủ yếu là ở giai đoạn bán cấp muộn (tăng trên cả T1W
và T2W).
Hình 1. UNBTKĐ chảy máu trên T2W và T1W (giai
đoạn bán cấp muộn)
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 35
nghiên CỨU KHoa HỌC
4.4. dấu hiệu gián tiếp
4.4.1. Mức độ phù não quanh u: Theo Marc R.J.
Carlson, Whitney B. Pope và cs trên 52 BN phù quanh
u 23% độ I, 23% độ II và 54% độ III [10]. Chúng tôi thấy
100% có phù não, trong đó: 15,1% độ I, 75,5% độ II,
9,4% độ III. UNBTKĐ có đặc điểm phù não rộng quanh
u, phù càng rộng tương đương tổn thương càng ác tính,
tiên lượng càng kém. Nguyên nhân phù não quanh u là
do phù gian bào, tổn thương hàng rào máu não, do đó
các tế bào của u xâm lấn ra vùng não phù. Đánh giá
mức độ phù não rất quan trọng cả trước, trong và sau
phẫu thuật. Phẫu thuật để đạt thành công phải lấy hết
tổ chức não phù, vấn đề không dễ dàng. Đa phần BN tử
vong là do phù não. Do đó, mức độ phù não được coi là
dấu hiệu gián tiếp chỉ điểm của UNBTKĐ.
4.4.2. Xâm lấn màng não cạnh khối: Xâm lấn màng
não trên CHT là hình màng não dày, ngấm thuốc mạnh
sau tiêm, mất ranh giới giữa bờ ngoài khối u với màng
não. Chúng tôi thấy 50,9% u xâm lấn màng não bên
cạnh, như các tác giả Shuangshoti và Daniel [12]. Xâm
lấn màng não thể hiện tính chất xâm lấn và ác tính của
khối u, việc chẩn đoán trên CHT rất cần thiết giúp cho
quá trình phẫu thuật, tiên lượng. Do CHT có thể cắt theo
nhiều hướng khác nhau, độ phân giải cao nên đánh giá
liên quan giữa màng não với khối u tốt hơn đồng thời
quan sát được hình ảnh màng não tốt hơn trên CLVT.
Hình 2. Xâm lấn màng não của UNBTKĐ ở các BN
4.4.3. Xâm lấn thể chai: Theo Eric C. Bourekas 25%
UNBTKĐ có xâm lấn qua thể chai tạo thành hình cánh
bướm. ABM Salah Uddin [2] có tỉ lệ khoảng 20- 30%
xâm lấn vào thể chai. Chúng tôi có 21/53 có xâm lấn
vào thể chai (39,6%), kết quả cao hơn so với các tác
giả khác do các nghiên cứu trước, đa số tiến hành trên
CLVT khả năng phát hiện kém hơn CHT. Xâm lấn thể
chai là dấu hiệu khá đặc trưng của UNBTKĐ, thể hiện
xâm lấn của u ra xung quanh và sang bán cầu đối diện.
Dấu hiệu hình cánh bướm có thể gặp trong u thần kinh
đệm ít nhánh và Lymphoma.
4.5. Khả năng chẩn đoán UnBtKđ trên Cht so với
gPB
Chúng tôi chẩn đoán CHT 48 trường hợp là
UNBTKĐ, 43 kết quả giải phẫu bệnh phù hợp, Se
81,1%, Sp 97,6%, Acc 99%.
4.5.1. Các trường hợp dương tính giả (chẩn đoán
CHT là UNBTKĐ nhưng GPB không đúng)
5 trường hợp: 2 là u tế bào thần kinh đệm ít nhánh,
2 là di căn não, 1 là lymphoma. Chẩn đoán nhầm với
di căn não (2 dương tính giả và 2 âm tính giả) do có
hai ổ tổn thương, sau tiêm ngấm thuốc dạng viền, phù
não xung quanh rộng. Trường hợp khó, do tổn thương
nhiều ổ trên CHT, cũng hiếm gặp trên UNBTKĐ. Để
tránh sai sót phải khai thác kĩ tiền sử BN, nếu nghi
ngờ cần tìm khối nguyên phát. Độ tuổi hay gặp của
UNBTKĐ từ 50-70 là độ tuổi hay gặp của nhiều loại
u não khác đặc biệt là di căn não, mặt khác hình ảnh
của di căn não khá giống UNBTKĐ. Nếu di căn chỉ có
1 khối lớn, chẩn đoán sẽ khó khăn hơn. Trường hợp
chẩn đoán trên CHT là UNBTKĐ nhưng GPB là u tế
bào thần kinh đệm ít nhánh: là trường hợp khó do các
đặc điểm khá điển hình của UNBTKĐ. U thần kinh đệm
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 201236
nghiên CỨU KHoa HỌC
ít nhánh thể hỗn hợp cũng có các hình ảnh gần tương
tự như trên, do đó phân biệt trên CHT trường hợp này
khó khăn. Trên BN phù não quanh u độ I, di lệch đường
giữa ít, dấu hiệu quan trọng này giúp định hướng chẩn
đoán, một trường hợp nhầm với Lymphoma ở BN nữ
32 tuổi. CHT thấy nhiều ổ tổn thương tạo thành khối
nhiều thùy múi nằm trong chất trắng sâu ở bán cầu trái,
sau tiêm ngấm thuốc mạnh, phù não rộng độ III, xâm
lấn vào thể chai. CHT chẩn đoán UNBTKĐ nhưng GPB
là Lyphoma, ở BN này có một số điểm giống UNBTKĐ
như u nằm trong chất trắng, xâm lấn rộng qua thể chai,
phù não rộng, hiệu ứng khối mạnh, sau tiêm ngấm
thuốc mạnh, tuy nhiên có một số đặc điểm khác như:
tuổi còn trẻ (UNBTKĐ thường gặp 50-70), vị trí u ở sâu,
sau tiêm ngấm thuốc mạnh và đồng nhất (hiếm gặp
trong UNBTKĐ.
4.5.2. Các trường hợp âm tính giả (chẩn đoán
không phải là UNBTKĐ nhưng giải phẫu bệnh là
UNBTKĐ)
Có 10 trường hợp: 6 nhầm với u thần kinh đệm
bậc thấp, 2 chẩn đoán nhầm với áp xe não, 2 chẩn
đoán nhầm di căn não.
Trường hợp chẩn đoán nhầm với u thần kinh đệm
bậc thấp gặp ở BN trẻ tuổi < 40, khối u lớn, bờ đều,
sát vỏ não, mức độ hoại tử và phù quanh u ít, 5 trong
số 6 trường hợp này có vôi hóa phát hiện trên CHT.
Các trường hợp này trên CHT không điển hình của
UNBTKĐ, tuy nhiên một số đặc điểm như trên có thể
gặp trong thể UNBTKĐ do biệt hóa từ các u thần kinh
đệm bậc thấp hơn.
Trường hợp chẩn đoán nhầm với áp xe não ở BN
nam 67 tuổi, có hội chứng tăng áp lực nội sọ 2 tháng
nay, không có hội chứng nhiễm trùng. Trên CHT có 2 ổ
vị trí thùy đỉnh hai bên, bờ không đều, trung tâm giảm
tín hiệu trên T1W và tăng tín hiệu trên T2W, xung quanh
có phù não độ 2, sau tiêm các khối ngấm thuốc dạng
viền. Do có hai ổ tổn thương kèm theo không đánh giá
được thành phần dịch trong khối là dịch mủ hai hoại tử
nên CHT chẩn đoán là di căn.
Các trường hợp chẩn đoán nhầm là áp xe não (cả
dương tính giả và âm tính giả) do có nhiều ổ tổn thương
và không làm chuỗi xung Diffusion. Do đó với các khối
u dạng nang trên CHT phải làm xung Diffusion để đánh
giá thành phần dịch trong nang. Nếu là dịch mủ đặc sẽ
giảm khuếch tán (tăng trên Diffusion) và ngược lại.
V. KẾt LUận
- UNBTKĐ hai bán cầu chủ yếu nằm trong chất
trắng dưới vỏ, u thường có tính xâm lấn và phát triển
rộng nên hay nằm ở vị trí giao nhau giữa các thùy.
- Kích thước thường > 5cm (chiếm 60,5%).
- Phù não quanh u gặp ở tất các BN, trong đó chủ
yếu độ II và III chiếm 84,5%.
- Tín hiệu của u thay đổi tùy theo thành phần trong u,
đa số giảm trên T1W (62%) và tăng trên T2W (65%). Sau
tiêm thuốc đối quang từ ngấm thuốc mạnh và không đều,
45% ngấm thuốc dạng viền. Hoại tử và chảy máu rất hay
gặp trong UNBTKĐ. CHT có giá trị cao trong chẩn đoán
chính xác u với Se 81,1%, Sp97,6%, Acc 99%. CHT còn
có giá trị cao trong đánh giá xâm lấn u ra xung quanh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Quốc Dũng (1995), “Nghiên cứu chẩn 1.
đoán và phân loại các khối u trong hộp sọ bằng CLVT”,
Luận án Phó Tiến sĩ Y dược.
ABM Salah Uddin, Stephen A Berman, MD, 2.
PhD (2010), “Neurologic Manifestations of Glioblastoma
Multiforme Clinical Presentation”, emedicine.
Alex Lobera (2009), “Imaging in Glioblastoma 3.
Multifome”, Radiology.
Batzdorf U, Malamud N (1963), “The problem 4.
of multicentric gliomas”, J Neurosurg, 20, tr.122-136.
Daumas-Duport c, Scheithauer B, O’Fallon J, 5.
Kelly P (1988), “Grading of astrocytomas”, Cancer, 62,
tr.2152-65.
David A Altman, MD. Denis S. Atkinson Jr, MD. 6.
Daniel J. Brat, MD, PhD (2007), “Best Cases from the
AFIP Glioblastoma Multiforme”, RadioGraphics, 27,
tr.883-888.
Jeffrey N Bruce (2009), “Glioblastoma 7.
Multiforme”, emedicine.medcape.com, (oncology).
Joyce Moore-Stovall, MD, and Ram Venkatesh, 8.
MD and Kansas Leavenworth (1993), “Serial
nonenhancing magnetic resonance”.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 05 - 01 / 2012 37
nghiên CỨU KHoa HỌC
Kimberley Mark, Gillian Lieberman MD (2008), 9.
“Imaging Gliblastoma Multiforme: Diagnosis, Treatment,
and Follow-Up “, Radiographics, 3(1), tr.722-34.
Marc R.J. carlson, Whitney B. pope, Steve 10.
Horvath, Jerome G. Braunstein, phioanh Nghiemphu,
Cho-Lea Tso, Ingo Mellinghoff,, et al (2007), “Relationship
between Survival and Edema in Malignant Gliomas: Role
of Vascular Endothelial Growth Factor and Neuronal
Pentraxin 2”, Clin Cancer Res, 13, tr.2592.
Osborn. G Anne MD, Karen L Salzman MD, 11.
A. James Barkovich (2000), “Diagnostic imaging Brain:
Glioblastoma Multiforme”, Amirsys® Hardbound.
RongY, Durden DL, Van Meir EG, Brat DJ 12.
(2006), “Pseudopalisading necrosis in glioblastoma:
a familiar morphologic feature that links vascular
pathology, hypoxia, and angiogenesis”, J Neuropathol
Exp Neurol, 65(6), tr.529-539.
Shuangshoti S, Kasantikul V, Suwanwela N (1987), 13.
“Spontaneous penetration of dura mater and bone by
glioblastoma multiforme”, JJ Surg Oncol, 36(1), tr.36-44.
TÓM TẮT
Mục đích: Mô tả đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán của CHT đối với u nguyên bào thần kinh đệm hai
bán cầu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu 2505 hồ sơ BN u não (trong đó có 48 BN có kết quả GPB
là u nguyên bào thần kinh đệm) có chụp CHT, được phẫu thuật và có kết quả giải phẫu bệnh, thời gian từ tháng 01
năm 2009 đến tháng 3 năm 2011 tại Bệnh viện Việt Đức. Tất cả phim chụp CHT được đọc lại đối chiếu với kết quả
phẫu thuật và GPB.
Kết quả: Tuổi hay gặp 51±16, nam/nữ = 1,3/1; vị trí hay gặp là thùy trán (26,4%), ít gặp nhất ở thùy chẩm, vị trí
giữa thùy trán-thái dương chiếm 20%; kích thước u > 5cm (60,4%), giảm tín hiệu trên T1W (66%), tăng tín hiệu trên
T2W (70%), sau tiêm ngấm thuốc mạnh và không đều (43,4%), dạng viền (47,3), hoại tử trong u (95,6%), thoái hóa
nang dịch trong u (52,8%), chảy máu trong u (28,4%); phù não quanh u chủ yếu độ II và III (90%); 47,2% có xâm
lấn màng não, 39,6% xâm lấn thể trai. Đối chiếu phẫu thuật CHT chẩn đoán chính xác vị trí u 100%. Đối chiếu với
GPB, CHT có độ nhạy 81,1%, độ đặc hiệu 97,6%, độ chính xác đạt 98%.
Kết luận: CHT là phương pháp có giá trị cao trong việc chẩn đoán u nguyên bào thần kinh đệm hai bán cầu.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS. TS. Phạm Minh Thông
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_dac_diem_hinh_anh_va_gia_tri_chan_doan_cua_cong_h.pdf